HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ TÀI CHÍNH TẠI CÁC TRƯỜNG CAO ĐẲNG TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ CẨM PHẢ, TỈNH QUẢNG NINH - Pdf 30

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH

TÔ KIÊN CƯỜNG

HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ TÀI CHÍNH
TẠI CÁC TRƯỜNG CAO ĐẲNG TRÊN ĐỊA BÀN
THÀNH PHỐ CẨM PHẢ, TỈNH QUẢNG NINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ KINH TẾ


ii
THÁI NGUYÊN - 2015


ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH

TÔ KIÊN CƯỜNG

HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ TÀI CHÍNH
TẠI CÁC TRƯỜNG CAO ĐẲNG TRÊN ĐỊA BÀN
THÀNH PHỐ CẨM PHẢ, TỈNH QUẢNG NINH
Chuyên ngành: Quản lý kinh tế

Mã số: 60.34.04.10

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ


giáo trong quá trình giảng dạy, đã trang bị cho tôi những kiến thức khoa học.
Đặc biệt là thầy giáo - PGS.TS. Trần Đình Thiên - người trực tiếp hướng dẫn
giúp đỡ tôi trong suốt thời gian nghiên cứu và học tập.
Tôi xin chân thành cảm ơn các ban ngành nơi tôi công tác và nghiên
cứu luận văn, cùng toàn thể các đồng nghiệp, học viên lớp cao học quản lý
kinh tế khóa 10, gia đình bạn bè đã tạo điều kiện, cung cấp tài liệu cho tôi
hoàn thành chương trình học của mình và góp phần thực hiện tốt hơn cho
công tác thực tế sau này.
Tôi xin chân thành cảm ơn! .
Quảng Ninh, ngày

tháng

Tác giả luận văn

Tô Kiên Cường

năm 2015


iii
MỤC LỤC
DANH MỤC NHỮNG TỪ VIẾT TẮT........................................................iv
DANH MỤC NHỮNG TỪ VIẾT TẮT iv iii.................................................v
DANH MỤC NHỮNG TỪ VIẾT TẮT iv.....................................................v


iv
DANH MỤC NHỮNG TỪ VIẾT TẮT
GD



1
MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
Giáo dục học thế giới đang có những chuyển biến mạnh mẽ đặc biệt là
giáo dục Cao đẳng, Đại học, Việt Nam cũng không nằm ngoài quy luật đó.
Đổi mới giáo dục Cao đẳng, Đại học ở Việt Nam là một yêu cầu cấp thiết đảm
bảo nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hoá,
hiện đại hoá đất nước. Kinh nghiệm cải cách giáo dục Cao đẳng, Đại học của
các nước có nền giáo dục phát triển là Chính phủ tăng quyền tự chủ tài chính
cho các trường Cao đẳng, Đại học.
Phát triển tài chính Cao đẳng, Đại học là một trong những vấn đề chủ
yếu của bất kỳ hệ thống giáo dục Cao đẳng, Đại học nào trên thế giới. Trong
các cuộc thảo luận về giáo dục Cao đẳng, Đại học, những vấn đề về tài chính
thường nổi bật do những quan điểm khác nhau của nhiều bên liên quan. Các
nhà hoạch định chính sách đang đặt ra câu hỏi liệu ngân quỹ Nhà nước có thể
tiếp tục chi bao nhiêu cho phát triển giáo dục Cao đẳng, Đại học giữa những
đòi hỏi cấp bách và cạnh tranh của rất nhiều mục tiêu khác (giáo dục phổ
thông, chăm sóc sức khoẻ cộng đồng, phát triển giao thông công cộng….).
Nhu cầu về tri thức và đổi mới công nghệ, khoa học kỹ thuật ngày càng tăng
buộc các trường Cao đẳng, Đại học phải tìm kiếm những nguồn thu ngoài
ngân sách Nhà nước để có thể nắm bắt kịp thời các cơ hội và vượt qua những
thử thách trong xu hướng hội nhập hiện nay.
Thành phố Cẩm Phả là đơn vị hành chính đông dân thứ hai của tỉnh
Quảng Ninh sau thành phố Hạ Long. Trường Cao đẳng Công nghiệp Cẩm Phả
và trường Cao đẳng nghề mỏ Hồng Cẩm - Vinacomin là hai trường Cao đẳng



