Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý thu bảo hiểm xã hội bắt buộc trên địa bàn thị xã bến cát, tỉnh bình dương - Pdf 49

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP

NGUYỄN VĂN PHONG

GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ THU BẢO HIỂM
XÃ HỘI BẮT BUỘC TRÊN ĐỊA BÀN THỊ XÃ BẾN CÁT,
TỈNH BÌNH DƯƠNG
NGÀNH KINH TẾ NÔNG NGHIỆP
Mã số: 60 62 01 15

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS. TRẦN THỊ THU HÀ

Đồng Nai năm 2016


i

LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi.
Các số liệu, kết quả nghiên cứu được nêu trong luận văn là trung thực và
chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác.
Bình Dương, ngày ….. tháng…. năm 2016
Người cam đoan


quỹ tiền tệ tập trung nhằm góp phần đảm bảo đời sống của NLĐ và gia đình họ
góp phần bảo đảm an toàn xã hội.
Mục đích của nghiên cứu này là tìm ra giải pháp hoàn thiện công tác
quản lý thu bảo hiểm xã hội bắt buộc trên địa bàn thị xã Bến Cát. Từ thực trạng
công tác quản lý thu BHXH bắt buộc trên địa bàn thị xã Bến Cát và những số
liệu thu thập được làm cơ sở nghiên cứu, xứ lý, phân tích để tìm ra những
nguyên nhân, tồn tại trong công trác quản lý thu BHXH bắt buộc. Kết quả
nghiên cứu cho thấy có sáu nội dung ảnh hưởng đến quản lý thu BHXH bắt
buộc (1) Quản lý đối tượng tham gia BHXH, (2) Quản lý tiền lương, tiền công
làm căn cứ đóng BHXH,(3) Quản lý số tiền thu BHXH, (4) Thanh tra, kiểm
tra, xử lý vi phạm về thu, nộp BHXH, (5) Phối hợp các bộ phận liên quan trong
quản lý thu BHXH, (6) Quản lý nợ đọng, trốn đóng BHXH.
Cuối cùng nghiên cứu chỉ ra được những hạn chế, tồn tại làm cơ sở cho
việc đề xuất các giải pháp hoàn thiện công tác quản lý thu bảo hiểm xã hội bắt
buộc trên địa bàn thị xã bến cát đến năm 2020.


iv

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

BHXHTN: Bảo hiểm xã hội tự nguyện
BHXH:

Bảo hiểm xã hội

BHYT:

Bảo hiểm y tế


Hội đồng nhân dân

NLĐ:

Người lao động

NSDLĐ:

Người sử dụng lao động

QD:

Quốc doanh

SXKD:

Sản xuất kinh doanh

NSNN:

Ngân sách Nhà nước

TNHH:

Trách nhiệm hữu hạn

UBND:

Uỷ ban nhân dân


Bảng 3.7: Tình hình nợ đọng BHXH bắt buộc tại BHXH thị xã Bến Cát.

