Nâng cao hiệu quả quản lý của ngân hàng nhà nước đối với hoạt động của các ngân hàng thương mại ở việt nam ( Luận văn thạc sĩ) - Pdf 49

HỌC VIỆN TÀI CHÍNH

Nguyễn Văn Thầy

Nâng cao hiệu quả quản lý của Ngân hàng
Nhà nước đối với hoạt động của các Ngân hàng
thương mại ở Việt NamChuyên ngành: Tổ chức
và quản lý Vận tải

Mã số: 62.34.02.01

Chuyên ngành: Tài chính - Ngân hàng.
Họ và tên NCS : Nguyễn Văn Thầy

Họ và tên cán bộ hướng dẫn khoa học : 1. PGS, TS. Đinh Xuân Hạng
2. PGS, TS. Tô Ngọc Hưng

2014


1

LỜI NÓI ĐẦU
1- Tính cấp thiết của đề tài
Trong hơn 25 năm qua, hoạt động của các Ngân hàng Thương mại
Việt Nam (NHTMVN) đã có những đóng góp đáng kể vào quá trình đổi
mới và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Hoạt động của các NHTM không chỉ
tiếp tục khẳng định là một kênh dẫn vốn quan trọng cho nền kinh tế, mà
còn góp phần ổn định sức mua đồng tiền, cung cấp ngày càng đa dạng
phong phú các dịch vụ hiện đại tiện ích cho cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp
trong nền kinh tế.

chủ quan. Ngoài nguyên nhân từ phía bản thân các NHTM (hoạt động
quản trị, điều hành còn hạn chế; hệ thống kiểm soát, kiểm toán nội bộ
chưa đáp ứng được yêu cầu đòi hỏi; ý thức tuân thủ của không ít NHTM
chưa cao….) còn có nguyên nhân từ hoạt động quản lý đối với hoạt động
của các Ngân hàng thương mại ở Việt Nam. Mặt dù hoạt động quản lý,
giám sát của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) và các cơ quan có thẩm quyền
đối với hoạt động của các NHTM thời gian qua đạt được nhiều thành tích
đáng kể, nhưng cũng còn một số bất cập.
Để góp phần thúc đẩy các NHTM hoạt động an toàn, lành mạnh,
làm tốt vai trò trung gian tài chính, đẩy mạnh huy động nguồn vốn để
cung ứng vốn cho nền kinh tế, cần thiết nâng cao hơn nữa hiệu quả hoạt
động quản lý nhà nước nói chung, trong đó có vai trò quản lý, giám sát của
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNNVN) đối với hoạt động của các
NHTM.
Xuất phát từ các lý do nói trên, tác giả đã mạnh dạn chọn đề tài
nghiên cứu : “Nâng cao hiệu quả quản lý của Ngân hàng Nhà nước đối
với hoạt động của các Ngân hàng Thương mại ở Việt Nam”.


-3-

2- Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài
* Tình hình nghiên cứu ở ngoài nước
- Trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu về việc quản lý, giám sát hiệu
quả của Ngân hàng Trung ương (NHTW) đối với hoạt động của các
NHTM, tuy nhiên đều dưới các dạng tài liệu mang tính lý thuyết, chưa gắn
với điều kiện thực tế ở Việt Nam.
- Đối với nghiên cứu về mô hình quản lý, giám sát của Ngân hàng
Trung ương đối với hoạt động của các NHTM :
+ Để ủng hộ cho mô hình Ngân hàng Trung ương giám sát ngân