3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là quá trình quản lý tài chính tại các
trường Cao đẳng trên địa bàn TP. Cẩm Phả (trường Trường Cao đẳng Công
nghiệp Cẩm Phả và trường Cao đẳng nghề mỏ Hồng Cẩm - Vinacomin)
3.2. Phạm vi nghiên cứu
* Phạm vi không gian: Đề tài nghiên cứu công tác QLTC tại các trường
Cao đẳng trên địa bàn TP. Cẩm Phả.
* Phạm vi thời gian: Thời gian nghiên cứu từ năm 2012 đến năm 2014.
* Phạm vi về nội dung: Đề tài tập trung nghiên cứu hệ thống cơ sở lý
luận và thực tiễn về công tác quản lý tài chính tại các đơn vị sự nghiệp có thu
hoạt động trong lĩnh vực đào tạo, trên cơ sở đó đánh giá công tác quản lý tài
chính tại các trường Cao đẳng trên địa bàn TP. Cẩm Phả để đề ra được các
giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý tài chính tại các đơn vị này.
4. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn
4.1. Ý nghĩa khoa học của luận văn
Góp phần bổ sung, hoàn thiện, cụ thể hoá phương pháp luận quản lý tài
chính tại các trường Cao đẳng trên địa bàn TP. Cẩm Phả, đồng thời giúp cho
đơn vị sự nghiệp có thu có ý thức tự chủ, tự chịu trách nhiệm về các hoạt
động tài chính và khả năng tài chính của đơn vị mình.
4.2. Ý nghĩa thực tiễn của luận văn
Luận văn là tài liệu tham khảo có giá trị phục vụ cho việc hoàn thiện tổ
chức công tác QLTC ở các trường Cao đẳng trên địa bàn thành phố Cẩm Phả.
Luận văn là một tài liệu bổ ích về hoàn thiện công tác QLTC ở các trường


4
Cao đẳng và một số đơn vị sự nghiệp có liên quan đến công tác QLTC.
Làm cho bản thân hiểu biết sâu sắc hơn về vấn đề nghiên cứu, đồng
thời tạo điều kiện để có thể tiếp tục nghiên cứu góp phần hoàn thiện công tác

đáp ứng yêu cầu tích lũy và tiêu dùng của các chủ thể trong xã hội.
Tài chính trong các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực đào tạo là
phản ánh các khoản thu, chi bằng tiền của các quỹ tiền tệ trong các cơ sở đào
tạo. Xét về hình thức nó phản ánh sự vận động và chuyển hóa của các nguồn
lực tài chính trong quá trình sử dụng các quỹ bằng tiền. Xét về bản chất nó là
những mối quan hệ tài chính biểu hiện dưới hình thức giá trị phát sinh trong
quá trình hình thành và sử dụng các quỹ bằng tiền nhằm phục vụ cho sự
nghiệp đào tạo nguồn nhân lực cho đất nước.
1.1.1.2. Chức năng
Tài chính có hai chức năng là chức năng phân phối và chức năng
giám sát.


6
Chức năng phân phối: Phân phối qua tài chính là sự phân phối tổng
sản phẩm xã hội dưới hình thức giá trị. Thông qua chức năng này,các quỹ tiền
tệ tập trung và không tập trung được hình thành và sử dụng theo những mục
đích nhất định. Phân phối thông qua tài chính gồm: phân phối lần đầu và phân
phối lại.
Chức năng giám sát: đây là chức năng kiểm tra quá trình vận động
của các nguồn tài chính để tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ. Thông qua chức
năng này để kiểm tra và điều chỉnh các quá trình phân phối tổng sản phẩm xã
hội dưới hình thức giá trị,phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế-xã hội của
mỗi thời kỳ,kiểm tra các chế độ tài chính của Nhà nước...
1.1.2. Công tác quản lý tài chính ở trường đại học, cao đẳng
1.1.2.1. Khái niệm
Công tác quản lý tài chính ở một trường đại học, cao đẳng thường
thuộc phòng Tài chính - Kế hoạch tại đơn vị. Như vậy công tác quản lý tài
chính tức là tham mưu cho chủ tài khoản về công tác tổ chức bộ máy kế
toán và kế hoạch công tác tài chính kế toán trong Nhà trường. Cung cấp kịp