61

Bảng 3.8: Số tiền nợ đọng BHXH bắt buộc theo khối quản lý

64

Bảng 3.9: Các đơn vị, doanh nghiệp nợ BHXH kéo dài

65

Bảng 3.10: Kết quả rà soát tình hình tham gia BHXH bắt buộc

68

Bảng 3.11: Tình hình mức lương tham gia BHXH bắt buộc

74

Bảng 3.12: Tình hình mức lương tham gia BHXH bắt buộc

86


vi

MỤC LỤC

Lời cam đoan

phương trong tỉnh cho việc thu BHXH. ............................................................ 34
CHƯƠNG 2: ĐẶC ĐIỂM TÌNH HÌNH VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN
CỨU .................................................................................................................. 36
2.1. Đặc điểm cơ bản của thị xã hội thị xã Bến Cát, Bình Dương .............. 36
2.1.1. Điều kiện tự nhiên ................................................................................... 36
2.1.2. Điều kiện kinh tế – xã hội: ...................................................................... 38
2.1.3. Đặc điểm cơ bản của BHXH thị xã Bến Cát........................................... 39
2.2.Phương pháp nghiên cứu.......................................................................... 43
2.2.1. Phương pháp chọn điểm nghiên cứu ....................................................... 43
2.2.2. Phương pháp thu thập số liệu .................................................................. 44
2.3. Phương pháp xử lý số liệu. ...................................................................... 45
2.3.1. Phương pháp phân tích theo nhóm đối tượng đóng BHXH.................... 45
2.3.2 Phương pháp phân tích thống kê. ............................................................. 45
2.3.3 Phương pháp thống kê so sánh ................................................................. 45
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN ..................... 46
3.1. Thực trạng quản lý thu bảo hiểm xã hội bắt buộc tại thị xã bến cát: . 46
3.1.1. Tình hình số lao động và số đơn vị tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc 46
3.1.2. Công tác quản lý thu BHXH bắt buộc tại BHXH thị xã Bến Cát ........... 49
3.2. Hiệu quả quản lý thu BHXH bắt buộc tại BHXH thị xã Bến Cát ....... 52
3.2.1. Quy trình quản lý đối tượng tham gia BHXH bắt buộc .......................... 52
3.2.2. Quản lý số tiền thu BHXH ...................................................................... 56
3.2.3.Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng công tác quản lý thu BHXH bắt
buộc của BHXH thị xã Bến Cát ........................................................................ 60
3.3. Đánh giá chung về công tác quản lý thu BHXH bắt buộc trên địa
bàn thị xã Bến Cát ........................................................................................... 76


viii

3.3.1. Ưu điểm ................................................................................................... 76

định rõ ràng về đối tượng tham gia đóng, hưởng BHXH gồm tất cả lao động
làm việc trong các thành phần kinh tế và mở rộng loại hình BHXH tự nguyện,
tạo nên sự bình đẳng về BHXH đối với mọi người lao động. Đây là bước
chuyển biến căn bản về sự nghiệp BHXH từ chế độ bao cấp chủ yếu dựa vào
ngân sách nhà nước sang chế độ dựa trên nguồn đóng góp từ người lao động,
chủ sử dụng lao động. Mặc dù có nhiều đổi mới trong cả hình thức đóng bảo
hiểm, đối tượng đóng bảo hiểm và các dịch vụ đi kèm khác, tuy nhiên trong
quá trình thực hiện chính sách BHXH thời gian qua còn bộc lộ những hạn
chế, đặc biệt trong công tác thu BHXH, như: (1) Việc phát triển đối tượng
tham gia BHXH ở cả hai loại hình bắt buộc và tự nguyện còn nhiều hạn chế;
(2) Tình trạng trốn đóng BHXH, nợ đọng BHXH, chưa tham gia hoặc tham
gia không đầy đủ cho số lao động làm việc tại đơn vị còn xảy ra phổ biến ở
nhiều địa phương. Thực tế này đã ảnh hưởng không nhỏ đến việc thực hiện


2

chế độ, chính sách BHXH đối với người lao động và kết quả thu BHXH.
Hiệu quả quản lý thu BHXH bị ảnh hưởng ngoài các yếu tố khách quan
trên còn có những nguyên nhân chủ quan như bản thân cơ quan BHXH. Đó là
những hạn chế trong thực hiện cải cách hành chính, đổi mới tác phong phục vụ
nhân viên và việc ứng dụng công nghệ nhằm tạo điều kiện nâng cao hiệu quả
công tác quản lý thu BHXH.
Bình Dương là Tỉnh có đặc thù số lao động là người ngoài tỉnh đến làm
việc chiếm khoảng 70% trên tổng số lao động tham gia BHXH, nên sự di
chuyển người ngoài Tỉnh biến động nhiều và có nhiều loại hình doanh nghiệp
phức tạp, khó khăn trong công tác quản lý nói chung và quản lý thu nói riêng.
Do vậy cần đổi mới quản lý thu BHXH nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của
đơn vị, tránh thất thoát và đảm bảo trách nhiệm xã hội đối với người lao động là
yêu cầu thường xuyên và cấp thiết với mọi cấp quản lý BHXH. Xuất phát từ