ngân hàng và vụ phá sản ngân hàng xảy ra thì CSTT của NHTW cũng sẽ bị
ảnh hưởng theo (Haubrich, 1996; Brianlt, 1999). Thứ ba là tiếp cận thông
tin. Theo Haubrich (1996), trường hợp NHTW không đảm nhận vai trò
giám sát ngân hàng mà chuyển chức năng này sang cho một cơ quan khác
thì NHTW vẫn có thể có được thông tin kịp thời và chính xác thông qua
các thoả thuận chia sẻ thông tin. Ngoài ra, việc tách bạch vai trò giám sát
và điều hành CSTT có thể mang đến lợi ích từ sự “cạnh tranh ý tưởng”.
Thứ tư là sự độc lập. Nếu NHTW kiêm luôn vai trò giám sát ngân hàng thì
việc tập trung nhiều quyền lực thường dễ đe doạ tính độc lập của nó bởi sự
can thiệp chính trị.
Một số nghiên cứu thực nghiệm ủng hộ cho việc nên tách bạch
NHTW ra khỏi chức năng giám sát ngân hàng. Ðiển hình như các nhà
nghiên cứu Goodhart và Schoenmaker (1995), hai tác giả tìm thấy rằng
việc chống lạm phát sẽ tốt hơn nhiều nếu NHTW được độc lập với vai trò
giám sát ngân hàng. Ngoài ra, Miller và Schmidt (2002) sử dụng dữ liệu
của hệ thống ngân hàng Mỹ để kiểm tra giả thuyết rằng NHTW với việc
truy cập cơ sở dữ liệu mật về giám sát có thể nâng cao khả năng dự báo và
do đó tăng cường nổ lực CSTT. Nghiên cứu chỉ ra rằng không có bằng
chứng thực nghiệm nào ủng hộ cho cái gọi là “truy cập thông tin”.


-5-

Trái ngược với một số lập luận trên, một số nghiên cứu thực nghiệm
khác lại ủng hộ cho sự kết hợp giữa NHTW và giám sát ngân hàng. Peek,
Rosengren và Tootle (1999) tìm thấy rằng tiếp cận thông tin kịp thời giúp
tăng cường tính chính xác khả năng dự báo tình hình kinh tế vĩ mô của
NHTW. Ngoài ra, Goodhart và Schoenmaker (1995) sử dụng dữ liệu của
104 ngân hàng phá sản trong 24 nước trong suốt thập kỷ 1980 và tìm thấy
rằng chỉ số ít ngân hàng bị phá sản trong những nước mà CSTT và giám

còn lại chưa được nghiên cứu áp dụng.
* Tình hình nghiên cứu ở trong nước
Ở trong nước, giai đoạn trước đây nước ta chưa hội nhập kinh tế
quốc tế và khu vực, cũng đã có các công trình nghiên cứu liên quan đến
quản lý nhà nước trên các lĩnh vực : tiền tệ, tín dụng, Quỹ tín dụng Nhân
dân, thị trường chứng khoán, thương mại, bảo hiểm, các Tổng công ty ….;
nhưng chưa có công trình nghiên cứu về quản lý của Ngân hàng Nhà nước
đối với các hoạt động của các NHTM ở Việt Nam kể từ sau giai đoạn nước
ta hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực (từ đầu năm 2007).
- Đề tài nghiên cứu khoa học của Trần Đình Ty và Nguyễn Văn
Cường “Quản lý nhà nước đối với tiền tệ, tín dụng - Một số vấn đề lý luận
và thực tiễn”, đã cung cấp những vấn đề lý luận cơ bản, chỉ ra mặt được và
hạn chế về tiền tệ, tín dụng ở Việt Nam, qua đó đề xuất một số giải pháp
nhằm góp phần hoàn thiện quản lý nhà nước đối với tiền tệ, tín dụng ở Việt
Nam. Nhưng khoảng trống trong nghiên cứu là chưa nghiên cứu về hiệu
quả quản lý của Ngân hàng Nhà nước đối với hoạt động của các NHTM ở
Việt Nam.
- Trong Luận án tiến sĩ Kinh tế năm 2011, về “Quản lý Nhà nước
đối với hoạt động tín dụng của các ngân hàng thương mại ở Việt Nam”,
TS Lê Ngọc Lân đã hệ thống hoá những vấn đề cơ bản về tín dụng ngân
hàng và vai trò quản lý nhà nước đối với tín dụng ngân hàng trong nền
kinh tế thị trường; luận giải về sự cần thiết của quản lý nhà nước đối với


