Mở đầu
Ngoài tính chất hướng tâm phi ngã, văn học trung đại còn có tính chất ly tâm
hữu ngã trong việc thể hiện thế giới nội cảm, riêng tư của con người. Con người trong
văn học trung đại không chỉ là con người phận vị mà còn là con người cá nhân với
những nỗi niềm rất thật, rất nhân bản. Việc thể hiện con người cá nhân trong văn học
trung đại, nhất là giai đoạn sau này đã tạo nên giá trị vĩnh hằng trong những kiệt tác
văn chương bất hủ của một thời. Và, Tú Xương đã thực sự ghi dấu ấn sâu đậm trong
tiến trình lịch sử dân tộc và neo đậu trong lòng người yêu thơ bao thế hệ bằng cái Tôi
thức tỉnh ý thức cá nhân. Sự ý thức về cái tôi cá nhân của nhà nho thị dân Tú Xương
thể hiện rõ qua việc cái “tôi” trở thành một đề tài lớn trong thơ ông. Với kiểu bộc lộ
cái tôi bản ngã, Tú Xương đã hoàn toàn thoát ra khỏi quy phạm tỏ lòng, nói chí của
thơ nhà Nho, vượt lên những khuôn sáo trong cách thể hiện con người, tạo nên một
kiểu hình mới về con người cá nhân bản ngã.
Tìm hiểu Biểu hiện của con người cá nhân trong thơ Tú Xương là một con
đường quan trọng để đánh giá vị trí, vai trò và tầm ảnh hưởng của nhà thơ này trong
tiến trình lịch sử văn học Việt Nam.
1
Nội dung
1. Những vấn đề lí luận chung
1.1. Con người cá nhân trong văn học
1.1.1 Giới thuyết về con người cá nhân trong
văn học
Con người cá nhân trong văn học là gì? Con người cá nhân trong văn học là sự
phản ánh cái tôi của tác giả, là sự giãi bày, diễn tả thế giới tư tưởng, tình cảm riêng tư
của tác giả. Nói cách khác, con người cá nhân trong văn học chính là sự tự khắc họa
tâm tư, tình cảm, ý chí của tác giả được thể hiện thông qua những tác phẩm mà họ
quan, năng lực tưởng tượng, hư cấu ... của nhà văn.
1.1.2
Con người cá nhân trong văn học trung đại Việt Nam
1.1.2.1 Những tiền đề lịch sử - xã hội ảnh hưởng đến việc hình thành hình tượng con
người cá nhân trong văn học Việt Nam trung đại
•
Cơ sở lịch sử, xã hội, kinh tế, văn hoá
Năm 1497, vị minh quân Lê Thánh Tông băng hà, nhà Lê bắt đầu bước vào
thời kỳ khủng hoảng. Quốc gia phong kiến bước vào một cuộc khủng hoảng nghiêm
trọng và kéo dài. Trong ba mươi năm (1497 - 1527), có đến sáu hoàng đế nhà Lê thay
nhau ở ngôi. Năm 1527, Mạc Đăng Dung lật đổ nhà Lê, lập nên nhà Mạc. Từ đây bắt
đầu cuộc tranh giành Lê - Mạc. Chiến tranh Lê - Mạc vừa dứt, lại bắt đầu cuộc chiến
Trịnh - Nguyễn. Cuối cùng hai bên lấy sông Gianh làm giới tuyến.
Sang thế kỉ XVIII, lịch sử, xã hội Việt Nam có những biến động lớn. Dưới sự
thống trị của triều đình phong kiến chuyên chế, cùng với sự áp bức bóc lột của bọn
quan lại, cường hào địa phương, đời sống của người nông dân ngày càng bần cùng
khổ sở. Tình hình đó đã tất yếu dẫn tới sự bùng nổ hàng loạt các cuộc nông dân khởi
nghĩa nhằm lật đổ bộ máy thống trị chuyên chế. Đỉnh cao là cuộc khởi nghĩa của ba
anh em nhà Tây Sơn (1771 - 1802).
