Quy định buộc thực hiện hợp đồng trong hợp đồng mua bán hàng hóa – so sánh quy định của pháp luật việt nam và công ước viên 1980 - Pdf 49

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM

LÊ THỊ HOÀNG OANH

QUY ĐỊNH BUỘC THỰC HIỆN HỢP ĐỒNG
TRONG HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA
– SO SÁNH QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM VÀ
CÔNG ƯỚC VIÊN 1980

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

TP Hồ Chí Minh – Năm 2017


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM

LÊ THỊ HOÀNG OANH

QUY ĐỊNH BUỘC THỰC HIỆN HỢP ĐỒNG
TRONG HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA
– SO SÁNH QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM VÀ
CÔNG ƯỚC VIÊN 1980

Chuyên ngành: LUẬT KINH TẾ
Mã số: 60380107

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. PHẠM DUY NGHĨA

Lý do chọn đề tài ............................................................................................ 1

2.

Tổng quan về tình hình nghiên cứu .............................................................. 2

3.

Vấn đề nghiên cứu .......................................................................................... 3

4.

Phạm vi nghiên cứu ........................................................................................ 4

5.

Mục tiêu nghiên cứu ....................................................................................... 4

6.

Phương pháp nghiên cứu ............................................................................... 4

7.

Kết cấu của Luận văn .................................................................................... 5

CHƯƠNG 1: QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ BUỘC THỰC
HIỆN ĐÚNG HỢP ĐỒNG - SO SÁNH VỚI QUY ĐỊNH CỦA CÔNG ƯỚC
VIÊN 1980. ......................................................................................................................... 6
1.1.

Lịch sử hình thành về quy định buộc thực hiện đúng hợp đồng .................... 14

1.2.2

Mục đích và ý nghĩa của chế tài “Buộc thực hiện đúng hợp đồng”............... 16

1.2.2.1 Mục đích của chế tài “Buộc thực hiện đúng hợp đồng” .............................. 16
1.2.2.2 Ý nghĩa của chế tài “Buộc thực hiện đúng hợp đồng” ............................... 18
1.3 So sánh quy định buộc thực hiện đúng hợp đồng theo pháp luật Việt
Nam và CISG ................................................................................................................. 19
1.3.1

Sửa chữa hay thay thế hàng hóa ..................................................................... 21

1.3.2

Giao hàng đúng đối tượng và đúng chất lượng. ............................................. 22

1.3.3

Giao hàng đúng số lượng. .............................................................................. 24

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 .............................................................................................. 26
CHƯƠNG 2: NHẬN XÉT, PHÂN TÍCH QUY ĐỊNH ÁP DỤNG BUỘC THỰC
HIỆN ĐÚNG HỢP ĐỒNG TRÊN THỰC TẾ ............................................................ 27
2.1.

Nguyên tắc thực hiện nghĩa vụ hợp đồng ......................................................... 27

2.2.


Trường hợp hợp đồng không thể thực hiện được........................................... 40

2.3.4.

Có thể buộc thực hiện khi bên vi phạm nhất định không thực hiện? ............. 41

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 .............................................................................................. 44


CHƯƠNG 3: KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN QUY ĐỊNH VỀ BUỘC THỰC
HIỆN ĐÚNG HỢP ĐỒNG VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ THI HÀNH LUẬT............ 45
3.1.

Buộc thực hiện đúng hợp đồng nên là nguyên tắc hơn là chế tài ................... 45

3.2. Cần quy định rõ các trường hợp loại trừ việc áp dụng chế tài buộc thực
hiện đúng hợp đồng ....................................................................................................... 46
3.2.1.

Nghĩa vụ không thể thực hiện được ............................................................... 47

3.2.2.

Chi phí bất hợp lý ........................................................................................... 48

3.2.3.