-7-

hoạt động tín dụng của NHTM, nội dung và công cụ quản lý nhà nước đối
với hoạt động tín dụng của NHTM; đánh giá thực trạng hoạt động tín dụng
và quản lý hoạt động tín dụng tại Việt Nam giai đoạn từ 2005 – 2010; kinh
nghiệm quản lý hoạt động tín dụng của một số nước; tác giả cũng xác định

- Theo Kỷ yếu Hội thảo khoa học (12/2008) do Ngân hàng thương
mại cổ phần Liên Việt phối hợp với trường Đại học Ngân hàng TP.HCM
tổ chức với chủ đề “Tác động CSTT đối với hoạt động kinh doanh của
Ngân hàng thương mại Việt Nam”, cũng chỉ mới nghiên cứu một nội dung
đó là : CSTT có vai trò quan trọng trong việc điều tiết, tác động đến hoạt
động của các NHTM; đặc biệt khi có lạm phát cao do tác động từ bên
ngoài (khủng hoảng tài chính - tiền tệ) và các yếu tố nội tại của nền kinh
tế, NHTW phải thực hiện CSTT thắt chặt để kiềm chế lạm phát.
Việc thắt chặt tiền tệ để kiềm chế lạm phát vào năm 2008 đã có
những tác động tích cực góp phần thực hiện hiệu quả mục tiêu chống lạm
phát, ổn định kinh tế vĩ mô, đảm bảo an sinh xã hội. Tuy nhiên, những diễn
biến kinh tế vĩ mô trong và ngoài nước, sự tác động của khủng hoảng tài
chính toàn cầu, cũng như điều hành CSTT của NHNN đã tác động đến
hoạt động kinh doanh của các NHTM Việt Nam, như : thiếu thanh khoản,
lãi suất thị trường liên ngân hàng tăng cao, lãi suất huy động vốn tăng cao
nhưng lãi suất cho vay nằm trong giới hạn của lãi suất cơ bản và Luật Dân
sự. Khoảng trống trong nghiên cứu là hoạt động của các NHTM không chỉ
chịu sự tác động của chính sách tiền tệ, mà còn chịu ảnh hưởng của các
nhân tố khác trong đó có sự quản lý của Ngân hàng Nhà nước.
- Trong luận án “Hoàn thiện pháp luật điều chỉnh hoạt động của
Ngân hàng thương mại trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở
Việt Nam” (2003), tác giả Ngô Quốc Kỳ nghiên cứu những vấn đề lý luận
và thực tiễn của việc hoàn thiện pháp luật điều chỉnh hoạt động của
NHTM, trên cơ sở đánh giá một cách khách quan thực trạng pháp luật điều
chỉnh hoạt động của NHTM ở Việt Nam; đề xuất phương hướng và những
giải pháp hoàn thiện pháp luật điều chỉnh hoạt động của NHTM trong nền


-9-


- Đề tài “Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý, giám sát của nhà
nước đối với thị trường bảo hiểm ở Việt Nam” của nhóm tác giả Học viện
Tài chính, do Hoàng Trần Hậu làm chủ nhiệm đề tài, nghiên cứu lý luận về
thị trường bảo hiểm và quản lý, giám sát của Nhà nước đối với thị trường
bảo hiểm; phân tích thực trạng hoạt động của thị trường và thực tế hoạt
động quản lý, giám sát thị trường bảo hiểm Việt Nam trong thời gian qua;
chỉ ra các nguy cơ, rủi ro tiềm ẩn đe dọa sự phát triển an toàn của thị
trường và trước những xu hướng phát triển thị trường, từ đó đề tài đề ra
các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý, giám sát trong thời gian tới.
Đề tài nói trên chỉ nghiên cứu về hiệu quả quản lý, giám sát của Nhà nước
đối với thị trường bảo hiểm, nhưng không nghiên cứu đối với hiệu quả
quản lý của NHNN đối với hoạt động của Ngân hàng thương mại ở Việt
Nam.
Nói chung, qua thông tin tác giả có được, chưa có công trình nghiên
cứu tổng thể về hiệu quả quản lý của Ngân hàng Nhà nước đối với hoạt
động của các Ngân hàng thương mại ở Việt Nam. Các luận án, đề tài công
trình khoa học, bài viết chỉ nghiên cứu một khía cạnh hoặc một nội dung
trong quản lý đối với hoạt động của Ngân hàng thương mại tại Việt Nam.
Do đó, đề tài nghiên cứu : “Nâng cao hiệu quả quản lý của Ngân hàng
Nhà nước đối với hoạt động của các Ngân hàng Thương mại ở Việt
Nam” là công trình khoa học đầu tiên nghiên cứu một cách tổng quát về
nâng cao hiệu quả quản lý của NHNNVN đối với hoạt động của các
NHTM ở Việt Nam.
3- Mục đích nghiên cứu của đề tài
- Hệ thống hoá và làm sáng tỏ cơ sở lý luận về Ngân hàng Trung
ương và hoạt động của các Ngân hàng thương mại; hiệu quả quản lý của
Ngân hàng Trung ương đối với hoạt động của các NHTM.