Sau khi Quang Trung Nguyễn Huệ đột ngột qua đời, triều đình Tây Sơn lại lục
đục mâu thuẫn. Điều kiện đó đã tạo cơ hội cho Nguyễn Ánh nhanh chóng giành lại
quyền cai trị đất nước. Do sự bảo thủ, bế quan toả cảng nghiêm ngặt, năm 1858 bằng
nhiều lý do khác nhau, Pháp nổ súng xâm lược Việt Nam. Lịch sử dân tộc bước sang
trang mới.
Kinh tế và văn hoá cũng có nhiều biến động. Với tiềm lực lao động mạnh mẽ
của nhân dân lao động cùng với chính sách khuyến khích thương nghiệp của các chúa
Trịnh, nền kinh tế hàng hóa nước ta ở TK XVII đã có nhiều chuyển biến; thành thị trở
táo. Đề cao và bảo toàn Danh - Tiết là đặc điểm cơ bản, chủ đạo trong ý thức, tư
tưởng của tác giả ẩn dật. Để thực hiện điều này trước hết họ tìm đến một môi trường,
một không gian vô trần, cô tịch, tránh mọi mối liên hệ xã hội. Họ coi thường danh lợi,
quên cả dòng thời gian thế sự, tự nhận về mình bao nhiêu thứ dại dột, ngu hèn, tăm
tối (chỉ là một cách nói phản ngữ). Hình tượng nhà Nho giữ Tiết là hình tượng đẹp
nhất trong sáng tác của tác giả ẩn dật.
Khác với hai loại trên, nhà Nho tài tử ra đời muộn (từ thế kỉ XVIII), khi trong
xã hội đã xuất hiện những yếu tố mới: đô thị, tư tưởng thị dân. Con người phát hiện ra
mình là một thực thể tồn tại thực sự với những nhu cầu, khát vọng sống cá nhân. Nhà
Nho tài tử, gốc, dĩ nhiên vẫn là Nho nhưng càng ngày càng xa rời những quy phạm,
chuẩn mực khắt khe, giáo điều của đạo lý Nho giáo. Giá trị cao nhất trong quan niệm
về con người, về nhân sinh đối với họ là Tài (nhất là tài văn chương nghệ thuật cầm,
kỳ, thi, hoạ) và Tình (đặc biệt là tình đối và giai nhân). Tài gắn liền với Tình, với Sắc,
với hưởng thụ. Kiểu tác gia này rất nhạy cảm với các vấn đề mới nảy sinh, trong đó tự
ý thức về bản thân mình, khẳng định cái tài hoa, độc đáo, sự sáng tạo trong nghệ thuật
là khát vọng vươn tâm thời đại lúc bấy giờ.
4
-
Thứ hai, truyền thống trữ tình của văn học dân tộc và sự trỗi dậy của những tư tưởng,
tình cảm mới, văn học Việt Nam, đặc biệt là văn học trung đại, đậm tính trữ tình. Đây
là cơ sở tốt nhất để các tác giả tự bộc lộ tư tưởng, tình cảm cá nhân của riêng mình.
Từ thế kỉ XVI, đặc biệt là từ thế kỉ XVIII, con người luôn sống trong tâm trạng lo âu,
phấp phỏng, sầu buồn, họ chìm trong triền miên đau khổ bởi nhiều nguyên nhân, mà
nguyên nhân sâu xa gây nên là các thế lực thống trị. Chính vì thế chưa bao giờ hình
tượng con người cá nhân xuất hiện trong văn học nhiều như thế. Thời kỳ này, con
người phát hiện ra mình là một thực thể tồn tại thực sự với tất cả những nhu cầu khát
vọng cao nhất của nó.
Thứ hai, con người cá nhân với nhu cầu bộc lộ tình cảm riêng tư, tâm sự u ẩn:
Thơ Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, các nhân vật trong Truyền kỳ mạn
lục (Nguyễn Dữ), …
Rồi hóng mát thuở ngày trường
Hoè lục đùn đùn tán rợp giương
Thạch lựu hiên còn phun thức đỏ
Hồng liên trì đã tiễn mùi hương
Lao xao chợ cá làng ngư phủ
Dắng dõi cầm ve lầu tịch dương
Dẽ có Ngu cầm đàn một tiếng
Dân giàu đủ, khắp đòi phương
(Cảnh ngày hè – Nguyễn Trãi)
Thứ ba, con người với khát vọng tự do, bình đẳng, khát vọng tình yêu và hạnh
phúc: thể hiện tiêu biểu trong các ngâm khúc hình thức song thất lục bát như Chinh
phụ ngâm khúc (bản dịch của Đoàn Thị Điểm?); Cung oán ngâm khúc (Nguyễn Gia
Thiều), Ai tư vãn (Lê Ngọc Hân); Tự tình khúc (Cao Bá Nhạ), Thu dạ lữ hoài
ngâm (Đinh Nhật Thận), Bần nữ than (khuyết danh), …
Hồn bay ngàn dặm cũng gần,
Trong năm mươi khắc năm lần thấy cha.