Các nghĩa vụ có thể thay thế được ................................................................. 49



Diễn giải
Bộ luật Dân sự số 33/2005/QH11 ngày 14
tháng 6 năm 2005

BLDS – Bộ luật Dân sự 2015

Bộ luật Dân sự số 91/2015/QH13 ngày 24
tháng 11 năm 2015

LTM 1997 - Luật Thương mại

Luật Thương mại số 58/L-CTN ngày 10 tháng

1997

5 năm 1997

LTM- Luật Thương mại 2005

Luật Thương mại số 36/2005/QH11 ngày 14
tháng 06 năm 2005
Nguyên tắc Hợp đồng Thương mại Quốc tế
(Principles of International Commercial

PICC - Bộ nguyên tắc UNIDROIT

PECL
UCC
CISG - Công ước Viên 1980

đến việc thực hiện hợp đồng thương mại, bởi thông qua đó, chúng ta có thể điều tiết
hành vi của các thương nhân trong quá trình thực hiện hợp đồng, tạo ra sự ổn định
tương đối cho sự phát triển của nền kinh tế. Tuy nhiên, thực tiễn xử lý các hành vi
vi phạm hợp đồng thương mại trong thời gian qua vẫn còn một số vấn đề gây tranh
cãi, gây khó khăn cho các bên tham gia hợp đồng cũng như là các cơ quan giải
quyết tranh chấp trong việc xác định hình thức xử lý đối với bên có hành vi vi phạm
hợp đồng. Những vấn đề này phần lớn xuất phát từ sự bất cập của các quy định về
chế tài trong thương mại. Pháp luật luôn quy định, đòi hỏi các bên phải “thực hiện
đúng hợp đồng”. Tuy nhiên, thực tế cho thấy nhiều hợp đồng (dầu được giao kết
hợp pháp) cũng đã không được thực hiện đúng, như: không đúng thời hạn, không
đúng địa điểm, không đúng phương thức, không đúng công việc đã cam kết, … Vấn
đề đặt ra là phải giải quyết việc không thực hiện đúng hợp đồng như thế nào? Trong
thực tiễn xét xử thời gian qua, các đương sự cũng như Tòa án gặp nhiều khó khăn
trong việc vận dụng các quy định hiện hành. Nhiều vấn đề pháp lý phát sinh nhưng
các đương sự không biết hướng giải quyết cụ thể. Nhiều bản án đã phải chỉnh sửa
hay thậm chí là bị hủy khi vận dụng các quy định liên quan đến việc không thực
hiện đúng hợp đồng. Khó khăn này có thể nói một phần do nhiều quy định hiện
hành không rõ ràng, một phần do sự chồng chéo giữa các văn bản, và một phần do
một số quy định không phù hợp với đời sống xã hội.
Trong khi luật pháp Việt Nam còn nhiều điểm hạn chế thì trong các nguồn
luật về thương mại quốc tế, Công ước Viên 1980 của Liên Hợp Quốc về Hợp đồng
mua bán hàng hóa quốc tế (CISG) tỏ ra có nhiều ưu thế vượt trội. CISG là một
trong những công ước được áp dụng rộng rãi nhất, ước tính điều chỉnh các giao dịch
chiếm đến ¾ thương mại hàng hóa thế giới.1 Nguyên nhân có thể do các quy định

Ủy ban Tư vấn về Chính sách Thương mại Quốc tế - VCCI, 2010. Nghiên cứu đề xuất Việt Nam Gia nhập
Công ước Viên về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, trang 1.
1



chế của luật Thương mại 2005 về chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng, những thay
đổi tích cực, điểm tiến bộ của LTM so với những văn bản pháp luật trước đó, làm rõ
được hạn chế khi đề cao vị thế của bên bị vi phạm dẫn đến một số bất lợi mà bên vi
phạm phải chịu. Làm rõ được những điểm mạnh của CISG như cân bằng được