-11-

-12-

còn vận dụng các quan điểm lý luận của Đảng và Nhà nước Việt Nam về
định hướng quản lý của NHNN đối với hoạt động của các NHTM ở Việt
Nam.
6- Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
- Làm sáng tỏ các luận cứ khoa học về hiệu quả quản lý của NHTW
đối với hoạt động của các NHTM.
- Làm rõ việc nâng cao hiệu quả quản lý của NHNN đối với hoạt
động của các NHTM ở Việt Nam.
- Góp phần nâng cao hiệu quả quản lý của NHNN đối với hoạt động
của các NHTM ở Việt Nam trong thời gian tới.
7- Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, các phụ lục và danh mục tài liệu
tham khảo, đề tài được trình bày gồm 3 chương.
Chương I

Lý luận cơ bản về hiệu quả quản lý của Ngân hàng

Trung ương đối với hoạt động của các Ngân hàng thương mại.
Chương II Thực trạng hiệu quả quản lý của Ngân hàng Nhà nước
đối với hoạt động của các NHTM ở Việt Nam .
Chương III Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý của Ngân hàng
Nhà nước đối với hoạt động của các NHTM ở Việt Nam.


-13-

CHƯƠNG 1


-14-

Cụ thể, (i) nếu NHTW theo đuổi mục tiêu tăng trưởng kinh tế cao và
tạo nhiều công ăn việc làm, thất nghiệp thấp thì chỉ số lạm phát sẽ có xu
hướng tăng lên, ít nhất là trong trung và dài hạn; và khi lạm phát tăng lên,
sẽ tác động đến nền kinh tế, ảnh hưởng đến tính ổn định, an toàn của hệ
thống tài chính ngân hàng. (ii) Bối cảnh kinh tế thế giới và trong nước biến
đổi. Do đó, khi có nhiều mục tiêu đòi hỏi NHTW phải thận trọng và linh
hoạt trong việc lựa chọn mục tiêu và xác định thứ tự ưu tiên mục tiêu.
NHTW với nhiều mục tiêu là mô hình NHTW truyền thống. Xu
hướng ngày nay, NHTW hiện đại chỉ theo đuổi mục tiêu duy nhất và cũng
là mục tiêu cuối cùng. NHTW hiện đại với mục tiêu duy nhất (mục tiêu
cuối cùng) có ưu điểm hơn so với mô hình NHTW với nhiều mục tiêu, đó
là : (i) NHTW sẽ lựa chọn công cụ CSTT phù hợp tác động để đạt được
mục tiêu này; (ii) sẽ đánh giá cụ thể được hiệu quả hoạt động của NHTW
thông qua điều hành CSTT nhằm đạt được mục tiêu duy nhất; (iii) tạo điều
kiện cho NHTW tập trung vào mục tiêu duy nhất này. [34]
Tuy nhiên, vấn đề đặt ra là để đạt được mục tiêu cuối cùng, NHTW
không thể tác động một cách trực tiếp mà là tác động gián tiếp thông qua
các công cụ CSTT. Mục tiêu cuối cùng thường là mục tiêu trung hạn và có
một độ trễ nhất định (từ 6 tháng đến 12 tháng). Hiện nay mục tiêu cuối
cùng của CSTT được NHTW các nước lựa chọn đó là ổn định giá cả, lạm
phát thấp và ổn định, từ đó sẽ góp phần tăng trưởng kinh tế tạo công việc
làm; và một tác động tích cực quan trọng đó là với mục tiêu cuối cùng đạt
được giá cả ổn định, lạm phát thấp sẽ góp phần nâng cao hiệu quả quản lý
của Ngân hàng Trung ương đối với hoạt động của hệ thống NHTM.
Trong quá trình truyền dẫn CSTT để đạt được mục tiêu cuối cùng
này, NHTW phải sử dụng các mục tiêu trung gian. Mục tiêu trung gian là
các biến số tiền tệ có quan hệ với các biến số kinh tế vĩ mô (Tăng trưởng