Chợp, sực thức, la đà, gối bị,
Nằm, lại ngồi, rầu rĩ chiếu manh,
Hoá công khéo giữ nhân tình,
Đem người yên thuỷ bỏ vành lao lung!
(Tự tình khúc – Cao Bá Nhạ)
Thứ tư, cảm hứng hành lạc và khát vọng nhu cầu trần thế của con người cá
nhân. Tất cả chuyện phòng the, chăn gối được Hồ Xuân Hương mở màn như phát
súng lệnh:
Bốn mảnh quần hồng bay phất phới
Hai hàng chân ngọc duỗi song song
Hay:
nói, hình tượng con nhân cá nhân chiếm ưu thế tuyệt đối so với con người công dân.
Xét ở cấp độ ngôn từ: nếu hình tượng con người công dân gắn liền với những
hình ảnh và từ ngữ mang tính điển phạm thì hình tượng con người cá nhân gắn liền
với lớp từ thuần Nôm, dân gian, từ tự xưng, thậm chí cả những câu chửi, tiếng gào,
…
Chém cha cái kiếp lấy chồng chung
7
Nửa đắp chăn bông nửa lạnh lùng
(Làm lẽ - Hồ Xuân Hương)
Đù mẹ nhân tình đù mẹ đời
Lạt như nước ốc, bạc như vôi
(Thói đời – Nguyễn Công Trứ)
Sự manh nha của câu thơ điệu nói: Các nhà thi pháp học cho rằng câu thơ,
giọng thơ của văn học Việt Nam trung đại là câu thơ điệu ngâm. Tức là câu thơ không
thể hiện dấu ấn cá nhân của chủ thể trữ tình. Song, từ thực tế khảo sát văn học Việt
Nam trung đại đặc biệt từ Hồ Xuân Hương trở về sau, chúng tôi thấy đã có sự manh
nha của câu thơ điệu nói.
Ở câu thơ điệu nói các đại từ nhân xưng ngôi thứ nhất, câu thơ điệu nói có thể
cho phép nhà thơ thể hiện rõ ràng, dứt khoát lập trường tư tưởng, tình cảm của cá
nhân trữ tình. Câu thơ trở thành lời nói cá thể, nó có ngữ khí từ, câu hỏi, câu cảm
thán, hướng tới một ai đó, hoặc hướng tới chính người đọc, theo kiểu tự bộc bạch,
tâm sự với bạn bè.
Qua quá trình khảo sát ta có thể khẳng định rằng, con người cá nhân trong văn
học trung đại Việt Nam có một quá trình tự ý thức chậm chạp, lâu dài nhưng mạnh
mẽ. Tuy qua từng thời kì lịch sử có chịu ảnh hưởng của ý thức hệ thống trị đương thời
nhưng không bao giờ đóng khung trong ý thức hệ đó, mà phản ánh quá trình vận
động, giải phóng cá tính của con người trong thực tế đời sống.
1.2
giai đoạn nước mất, nhà tan. Năm 1897, Pháp đặt nền móng cai trị đất nước, xã hội
có nhiều biến động, nhất là ở thành thị. Tú Xương lại sinh ra và lớn lên ở thành thị
vào thời kỳ chế độ thực dân nửa phong kiến được xác lập, nền kinh tế tư bản phát
triển ở một nước thuộc địa làm đảo lộn trật tự xã hội, đảo lộn đời sống tinh thần của
nhân dân.
Việc chủ nghĩa tư bản phương Tây xâm nhập vào Việt Nam đã làm thay đổi
sâu sắc đất nước ta về tất cả mọi mặt: chính trị, kinh tế, văn hoá, đạo đức và xã hội.