TSCĐ theo yêu cầu quản lý. Kiểm tra xét duyệt dự toán và theo dõi việc sửa
chữa thường xuyên, sửa chữa lớn TSCĐ. Hàng năng tính giá trị hao mòn
TSCĐ, phân tích tình hình sử dụng TSCĐ. Tham gia theo dõi việc thanh lý,
điều chuyển TSCĐ giữa các đơn vị trong nhà trường để báo cáo ban giám
hiệu và cơ quan quản lý cấp trên; giám sát việc mua sắm vật tư, tài sản theo
đúng chế độ và đúng quy chế của nhà trường;
Thực hiện đúng chế độ kế toán hành chính sự nghiệp hiện hành;
Định kỳ hoặc bất thường tiến hành kiểm tra, thanh tra và đánh giá hiệu
quả tình hình sử dụng vốn, tài sản ở từng đơn vị và trong toàn trường;
Lập và nộp báo cáo tài chính, báo cáo quyết toán và báo cáo thống kê
khác để quyết toán các nguồn kinh phí đúng thời hạn đúng quy định;
Tổ chức triển khai, phổ biến xây dựng quy chế chi tiêu nội bộ và hướng


8
dẫn thi hành kịp thời các chế độ chính sách tài chính theo quy định;
Chủ trì hoặc phối hợp với các đơn vị liên quan để thực hiện các nhiệm
vụ khác theo sự phân công của Ban giám hiệu nhà trường.
1.1.2.3. Yêu cầu của công tác quản lý tài chính
Để đáp ứng yêu cầu trong công tác quản lý tài chính, kế toán thì ngoài
việc thực hiện tốt các nhiệm vụ nêu trên, bộ phận tài chính - kế hoạch còn
thường xuyên điều chỉnh kịp thời các khó khăn phát sinh trong quá trình công
tác. Phân công quản lý theo mảng công việc và theo dõi tiến độ thực hiện;Khuyến khích và tạo điều kiện cho cán bộ, viên chức của đơn vị được đào tạo,
bồi dưỡng nâng cao trình độ chính trị, chuyên môn nghiệp vụ, năng lực quản
lý, ngoại ngữ, tin học...; Chăm lo đời sống vật chất, tinh thần để ngày càng cải
thiện mức thu nhập cho cán bộ viên chức trong đơn vị; Quản lý và khai thác,
sử dụng có hiệu quả cơ sở vật chất, trang thiết bị của nhà trường, đơn vị.
1.1.3. Vai trò của công tác quản lý tài chính trong giáo dục & đào tạo nói
chung, đối với trường đại học, cao đẳng nói riêng
Vai trò của công tác quản lý tài chính đối với các trường đại học, cao

NSNN và ngoài NSNN cho trường đại học, cao đẳng một cách tiết kiệm, hiệu
quả, lành mạnh hoá các hoạt động tài chính đảm bảo các nguồn kinh phí được
đầu tư được sử dụng đúng mục đích, tiết kiệm và hiệu quả cao, ngăn chặn các
hiện tượng vụ lợi trong hoạt động tài chính của các trường.
Ba là: chịu sự quản lý của Nhà nước, giám sát tài chính của cơ quan
chủ quản cấp trên, cơ quan tài chính trong quá trình tạo lập, phân phối và sử
dụng các nguồn tài chính của các trường đại học, cao đẳng.
1.1.4. Các nhân tố ảnh hưởng đến công tác quản lý tài chính đối với các
trường đại học, cao đẳng
Trong quá trình hoạt động của nhà trường không tách khỏi sự vận
động, thay đổi liên tục của nền kinh tế. Do đó công tác quản lý tài chính cũng
chịu sự ảnh hưởng bởi những nhân tố ảnh hưởng bên ngoài và bên trong nhà