1.1.1.2- Chức năng của Ngân hàng Trung ương
- Phát hành tiền và điều tiết lượng tiền cung ứng. NHTW giữ độc quyền
phát hành tiền giấy và tiền kim loại. Để đảm bảo giá trị tiền tệ ổn định việc
phát hành tiền phải tuân thủ theo các nguyên tắc nhất định. NHTW còn
tham gia và kiểm soát việc tạo tiền trong hệ thống các NHTM, thông qua
quá trình cho vay, thanh toán bằng chuyển khoản. NHTW không chỉ thực


-16-

hiện chức năng phát hành tiền mà còn thực hiện việc điều tiết lượng tiền
cung ứng, thực hiện CSTT quốc gia.
- Ngân hàng Trung ương là Ngân hàng của các ngân hàng. Chức năng này
thể hiện ở chỗ : NHTW mở tài khoản, bảo quản dự trữ tiền tệ và là trung
tâm thanh toán cho các ngân hàng; là người cho vay cuối cùng đối với
NHTM; được thực hiện các biện pháp khẩn cấp cần thiết để đối phó khi
xảy ra khủng hoảng tài chính tiền tệ.
- Ngân hàng Trung ương là Ngân hàng của Nhà nước. Thực hiện chức
năng này NHTW quản lý, giám sát hệ thống ngân hàng, TCTD đảm bảo an
toàn, lành mạnh (Được phân tích chi tiết trong chương này).
1.1.1.3- Vị thế của Ngân hàng Trung ương
Trong điều kiện các nước hội nhập kinh tế thế giới và khu vực nói
chung và thị trường tài chính - tiền tệ nói riêng ngày càng sâu rộng, để
NHTW có thể thực hiện tốt chức năng của mình, đòi hỏi phải nâng cao vị
thế của NHTW. Vị thế của NHTW được nâng lên, khi được quy định rõ
trong Luật NHTW : địa vị pháp lý, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của
NHTW; trách nhiệm quyền hạn của NHTW (trong mối quan hệ với Chính
phủ và Quốc hội) đối với việc hoạch định, điều hành CSTT quốc gia và đối
với việc ổn định hệ thống tài chính.

theo yêu của Ủy ban đặc trách của Quốc hội và Chính phủ. Đối với các
nước Thống đốc NHTW không phải là thành viên của Chính phủ, do đó
không phải báo cáo giải trình trước Quốc hội. Chỉ có Quốc hội mới được
quyền bỏ phiếu bất tín nhiệm để thay thế Thống đốc NHTW trong trường
hợp Thống đốc NHTW không hoàn thành nhiệm vụ. Còn Thủ tướng Chính
phủ (đứng đầu Chính phủ) không có quyền phế truất trực tiếp, nhưng có
quyền đề nghị Quốc hội bỏ phiếu bất tín nhiệm đối với Thống đốc
NHTW.[1]