1.1. Tổng quan về bảo hiểm xã hội
1.1.1. Bản chất của bảo hiểm xã hội
1.1.1.1. Khái niệm
Lịch sử phát triển của xã hội loài người cho chúng ta thấy rằng trong
quá trình tồn tại và phát triển thì nhu cầu cơ bản của con người chính là ăn,
mặc, ở.... Để thỏa mãn những nhu cầu tối thiểu này, con người phải lao động
để làm ra những sản phẩm cần thiết. Xã hội ngày càng phát triển, mức độ thỏa
mãn các nhu cầu của con người ngày càng cao. Trong thực tế cuộc sống,
không phải NLĐ nào cũng có đủ điều kiện về sức khỏe, khả năng lao động để
hoàn thành nhiệm vụ lao động, công tác hoặc tạo nên cho mình và gia đình
một cuộc sống ấm no hạnh phúc. Bởi lẽ, trong đời sống hàng ngày bất cứ
người nào cũng có thể gặp phải những rủi ro, bất hạnh như ốm đau, tai nạn,
hay già yếu, chết hoặc thiếu công việc làm do những ảnh hưởng của tự nhiên,
của những điều kiện sống và sinh hoạt cũng như của các tác nhân xã hội
khác.... Khi rơi vào hoàn cảnh đó, thì ngoài những nhu cầu thiết yếu của con
người còn xuất hiện thêm những nhu cầu mới. Do vậy, muốn tồn tại và phát
triển trong xã hội, con người chúng ta đã có nhiều biện pháp khác nhau để
khắc phục khó khăn.
Để khắc phục những rủi ro, bất hạnh giảm bớt khó khăn cho bản thân
và gia đình thì ngoài việc tự bản thân mình phải khắc phục, NLĐ còn cần có
được sự bảo trợ, san sẻ của cộng đồng và xã hội. Sự tương trợ dần dần được
mở rộng và phát triển dưới nhiều hình thức khác nhau. Những yếu tố đoàn
kết, hướng thiện đó đã tác động tích cực đến ý thức và công việc xã hội của
các Nhà nước dưới các chế độ xã hội khác nhau. Trong quá trình phát triển xã
hội, đặc biệt là từ sau cuộc cách mạng công nghiệp, hệ thống BHXH đã có


5

những nền tảng cơ sở cơ bản để hình thành và phát triển.

xã hội của một quốc gia. Có thể nói, không có BHXH thì không thể có một
nên an sinh xã hội vững mạnh. Như vậy, BHXH được định nghĩa đó chính là
sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập đối với NLĐ khi họ gặp
phải những biến cố làm giảm hoặc giảm khả năng lao động, mất việc làm trên
cơ sở hình thành và sử dụng một quỹ tiền tệ tập trung nhằm góp phần đảm
bảo đời sống của NLĐ và gia đình họ góp phần bảo đảm an toàn xã hội.
Từ những cơ sở trên, khái niệm BHXH được khái quát cụ thể như sau:
BHXH là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của NLĐ khi
họ bị mất hoặc giảm các khoản thu nhập từ nghề nghiệp do bị mất hoặc giảm
khả năng lao động hoặc mất việc làm do những rủi ro xã hội thông qua việc
hình thành, sử dụng một quỹ tài chính do sự đóng góp của các bên tham gia
BHXH, nhằm góp phần bảo đảm an toàn đời sống của NLĐ và gia đình họ;
đồng thời góp phần bảo đảm an toàn xã hội.
1.1.1.2. Bản chấtcủa BHXH
BHXH là một sản phẩm tất yếu của nền kinh tế hàng hóa. Khi trình độ
phát triển kinh tế của một quốc gia đạt đến một mức độ nào đó thì hệ thống
BHXH sẽ có điều kiện ra đời và phát triển. Vì vậy, các nhà kinh tế cho rằng,
sự ra đời và phát triển của BHXH phản ánh sự phát triển của nền kinh tế. Một
nền kinh tế chậm phát triển, đời sống nhân dân thấp kém không thể có một hệ
thống BHXH vững mạnh được. Kinh tế càng phát triển mạnh mẽ, hệ thống
BHXH càng đa dạng, các chế độ BHXH ngày càng mở rộng, các hình thức
BHXH ngày càng phong phú.
Thực chất BHXH là sự đền bù hậu quả của những “rủi ro xã hội”. Sự
đền bù này được thực hiện thông qua quá trình tổ chức và sử dụng quỹ tiền tệ
tập trung hình thành do sự đóng góp của tất cả các bên tham gia BHXH và
các nguồn thu hợp pháp khác của quỹ BHXH. Như vậy, BHXH cũng là quá
trình phân phối lại thu nhập. Xét trên phạm vi toàn xã hội, BHXH là một bộ