3

quyền lợi của các bên trong hợp đồng ngay cả khi xảy ra vi phạm. Tuy nhiên vẫn
tồn động những hạn chế, vấn đề chưa được nghiên cứu như: luật Dân sự đã hỗ trợ
được những gì để góp phần thực tiễn quy định liên quan về vấn đề buộc thực hiện
đúng hợp đồng; nếu LTM tương tự CISG thì liệu nên thay đổi cho giống với CISG
hay có thể sử dụng CISG thay cho LTM.
Luận văn thạc sĩ Luật học của tác giả Trần Trung Hiếu năm 2014 về “Bồi
thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng theo luật Thương mại Việt Nam” đã nêu rõ
khái niệm, lịch sử hình thành và phát triển của các chế tài xử lý khi có vi phạm hợp
đồng, đặc biệt là chế tài bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng, mối liên hệ giữa
chế tài bồi thường thiệt hại và buộc thực hiện đúng hợp đồng.
Vấn đề này còn được đề cập trong sách chuyên khảo như: giáo trình “Pháp
luật về hợp đồng và bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng” năm 2013, giáo trình
“Pháp luật về thương mại hàng hóa và dịch vụ” phát hành năm 2014 của trường Đại
học Luật TP. HCM; tập bài giảng Pháp luật về hợp đồng và bồi thường thiệt hại
ngoài hợp đồng, trường Đại học Luật, TP. HCM, 2011; Luật Hợp đồng Việt Nam –
Bản án và bình luận bản án xuất bản năm 2008, tái bản qua các năm 2009, 2010,
2011, 2013 của tác giả Đỗ Văn Đại,… Các giáo trình, sách chuyên khảo này thể
hiện phạm vi rất rộng các vấn đề pháp lý về hợp đồng, cũng như nghiên cứu tổng
thể các hình thức trách nhiệm do vi phạm hợp đồng hoặc các chế tài do vi phạm hợp
đồng.
Một trong những tài liệu rất hữu ích và giúp tác giả rất nhiều trong việc
nghiên cứu không thể không kể đến là sách chuyên khảo của tác giả Đỗ Văn Đại:

các vấn đề, tranh chấp liên quan từ CISG nhằm học hỏi và điều chỉnh pháp
luật Việt Nam cho phù hợp trong thực tiễn. Bên cạnh đó, tác giả cũng khái
quát quy định của một số nước khi phân tích những vấn đề liên quan.
5. Mục tiêu nghiên cứu
 Có thể hiểu rõ bản chất, ý nghĩa của quy định buộc thực hiện hợp đồng, từ đó
áp dụng trong các trường hợp cần thiết nhằm hạn chế rủi ro trong quá trình
thực hiện hợp đồng.
 Khuyến nghị nhằm hoàn thiện quy định liên quan đến thực hiện hợp đồng
như: trường hợp áp dụng hay không áp dụng, các trường hợp được miễn thực
hiện nghĩa vu. So sánh, học tập kinh nghiệm từ việc giải quyết các vấn đề,
tranh chấp liên quan từ CISG để có kinh nghiệm và điều chỉnh Pháp luật cho
phù hợp trong thực tiễn.
6. Phương pháp nghiên cứu
 Phương pháp nghiên cứu học thuyết pháp lý để nhận ra những điểm chưa
hoàn thiện quy định pháp luật của Việt Nam.


5

 Phương pháp so sánh quy định của pháp luật Việt Nam từ luật chung, luật
riêng với Công ước Viên 1980, cũng có so sánh quy định của một vài nước
nhằm rút ra những nhận xét về những điều hay và phù hợp hơn so với quy
định của luật Việt Nam.
 Luận văn đặt vấn đề trong mối quan hệ biện chứng giữa lý luận và thực tiễn
nhằm rút ra nhận thức đúng, tổng quát và phù hợp hơn.
 Bên cạnh đó, tác giả còn sử dụng các phương pháp khác như diễn dịch, quy
nạp, lịch sử, logic, đặc biệt là phương pháp phân tích và tổng hợp. Luận văn
cũng chú trọng việc kế thừa và phát triển những kết quả của nghiên cứu
trước đây.
7. Kết cấu của Luận văn