10
trường đến quá trình tạo lập, phân phối và sử dụng nguồn lực tài chính, đó là:
1.1.4.1. Nhân tố khách quan
+ Quy mô, tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm quốc nội;
+ Yêu cầu của nền kinh tế - xã hội đang chuyển đổi, vận động theo cơ
chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước;
+ Quan điểm, mục tiêu, phương thức phân phối NSNN của Nhà nước,
tổ chức kinh tế - xã hội và của gia đình người học, sinh viên cho Giáo dục đại
học, cao đẳng.
1.1.4.2. Nhân tố chủ quan
+ Đa dạng hoá các loại hình giáo dục đại học, cao đẳng;
+ Sự thay đổi về quy mô giáo dục đại học, cao đẳng; về cơ sở vật chất
và giá cả;
+ Cơ quan chủ quản và hình thức sở hữu (khu vực công lập và ngoài
công lập);
+ Sự thay đổi về số lượng và chất lượng cơ cấu đội ngũ giảng viên, cán

được thể hiện trên hệ thống sổ sách kế toán của Nhà trường theo quy định của
pháp luật.
* Nguyên tắc quản lý nguồn thu
Mọi nguồn thu của Nhà trường đều do phòng Tài vụ tổ chức thu và
thống nhất tập trung quản lý theo quy định quản lý tài chính của Nhà nước và
quy chế quản lý nguồn thu của Nhà trường.
Việc tổ chức thu được thực hiện theo hai hình thức là thu trực tiếp tại
phòng Tài vụ và uỷ quyền thu một số nguồn thu đặc thù cho một số đơn vị
gắn với công việc trực tiếp quản lý. Các đơn vị không được uỷ quyền thu thì
không được phép tự thu. Các đơn vị được uỷ quyền thu phải tổ chức thu theo
sự hướng dẫn chuyên môn của phòng Tài vụ và phải nộp tất cả các khoản thu
về phòng Tài vụ, không được giữ tiền mặt tại đơn vị, không được tự chi.
Tất cả các khoản thu đều phải sử dụng chứng từ thu thống nhất của
Nhà trường do phòng Tài vụ cấp. Mọi khoản thu nếu không được phản ánh
trên chứng từ quy định, hoặc không được uỷ quyền thu đều là khoản thu


12
bất hợp pháp.
Các loại phí, lệ phí và nguồn thu hợp pháp khác thực hiện theo hướng
dẫn của Nhà nước và quyết định của Hiệu trưởng.
Các Trung tâm, đơn vị trực thuộc Trường phải tự hạch toán lấy thu bù
chi và có lãi. Tiền lãi của đơn vị một phần nộp Nhà trường, một phần để lại
đơn vị trên nguyên tắc đảm bảo lợi ích của Nhà trường và lợi ích phát triển
của đơn vị.
 Nguồn thu từ ngân sách Nhà nước
- Kinh phí Nhà nước cấp chi thường xuyên cho đào tạo đại học, đào tạo
cao đẳng, sau đại học, bồi dưỡng đào tạo lại công chức.
- Kinh phí thực hiện các dự án, đề tài khoa học cấp Nhà nước, cấp Bộ,
cấp Trường và các nhiệm vụ khoa học công nghệ khác được giao.

sinh viên chính quy; lao động kỷ niệm Trường của người học tại Trường;
Tiền đóng góp của cán bộ đi làm chuyên gia, tư vấn trong và ngoài nước;
Các khoản thu khác.
* Nguyên tắc quản lý chi
- Mở rộng đối tượng giao khoán chi để tiết kiệm chi nhằm tăng phần
chênh lệch thu - chi để nâng cao thu nhập tăng thêm cho cán bộ viên chức.
- Các khoản chi thường xuyên phải có dự toán theo định mức của Quy
chế chi tiêu nội bộ và phải được Hiệu trưởng phê duyệt; Các khoản chi Nhà
nước đã quy định (lương cơ bản, công tác phí, hội nghị…), thực hiện theo các
quy định đó.
- Các khoản chi phải đảm bảo có đủ chứng từ hoá đơn hợp lý, hợp lệ
theo đúng quy định của chế độ kế toán tài chính.
- Chi phí đầu tư xây dựng cơ bản, mua sắm thiết bị thực hiện theo trình
tự và quy định của Nhà nước và của Nhà trường.
* Các nội dung chi trong hoạt động của các trường:


14
- Chi hoạt động thường xuyên:
+ Chi thanh toán cho cá nhân: Chi trả lương cơ bản, phụ cấp theo lương
hàng tháng cho tất cả cán bộ viên chức, giảng viên trong biên chế và hợp
đồng lao động; Chi trả tiền công cho lao động thường xuyên theo hợp đồng;
Học bổng học sinh, sinh viên; Chi tiền thưởng thường xuyên theo định mức,
đột xuất; Chi phúc lợi tập thể; Phần thu nhập tăng thêm;
+ Chi mua sắm hàng hoá, dịch vụ: Chi thanh toán dịch vụ công cộng
(tiền điện, nước, nhiên liệu); chi phí vật tư văn phòng; Chi phí thông tin,
tuyên truyền, liên lạc; Chi hội nghị; Chi công tác phí; Chi phí thuê mướn; Chi
đoàn ra - đoàn vào; Chi phí sửa chữa tài sản phục vụ công tác chuyên môn và
duy tu, bảo dưỡng các công trình cơ sở hạ tầng từ kinh phí thường xuyên…
- Chi đầu tư phát triển: Chi mua, đầu tư tài sản vô hình (bằng sáng chế,

phát triển kinh tế - xã hội nhằm đảm bảo nâng cao cuộc sống của con người.
Như vậy, có thể nói, đầu tư cho giáo dục chính là đầu tư và con người, vì con
người và cho sự phát triển của con người.
Hai là, đầu tư giáo dục là đầu tư phát triển.
Giáo dục không chỉ là mục đích và còn lại điều kiện cho sự phát triển
kinh tế - xã hội. Giáo dục được xem như là một bộ phận của cơ sở hạ tầng xã
hội, nền tảng quan trọng và điều kiện không thể thiếu cho sự phát triển kinh tế
nhanh và bền vững. Vai trò của giáo dục đối với phát triển kinh tế - xã hội
ngày càng trở nên quan trọng hơn trong bối cảnh thế giới đang chuyển sang
nền kinh tế tri thức, trong đó tri thức và thông tin trở thành những yếu tố hàng
đầu và là nguồn tài nguyên vô giá cho sự phát triển.
Kinh nghiệm thực tiễn của thế giới cho thấy, những nước nghèo muốn
tăng trưởng kinh tế nhanh và rút ngắn thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hóa
cần đặc biệt chú trọng nâng cao trình độ học vấn của người dân. Tổ chức
UNESCO đã rút ra nhận định với nội dung: Không có sự tiến bộ và thành đạt
nào có thể tách rời sự tiến bộ và thành đạt trong giáo dục. Quốc gia nào coi
nhẹ giáo dục hoặc không đủ tri thức và khả năng cần thiết để làm giáo dục
một cách có hiệu quả thì tụt hậu so với sự phát triển cảu thế giới là điều khó
tránh khỏi.
Nhận thức được vai trò lớn của giáo dục đối với sự phát triển kinh tế -


16
xã hội, đảng và Nhà nước ta đã sớm có quan điểm coi “Giáo dục là quốc sách
hàng đầu” và “Phát triển giáo dục - đào tạo là một trong những động lực quan
trọng thúc đẩy sự công nghiệp hoá, hiện đại hoá, là điều kiện để phát huy
nguồn lực con người - yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế
nhanh và bền vững”.
Ba là, đầu tư phát triển giáo dục là sự nghiệp của toàn xã hội.
Giáo dục là quyền được thụ hưởng của con người, những mỗi người


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status