-18-

- Độc lập về chính sách.
Nhiều nước mục tiêu cuối cùng của CSTT thường được quy định
trong Luật và do Quốc hội quyết định. Đối với mục tiêu trung gian (tổng
tiền cung ứng, lãi suất thị trường) và việc sử dụng các công cụ CSTT, giao
cho NHTW quyết định để nâng cao tính độc lập về chính sách của NHTW.
Để đạt được mục tiêu trung gian, bước kế tiếp NHTW xác định mục tiêu
hoạt động (có thể lấy lãi suất thị trường liên ngân hàng làm định hướng…).
Mục tiêu hoạt động thường do Hội đồng CSTT Quốc gia (bao gồm các
thành phần nói trên) quyết định thông qua các cuộc họp định kỳ và là căn
cứ cho NHTW được chủ động linh hoạt trong điều hành các công cụ
CSTT. Từ đó tác động đến lãi suất thị trường, không chỉ góp phần đạt
được mục tiêu cuối cùng, mà còn góp phần đảm bảo an toàn hoạt động của
hệ thống các NHTM.
- Độc lập về tài chính.
Sự chi tiêu, vay nợ quá mức của Chính phủ từ NHTW, sẽ khó khăn
cho NHTW trong việc đạt được mục tiêu ổn định giá cả. Do đó, NHTW
cần được độc lập về mặt tài chính. Độc lập về mặt tài chính sẽ cho phép
NHTW được chủ động trong việc quyết định phạm vi và mức độ tài trợ

- Tại Ấn Độ, NHTM được coi là cơ sở nhận các khoản ký thác để
cho vay hay tài trợ và đầu tư.
- Theo Ngân hàng thế giới (Wordbank) : “Ngân hàng là tổ chức tài
chính nhận tiền gửi chủ yếu dưới dạng tiền gửi không kỳ hạn hoặc tiền gửi
được rút ra với một thông báo ngắn hạn (tiền gửi không kỳ hạn, có kỳ hạn
và các khoản tiết kiệm)”; các ngân hàng bao gồm : các NHTM chỉ tham gia
vào các hoạt động nhận tiền gửi, cho vay ngắn - trung - dài hạn; các Ngân
hàng đầu tư tham gia hoạt động kinh doanh chứng khoán và bảo lãnh phát
hành; các Ngân hàng địa ốc cung cấp tài chính cho lĩnh vực phát triển nhà


-20-

ở và các loại khác. Ngoài ra, tại một số nước còn có ngân hàng đa năng,
kết hợp hoạt động NHTM với hoạt động ngân hàng đầu tư và cả dịch vụ
bảo hiểm.
- Theo quy định Luật các TCTD số 47/2010/QH12 được Quốc hội
nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XII, kỳ họp thứ 7 thông
qua ngày 16 tháng 6 năm 2010 : Ngân hàng là loại hình TCTD có thể được
thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng bao gồm : nhận tiền gửi; cấp tín
dụng; cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản. Theo tính chất và mục
tiêu hoạt động, các loại hình ngân hàng bao gồm NHTM, ngân hàng chính
sách, ngân hàng hợp tác xã.
NHTM là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động
ngân hàng (nhận tiền gửi; cấp tín dụng; cung ứng dịch vụ thanh toán qua
tài khoản) và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật nhằm
mục tiêu lợi nhuận.
Từ một số định nghĩa trên đây của một số nước về ngân hàng có
thể rút ra :
- NHTM là tổ chức hoạt động trong lĩnh vực tiền tệ với chức năng

NHTM. Nhằm tìm kiếm lợi nhuận, các NHTM không ngừng đa dạng hoá
dịch vụ cung cấp cho khách hàng. Quá trình mở rộng, đa dạng hoá dịch vụ
tài chính - ngân hàng tăng lên trong các năm gần đây trước sự cạnh tranh
khốc liệt từ các tổ chức tài chính khác, từ sự phát triển công nghệ, từ sự đòi
hỏi ngày càng cao của khách hàng. Các NHTM đối phó với các đối thủ
cạnh tranh (tổ chức tài chính phi ngân hàng) bằng cách mở rộng phạm vi
cung cấp dịch vụ sang lĩnh vực bảo hiểm, môi giới chứng khoán và các
dịch vụ khác. Với các dịch vụ tài chính mới đã tạo ra nguồn thu mới,
nhưng đồng thời cũng làm tăng chi phí cho các NHTM và dẫn đến rủi ro
phá sản NHTM cũng tăng lên. Do đó, đòi hỏi sự cần thiết phải tăng cường