vụ không thực hiện nghĩa vụ đúng thời hạn, thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ hoặc
thực hiện không đúng nội dung của nghĩa vụ”. Qua định nghĩa của BLDS có thể
thấy các nhà làm luật vẫn áp dụng theo hướng liệt kê các vi phạm, mặc dù vẫn liệt
kê ba trường hợp dẫn đến việc vi phạm hợp đồng gồm: thực hiện nghĩa vụ không
đúng thời hạn; thực hiện không đầy đủ hoặc thực hiện không đúng nội dung.
Tuy nhiên, theo quy định tại BLDS về các trường hợp vi phạm phải chịu trách
nhiệm dân sự khi: không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ.2 Như vậy,
theo tác giả chỉ cần quy định hai trường hợp tại Điều 351 BLDS là đã bao quát các
trường hợp vi phạm vì trong tóm lại chỉ có hai khả năng dẫn đến vi phạm là do bên
có nghĩa vụ đã không thực hiện nghĩa vụ, trường hợp thứ hai là do bên có nghĩa vụ
đã thực hiện không đúng (bao gồm: không đúng thời hạn, không đúng thỏa thuận,
thiếu về số lượng, chậm thanh toán,…).

2

Khoản 1, Điều 351 BLDS.


7

Ví dụ như trường hợp vụ tranh chấp số 87/16 HCM giữa công ty TTP và
công ty ĐTM về việc Công ty TTP ký Hợp đồng thi công xây dựng số
2562/2015/HĐTC. Theo đó bị đơn được thuê cung cấp vật tư, máy móc, thiết bị,
nhân công thi công hoàn thành 26 tim Cọc khoan nhồi cho nguyên đơn, thời hạn
hoàn thành là 55 ngày. Sau khi nguyên đơn đặt cọc 10% giá trị Hợp đồng, bị đơn đã
thực hiện một phần công việc sau đó ngừng thi công, bị đơn không thực hiện bất cứ
công việc nào theo hợp đồng nữa. Hai bên đã lập biên bản xác nhận việc chậm trễ
và nguyên đơn đã nhiều lần gửi văn bản nhắc nhở bị đơn thực hiện.
Vì quá thời hạn hợp đồng đã lâu và làm ảnh hưởng đến công việc kinh doanh
của chủ đầu tư. Đại diện chủ đầu tư đã đề nghị bị đơn quyết toán công việc đã thực

khi một bên phát hiện nguy cơ nghĩa vụ theo hợp đồng không thực hiện đúng hạn
do bên kia có tài sản bị giảm sút nghiêm trọng, bên đó có quyền hoãn thực hiện hợp
đồng. Quy định này vẫn được kế thừa tại Điều 411 BLDS cho phép bên phải thực
hiện nghĩa vụ có quyền hoãn thực hiện nghĩa vụ trong hợp đồng song vụ. BLDS đã
chia thành hai trường hợp:
-

-

Một là, bên phải thực hiện nghĩa vụ trước được hoãn được hoãn khi khả năng
thực hiện nghĩa vụ của bên kia đã bị giảm sút nghiêm trọng đến mức không
thể thực hiện được nghĩa vụ như đã cam kết. Thời hạn hoãn việc thực hiện
nghĩa vụ sẽ chấm dứt khi bên kia có khả năng thực hiện được nghĩa vụ hoặc
có biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ.
Hai là, bên phải thực hiện nghĩa vụ sau có quyền hoãn thực hiện nghĩa vụ
đến hạn nếu bên thực hiện nghĩa vụ trước chưa thực hiện nghĩa vụ của mình
khi đến hạn. Trong trường hợp này thì thời hạn hoãn của bên phải thực hiện
nghĩa vụ sau sẽ chấm dứt khi bên phải thực hiện nghĩa vụ trước thực hiện
nghĩa vụ của mình.

Tuy nhiên nhận thấy những quy định của BLDS chỉ dừng lại ở việc đưa ra
quy định nhưng vẫn chưa giải quyết được bản chất của vấn đề, và hầu như không
được áp dụng trên thực tế bởi luật không đưa ra bất kỳ điều kiện hay cơ sở nào để
một bên có thể cho rằng bên kia có thể không thực hiện đúng hạn, và căn cứ để cho
rằng việc giảm sút tài sản của bên đó sẽ khiến anh ta không thực hiện được nghĩa vụ
theo hợp đồng.
1.1.1.2 Vi phạm cơ bản hợp đồng
Việc cần xác định thế nào là vi phạm hợp đồng và vi phạm này được xem là
cơ bản hay không cơ bản, nói cách khác là vi phạm nghiêm trọng hay không nghiêm
trọng là điều cần lưu ý. Bởi vì theo quy định tại Điều 293 LTM thì “bên bị vi phạm