7

8

tạo ra một khoản thu nhập thay thế cho NLĐ khi họ gặp phải các rủi ro thuộc
phạm vi BHXH.
 Dưới góc độ chính trị, BHXH góp phần liên kết giữa những
NLĐ xuất phát từ lợi ích chung của họ.
 Dưới góc độ xã hội, BHXH được hiểu như là một chính sách xã
hội nhằm đảm bảo đời sống cho NLĐ khi thu nhập của họ bị giảm hay mất.
Thông qua đó bảo vệ và phát triển lực lượng lao động xã hội, lực lượng sản
xuất, tăng năng suất lao động ổn định trật tự xã hội.
 Để tạo ra của cải vật chất con người buộc phải lao động, để lao
động con người cần phải có đủ sức khỏe và khả năng lao động nhất định.
Song trong thực tế không phải NLĐ nào cũng có đủ điều kiện về sức khỏe,
khả năng lao động, làm việc để tạo nên thu nhập trang trải cho bản thân và
làm cho gia đình mình có được một cuộc sống ấm no, đầy đủ. Ngược lại,
không mấy ai có thể tránh được những điều không may mắn, rủi ro, bất hạnh
do ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên, của điều kiện sống và các yếu tố xã hội
khác.
 Khi rơi vào hoàn cảnh khó khăn, các nhu cầu thiết yếu không vì
thế mà mất đi, trái lại, có những nhu cầu còn tăng lên, thậm chí còn xuất hiện
thêm nhu cầu mới, ví dụ như: bị ốm đau thì lại xuất hiện thêm nhu cầu khám
chữa bệnh trong khi phải nghỉ làm và NLĐ lại mất đi phần thu nhập chính ....
Bởi vậy, muốn tồn tại con người đã phải tìm ra nhiều cách để tự mình giải
quyết, khắc phục; bên cạnh đó con người cũng cần được sự bảo trợ của cộng
đồng tập thể, của các tổ chức cơ quan Nhà nước và xã hội. Sự bảo trợ này
không thể chỉ bằng lời nói, bằng sự động viên thăm hỏi chung chung được mà
phải bằng những nguồn vật chất cần thiết nhằm giúp NLĐ phục hồi nhanh
chóng sức khỏe, duy trì sức lao động cho xã hội, góp phần làm giảm bớt
những khó khăn của bản thân và gia đình người lao động khi có những hụt