-22-

và nâng cao hiệu quả quản lý của NHTW đối với hoạt động của các
NHTM.
- NHTM là loại hình hoạt động kinh doanh có điều kiện. Muốn được
cấp giấy phép hoạt động kinh doanh, NHTM phải thoả mãn các điều kiện
bắt buộc do pháp luật quy định (phải có vốn điều lệ, vốn được cấp tối thiểu
bằng mức vốn pháp định; người quản lý, người điều hành, thành viên ban
kiểm soát có đủ các tiêu chuẩn, điều kiện theo quy định; có Điều lệ phù
hợp với quy định....).
- NHTM là loại hình kinh doanh hàng hoá đặc biệt. Khác với các
doanh nghiệp sản xuất kinh doanh hàng hoá thông thường, đối với NHTM
kinh doanh hàng hoá đặc biệt - đó là hàng hoá tiền tệ. Do đó, mức độ rủi ro
đối với NHTM sẽ lớn hơn rất nhiều so với các loại hình kinh doanh khác
và có thể ảnh hưởng dây chuyền đến hệ thống tài chính ngân hàng. Thông
qua vai trò trung gian tài chính của mình, các NHTM huy động vốn từ nền
kinh tế và cấp tín dụng cho khách hàng dưới nhiều hình thức. Trong các
hình thức cấp tín dụng, thì cho vay là hình thức cấp tín dụng có khả năng

quả kinh doanh chung của NHTM, phải được phản ánh, theo dõi ở các tài
khoản ngoại bảng. Do đó, khi phân tích, đánh giá kết quả hoạt động của
NHTM, không chỉ căn cứ vào các hoạt động trong bảng tổng kết tài sản,
mà còn căn cứ các hoạt động được theo dõi ngoài bảng tổng kết tài sản.
Các nghiệp vụ ngân hàng được phản ánh, theo dõi ở các tài khoản
ngoại bảng bao gồm : các cam kết về bảo lãnh (vay vốn, thanh toán, thực
hiện hợp đồng, dự thầu..); các cam kết về giao dịch về hối đoái (giao dịch
mua bán ngoại tệ trao ngay spot, giao dịch mua bán ngoại tệ có kỳ hạn
Forward, giao dịch hoán đổi tiền tệ Swaps, giao dịch quyền chọn mua bán tiền tệ Options, giao dịch tương lai tiền tệ Futrues, các chứng từ có giá
trị ngoại tệ); nghiệp vụ uỷ thác, đại lý; dịch vụ giữ hộ tài sản, kim loại quý
đá quý; tài sản thế chấp cầm cố…
(1)- Nghiệp vụ nguồn vốn


-24-

Nghiệp vụ nguồn vốn (hay còn gọi là nghiệp vụ Nợ), đây là nghiệp
vụ ban đầu nhằm tạo lập nguồn vốn hoạt động cho NHTM. Nghiệp vụ
nguồn vốn lúc nào cũng được các nhà lãnh đạo, quản lý điều hành NHTM
đặc biệt quan tâm chú ý đến, vì ngân hàng nào tạo lập được nhiều nguồn
vốn thì có điều kiện tăng quy mô, mở rộng hoạt động tín dụng và đầu tư.
Nguồn vốn của NHTM bao gồm : vốn chủ sở hữu; vốn huy động; vốn đi
vay và một số nguồn vốn khác. [8]
- Vốn chủ sở hữu
Vốn chủ sở hữu là nguồn vốn ban đầu và luôn được bổ sung trong
quá trình hoạt động và phát triển của NHTM. Vốn chủ sở hữu thường
chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng nguồn vốn (xấp xỉ từ 5% đến 10%), nhưng
có ý nghĩa quan trọng đối với NHTM. Vốn chủ sở hữu của NHTM bao
gồm : vốn điều lệ và các quỹ của ngân hàng (quỹ dự trữ bổ sung vốn điều
lệ; quỹ đầu tư phát triển kỹ thuật, nghiệp vụ; quỹ dự phòng; quỹ khen


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status