tế mà cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên và tập quán thương mại
quốc tế.
Cụ thể là đối với quy định của nước ta hiện nay thì: ngay tại Điều 292 LTM,
quy định 6 loại chế tài thương mại chính sau: Buộc thực hiện đúng hợp đồng; Phạt
vi phạm, Buộc bồi thường thiệt hại; Tạm ngừng thực hiện hợp đồng; Đình chỉ thực
hiện hợp đồng và Hủy bỏ hợp đồng (hoặc các biện pháp khác do các bên thỏa
thuận). BLDS cũng quy định các cách thức xử lý trong trường hợp vi phạm và sử
Điều 308, 310 và 312 Luật Thương mại 2005
ThS. Võ Sỹ Mạnh, 2011. Bàn về khái niệm vi phạm cơ bản hợp đồng theo Công ước Viên 1980,
(truy cập ngày 16/05/2016)
4

5


10

dụng từ “trách nhiệm” để các bên đưa ra giải pháp trong trường hợp này như: yêu
cầu bên có nghĩa vụ tiếp tục thực hiện nếu thực hiện không đúng (Điều 353), đề
nghị được hoãn thực hiện nghĩa vụ nếu không thể thực hiện đúng thời hạn (Điều
354), phải trả lãi nếu chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền (Điều 357), nếu bên có nghĩa
vụ không thực hiện công việc thì bên có quyền có thể yêu cầu phải tiếp tục thực
hiện hoặc thuê người khác thực hiện và bên có nghĩa vụ có trách nhiệm thanh toán
(Điều 358), bồi thường thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ (Điều 360),…
Như vậy, cả pháp luật Việt Nam và CISG đều quy định về chế tài buộc thực
hiện đúng hợp đồng, bồi thường thiệt hại và hủy hợp đồng. Tuy nhiên, Công ước
Viên không quy định gì về phạt vi phạm hợp đồng do có nhiều quan điểm rất khác
nhau giữa các nước Civil Law và Common Law về chế tài này khiến cho việc hài
hòa hóa là không thể thực hiện được.6
1.1.3. Về mối quan hệ giữa các loại chế tài trong thương mại

hiện chứ không bị hủy bỏ.
1.1.3.2.

Mối quan hệ với hủy bỏ hợp đồng

Khi bên bị vi phạm hợp đồng quyết định hoặc tiếp tục thực hiện hợp đồng
hoặc hủy bỏ hợp đồng thì thiệt hại sẽ như thế nào? Liệu tòa án sẽ lựa chọn phương
thức nào để ra quyết định xử lý vụ việc? Vế thứ nhất là một yêu cầu tiếp tục thực
hiện đúng hợp đồng như đã cam kết còn vế thứ hai là hủy bỏ hợp đồng (hoàn trả
những gì các bên đã nhận và bồi thường). Hủy bỏ hợp đồng làm triệt tiêu hợp đồng
và khi hợp đồng bị triệt tiêu thì các bên không nhận được những gì họ mong đợi từ
hợp đồng. Do đó, việc áp dụng chế tài hủy bỏ hợp đồng cần được hạn chế còn việc
tiếp tục thực hiện hợp đồng cần được ưu tiên áp dụng, việc này thật sự cần thiết
nhằm duy trì mục đích, mong muốn ngay từ đầu của các bên. Đồng thời việc tiếp
tục thực hiện đúng hợp đồng làm hạn chế những thiệt hại không đáng có.
1.1.3.3.

Mối quan hệ với các chế tài khác

Theo Luật thương mại thì nếu không có thỏa thuận trước, trong thời gian áp
dụng chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng, Khoản 1, Điều 225 LTM quy định:
“bên có quyền lợi bị vi phạm không được áp dụng các chế tài phạt vi phạm, bồi
thường thiệt hại hoặc hủy hợp đồng”. Như vậy, khi vi phạm đó đã được áp dụng chế
tài buộc thực hiện đúng hợp đồng thì các bên không thể viện một lý do nào khác để
tiếp tục bắt bên kia phải bồi thường thiệt hại hay nộp phạt cho chính vi phạm đã
được giải quyết xong.
Còn trong trường hợp bên vi phạm không thực hiện chế tài buộc thực hiện
đúng hợp đồng trong thời hạn ấn định, khoản 2, Điều 299 của LTM quy định như
một biện pháp bổ sung rằng: “Trường hợp bên vi phạm không thực hiện chế tài
buộc thực hiện đúng hợp đồng trong thời hạn mà bên bị vi phạm ấn định, bên bị vi