10

hóa đưa đất nước phát triển ổn định thì những rủi ro này lại ngày càng diễn ra
một cách thường xuyên và có tính chất ngày càng phổ biến hơn do sự biến
động về thị trường lao động và tình hình sản xuất kinh doanh ngày càng đa
dạng, phức tạp hơn. Khi gặp khó khăn NLĐ sẽ bị mất hoặc giảm đi một phần
thu nhập làm ảnh hưởng không tốt về mặt vật chất lẫn tinh thần không chỉ cho
chính bản thân NLĐ, gia đình họ mà còn cho cả cộng đồng xã hội. Với tư
cách là một chính sách kinh tế – xã hội lớn của Đảng và Nhà nước, chính sách
BHXH sẽ góp phần trợ giúp cho NLĐ khi họ gặp phải những rủi ro, bất hạnh;
giúp họ khắc phục được khó khăn bằng cách tạo ra cho họ những phần thu
nhập thay thế, những điều kiện lao động thuận lợi … giúp họ ổn định được
cuộc sống, yên tâm công tác, tạo cho NLĐ một niềm tin vào tương lai tươi
sáng hơn từ đó góp phần quan trọng vào việc tăng năng suất lao động cũng
như chất lượng công việc cho đơn vị của NLĐ đang làm nói riêng và mang lại
lợi ích kinh tế cho toàn bộ xã hội nói chung.
1.1.2.2 Đối với xã hội
Trước tiên, phải khẳng định rằng hoạt động BHXH là một hoạt động
dịch vụ, BHXH là một “Doanh nghiệp” sản xuất ra những “dịch vụ bảo hiểm”
cho NLĐ, một loại dịch vụ mà bất cứ ai trong đời cũng cần đến ít nhất một
lần. Nếu các “Doanh nghiệp” này càng sản xuất ra nhiều các loại hình dịch vụ
bảo hiểm đáp ứng được đa dạng các nhu cầu của NLĐ thì giá trịcủa những
sản phẩm dịch vụ nàycũng
được tính trực tiếp vào tổng sản phẩm xã hội.
Thứ hai, BHXH là một chính sách của Nhà nước, được Nhà nước ban
hành các văn bản quy phạm pháp luật để quản lý và điều chỉnh nên BHXH sẽ
“bảo hiểm” được những rủi ro cho NLĐ, sẽ giải quyết tích cực những rủi ro
đã xảy ra cho NLĐ; góp phần tích cực của mình vào việc phục hồi năng lực

của NLĐ phù hợp với tập quán, khả năng trang trải và định hướng phát triển
kinh tế - xã hội của quốc gia mình. Đồng thời, phải có nhận thức thống nhất


12

các quan điểm cơ bản sau đây về BHXH:
1.1.3.1. Chính sách bảo hiểm xã hội là một bộ phận cấu thành và là bộ phận
quan trọng nhất trong chính sách an sinh xã hội
Mục đích chủ yếu của chính sách này nhằm đảm bảo đời sống cho
NLĐ và gia đình họ, khi NLĐ bị giảm hoặc mất thu nhập do bị giảm hoặc mất
khả năng lao động, mất việc làm. Ở nước ta, BHXH nằm trong hệ thống các
chính sách kinh tế và xã hội của Đảng và Nhà nước. Thực chất, đây là một
trong những chính sách lớn đối với NLĐ nhằm đáp ứng một trong những
quyền và nhu cầu hiển nhiên của con người, đó là: nhu cầu an toàn về việc
làm, an toàn lao động, an toàn xã hội .... Chính sách BHXH còn thể hiện trình
độ văn minh, tiềm lực và sức mạnh kinh tế, khả năng tổ chức và quản lý của
mỗi quốc gia. Trong một chừng mực nhất định, nó còn thể hiện tính ưu việt
của một chế độ xã hội. Nếu tổ chức và thực hiện tốt chính sách BHXH sẽ là
động lực to lớn phát huy tiềm năng sáng tạo của NLĐ trong quá trình phát
triển kinh tế - xã hội của đất nước.
1.1.3.2. Người sử dụng lao động phải có nghĩa vụ và trách nhiệm tham gia
bảo hiểm xã hội cho người lao động
Chính sách BHXH phải được cụ thể bằng việc ban hành các bộ luật,
các văn bản luật trong đó quy định rõ trách nhiệm, nghĩa vụ và quyền lợi của
các bên tham gia. Khi đó sẽ đảm bảo được quyền lợi của các bên tham gia.
Người sử dụng lao động thực chất là các tổ chức, các doanh nghiệp và
các cá nhân có thuê mướn lao động. Họ phải có nghĩa vụ đóng góp vào quỹ
BHXH và có trách nhiệm thực hiện các chế độ BHXH đối với NLĐ mà mình
sử dụng theo đúng quy định của pháp luật. Người sử dụng lao động muốn ổn

trưởng, chính trị xã hội ổn định thì NLĐ tham gia và được hưởng trợ cấp
BHXH ngày càng đông.
1.1.3.4. Mức trợ cấp bảo hiểm xã hội phụ thuộc vào các yếu tố
Các yếu tố chủ yếu phải kể đến đó là:


14

- Tình trạng mất khả năng lao động;
- Tiền lương lúc đang đi làm;
- Ngành công tác và thời gian công tác;
- Tuổi thọ bình quân của NLĐ;
- Điều kiện kinh tế - xã hội của đất nước trong từng thời kỳ…
Tuy nhiên, về nguyên tắc thì các khoản trợ cấp BHXH lúc nào cũng
phải thấp hơn khoản thu nhập khi NLĐ đang đi làm, có thấp hơn nhưng cũng
phải đảm bảo được mức sống tối thiểu cho NLĐ.
Quan điểm này vừa phải phản ánh tính cộng đồng xã hội, vừa phản ánh
nguyên tắc phân phối lại quỹ BHXH cho những NLĐ tham gia BHXH. Trợ
cấp BHXH là loại trợ cấp thay thế tiền lương. Mà tiền lương là khoản tiền mà
người sử dụng lao động trả cho NLĐ khi họ thực hiện được những công việc
hoặc định mức công việc nào đó. Nghĩa là, chỉ khi NLĐ có sức khoẻ bình
thường, có việc làm bình thường và thực hiện được công việc nhất định mới
có tiền lương. Khi đã bị ốm đau, tai nạn hay tuổi già không làm việc được mà
trước đó có tham gia BHXH thì sẽ nhận được trợ cấp BHXH và mức trợ cấp
đó không thể bằng với khoản tiền lương do lao động trực tiếp tạo ra được.
Nếu mức trợ cấp bằng hoặc cao hơn mức tiền lương thì không một NLĐ nào
phải có gắng tìm kiếm việc làm và tích cực làm việc để có lương, mà ngược
lại sẽ lợi dụng quỹ BHXH để được nhận trợ cấp, trục lợi cho bản thân. Hơn
nữa cách lập quỹ BHXH theo phương thức dàn trải rủi ro cũng không cho
phép trả trợ cấp BHXH bằng lúc đang làm việc. Và như vậy thì chẳng khác gì

quản lý Nhà nước là trực tiếp và toàn diện, nếu nguồn đảm bảo trợ cấp do
người sử dụng lao động, NLĐ và Nhà nước đóng góp thì Nhà nước tham gia
quản lý.
Để quản lý về BHXH, Nhà nước sử dụng các công cụ chủ yếu như luật
pháp và bộ máy tổ chức. Nhìn chung, ở hầu hết các nước trên thế giới, việc
quản lý vĩ mô BHXH đều được Nhà nước giao cho Bộ Lao động hoặc Bộ Xã


16

hội trực tiếp điều hành, chỉ đạo chung. Tuy nhiên, quan điểm này đến ngày
nay không phải là tuyệt đối bởi vì ở một số quốc gia trên thế giới thì hệ thống
BHXH đã bắt đầu được tư nhân hóa.
Ở Việt Nam, BHXH Việt Nam là một cơ quan trực thuộc Chính Phủ
có nhiệm vụ tổ chức và thực hiện chính sách BHXH, BHYT cho NLĐ và
nhân dân trên cả nước.
1.2. Nội dung quản lý thu bảo hiểm xã hội bắt buộc
1.2.1. Khái niệm BHXH bắt buộc
- Bảo hiểm xã hội bắt buộc là loại hình BHXH mà người lao động và
người sử dụng lao động phải tham gia.
- Thu BHXH bắt buộc là phần thu được trích theo tỷ lệ phần trăm trên
tiền lương, tiền công của các đối tượng thu BHXH bắt buộc được quy định
trong luật BHXH bao gồm:
+ NLĐ làm việc theo hợp đồng không xác định thời hạn và hợp đồng
lao động có thời hạn từ đủ 3 tháng trở lên;
+ Người quản lý doanh nghiệp thuộc các chức danh hoạt động theo
Luật doanh nghiệp hưởng tiền lương, tiền công từ đủ 3 tháng trở lên.
1.2.2. Hiệu quả quản lý thu BHXH bắt buộc
Quản lý bao giờ cũng là tác động có hướng đích, có xác định mục tiêu,
thể hiện mối quan hệ giữa chủ thể quản lý và đối tượng quản lý, đây là quan


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status