trọng, làm cho các bên không đạt được mục đích giao kết hợp đồng ban đầu. Vì vậy
chế tài hay biện pháp xử lý các vi phạm này sẽ nặng nề hơn để tương xứng với hành
vi vi phạm. Tác giả sẽ mô tả sơ lược về các chế tài và cách áp dụng thông qua các
quy định của pháp luật như sau:


13

Bảng 1.1. Mô tả sơ lược các chế tài xử lý vi phạm hợp đồng
VI PHẠM
HỢP ĐỒNG
LUẬT
THƯƠNG MẠI

BỘ LUẬT
DÂN SỰ
KHÔNG CƠ
BẢN

CƠ BẢN

Tạm ngưng

Hủy bỏ

Chấm dứt

Buộc thực hiện

Bồi thường


Hành vi vi phạm của một bên do thực hiện quyết định của cơ quan
quản lý nhà nước có thẩm quyền mà các bên không thể biết được vào
thời điểm giao kết hợp đồng.

Đồng thời bên vi phạm hợp đồng phải thông báo ngay bằng văn bản cho bên
kia về trường hợp được miễn trách nhiệm và những hậu quả có thể xảy ra. Khi
trường hợp miễn trách nhiệm chấm dứt, bên vi phạm hợp đồng phải thông báo ngay


14

cho bên kia biết; nếu bên vi phạm không thông báo hoặc thông báo không kịp thời
cho bên kia thì phải bồi thường thiệt hại. Bên vi phạm có nghĩa vụ chứng minh với
bên bị vi phạm về trường hợp miễn trách nhiệm của mình (Điều 295 LTM).
BLDS 2015 cũng quy định nếu bên có nghĩa vụ vi phạm hợp đồng do trường
hợp như bất khả kháng (trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác) hay do lỗi của
bên có quyền thì bên vi phạm sẽ được miễn trách nhiệm.8
Về các trường hợp miễn trách, CISG và pháp luật Việt Nam có cách tiếp cận
tương tự khi quy định trường hợp bất khả kháng và trường hợp lỗi của bên bị vi
phạm. Ngoài ra, CISG còn quy định cụ thể về việc miễn trách khi do lỗi của bên thứ
ba (Điều 79) trong khi pháp luật Việt Nam chưa có quy định cụ thể về vấn đề này.
1.2.

Quy định về chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng
Mục đích lớn nhất mà các bên thống nhất và giao kết hợp đồng nhằm đảm

bảo hợp đồng phải được thực hiện đúng như các bên mong đợi một cách hợp pháp.
Việc cam kết thực hiện đúng theo hợp đồng có thể nói là một trong những nguyên
tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam. Tuy nhiên trong thực tế thì xảy ra nhiều nguyên

Xử lý việc không thực hiện đúng hợp đồng đã tồn tại khá sớm trong pháp
luật Việt Nam. Nghiên cứu cổ luật Việt Nam cho thấy Bộ luật Hồng Đức có quy
phạm về vấn đề này. Ví dụ theo Điều 588, “mắc nợ quá hạn không trả thì phải tội
trượng tùy theo việc nặng nhẹ. Nếu lại cố bướng không chịu trả thì phải giáng hạ
hai bậc, bồi thường gấp đôi”. Ở đây, nhà làm luật đã dự trù điều khoản để bắt các
đương sự phải thi hành đúng các nghĩa vụ đã được cam kết.11
Trước khi sửa đổi BLDS và LTM 2005, vấn đề giao kết hợp đồng và việc xử
lý các trường hợp không thực hiện đúng hợp đồng được quy định trong ba văn bản
khác nhau gồm: LTM 1997, Pháp lệnh HĐKT và BLDS. Sự tồn tại cùng lúc ba loại
văn bản đã phát sinh nhiều bất cập cả về lý luận và thực tiễn. Với sự sửa đổi vào
năm 2005, vấn đề giao kết hợp đồng đã được thống nhất trong BLDS (được áp dụng
cho cả hợp đồng dân sự, thương mại, kinh tế). Việc thống nhất này đã làm cho thực
tiễn bớt phức tạp và đã có những thành công nhất định. Tuy nhiên, các quy định về
việc xử lý việc không thực hiện đúng hợp đồng hiện nay vẫn tồn tại trong hai văn
bản khác nhau là LTM và BLDS. Tuy nhiên, chúng ta dường như chưa xây dựng
được một chủ thuyết rõ ràng nên vẫn còn nhiều lúng túng, bất cập khi xử lý việc
không thực hiện đúng hợp đồng. Các biện pháp xử lý việc không thực hiện đúng
hợp đồng rất đa dạng trong pháp luật Việt Nam. Trong từng biện pháp, có thể thấy
một vài biện pháp bảo vệ bên có quyền và một số khác biện pháp được thiết lập
nhằm bảo vệ bên có nghĩa vụ. Thứ tự các biện pháp xử lý việc không thực hiện
Giáo trình luật dân sự Việt Nam, trường Đại học Luật Hà Nội, 2006, Nxb. Công an nhân dân, tập 2, trang
93.
10
Đỗ Văn Đại, 2010. Sách chuyên khảo: Các biện pháp xử lý việc không thực hiện đúng hợp đồng trong
pháp luật Việt Nam, trang 47
11
Vũ Văn Mẫu, 1975. Cổ luật Việt Nam và tư pháp sử, Quyển hai, Sài Gòn, trang 29.
9



Đỗ Văn Đại, 2010. Các biện pháp xử lý việc không thực hiện đúng hợp đồng trong pháp luật Việt Nam,
trang 47.
13
Đoàn Thị Ngọc Hải, 2015. Hoàn thiện các quy định về chế tài trong thương mại theo Luật Thương mại
năm 2005; (truy cập ngày
30/11/2016)
12


17

dụng chế tài buộc vi phạm thực hiện đúng hợp đồng nhằm đảm bảo đạt được các lợi
ích mà họ mong muốn từ việc giao kết hợp đồng. Trên thực tế có những trường hợp
tiền phạt vi phạm hay tiền bồi thường thiệt hại không thể thay thế được các lợi ích
từ việc thực hiện đồng. Trừ khi đã cố gắng nhưng không khắc phục được vi phạm,
bên có quyền mới áp dụng các biện pháp chế tài khác như tạm ngừng, hủy bỏ hợp
đồng, phạt vi phạm (nếu hai bên có thỏa thuận) và có quyền yêu cầu bồi thường
thiệt hại (nếu có thiệt hại xảy ra).
Theo khoản 1 Điều 223 LTM quy định: “Buộc thực hiện đúng hợp đồng là
việc bên có quyền lợi bị vi phạm yêu cầu bên vi phạm thực hiện đúng hợp đồng
hoặc dùng các biện pháp khác để hợp đồng được thực hiện và bên vi phạm phải
chịu phí tổn phát sinh”. Như vậy, chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng buộc bên
vị phải thực hiện đúng hợp đồng cho dù để thực hiện được, bên vi phạm phải áp
dụng biện pháp nào hay phải chịu phí tổn như thế nào.
Về bản chất, nghĩa vụ hợp đồng là quan hệ tạm thời, và thậm chí là quan hệ
ngắn hạn phải được chấm dứt vào một lúc nào đó. Phương thức thông thường nhất
để chấm dứt nghĩa vụ hợp đồng là việc thực hiện đúng và đầy đủ hợp đồng. 14 Ở
nước ta, ngoài các quy định về nghĩa vụ, chế tài đối với các bên trong hợp đồng tại
luật chuyên ngành là LTM thì, các bên có thể còn phải chịu sự điều chỉnh trực tiếp
của những quy định chung tại mục 7 Chương XVII, BLDS 2005 về thực hiện hợp


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status