Thế nhưng Việt Nam đâu có trở thành một nước tư bản chủ nghĩa thực thụ! Trái lại nó
bị giam hãm trong cơ chế của một nước phong kiến nửa thuộc địa.
Bức tranh xã hội Việt Nam cuối thế kỉ XIX là một bức tranh xám xịt, nham
nhở. Toàn bộ vùng nông thôn rộng lớn vẫn chìm trong đêm tối của cảnh nghèo khốn,
lạc hậu. Còn ở các vùng kẻ chợ như Hà Nội và Nam Định (quê Tú Xương) thì phơi
bày một cảnh đời đồi bại và lố lăng.
Nguyễn Khuyến trước thi đỗ là một thôn dân sau khi từ quan về ở ẩn, lại tiếp
tục sống ở nông thôn. Quê ông là một vùng chiêm trũng hễ cứ mưa là lụt. Mà lụt thì
làng xóm lập tức biến thành cô đảo, cắt đứt liên lạc với các làng khác. Còn cảnh quan
mùa khô là những ao chuôm, những ngõ nhỏ tre pheo heo hút. Nguyễn Khuyến, như
vậy, là gắn cả đời mình với tư tưởng và tình cảm của người nông dân, với quê hương
làng cảnh Bắc Bộ. Ông là một nhà nho nông thôn. Tú Xương, ngược lại, cả đời sống
ở đô thị, hay ít nhất cũng ở một làng ven đô nay đã đô thị hóa: “Trời xui khiến vậy
sông nên bãi/ Ai khéo xoay ra phố cả làng”. Ông rõ ràng là một nhà nho đô thị, thậm
chí đô thị hiện đại (thành thị).
9
Như vậy, Tú Xương là một nhà nho không gặp thời, sống trong hoàn cảnh Nho
học suy tàn đang chuyển sang Tây học. Ông là người có tài, chữ tốt văn hay nhưng trí
óc ngang tàng, không thể ép mình vào cái quy chế cổ hủ, bó buộc của khoa trường cũ
rích, nên bước khoa cử cứ lận đận và cuộc đời cũng gặp nhiều khó khăn cũng như
người dân Việt Nam lúc bấy giờ dưới chế độ thực dân nửa phong kiến.
10
đầy cá tính như trong thơ văn Tú Xương. Đó chính là “sự gặp gỡ không hẹn mà nên”
giữa thơ Tú Xương với các trường phái văn học phương Tây.
Thơ văn Tú Xương cũng hàm chứa những tình cảm vô cùng sâu sắc: Những
nối ưu tư với số phận của đất nước, với nền văn học và đạo đức của dân tộc, với
những thiên tai, với muôn ngàn cảnh khổ của con người và nỗi đau đớn dằn vặt khôn
xiết kể của chính nhà thơ. Thơ văn Tú Xương còn ghi lại hình ảnh người vợ mà nhà
thơ vô cùng yêu quí. Đó là hình ảnh của một phụ nữ Việt Nam điển hình, cho đến nay
vẫn khiến chúng ta rung cảm.
Về nghệ thuật, thơ Tú Xương đạt tới đỉnh cao bậc nhất ở thời đại ông. Tú
Xương hầu như hoàn toàn chỉ sáng tác thơ nôm. Ông là người khẳng định triệt để giá
trị và khả năng to lớn của tiếng Việt. Ông được người đời sau tôn là bậc “thần thơ
thánh chữ”. Ngôn từ của ông tài tình không kém nữ sĩ Hồ Xuân Hương trước kia
nhưng phong phú hơn. Tính chất trào phúng vốn có nguồn gốc sâu xa trong bản tính
của con người Việt Nam, đến Tú Xương đã được sử dụng triệt để và tung hoành như
một lợi khí sắc bén. Tiếng cười trong thơ Tú Xương mạnh mẽ, luôn tạo nên những
“cú chết bất ngờ” cho kẻ nào bị ông đả kích. Tú Xương, cũng như Vũ Trọng Phụng
sau này, có biệt tài đưa những mảng hiện thực gần như trần trụi của cuộc sống vào
trong thơ văn, vậy mà lại tạo ra được những tác phẩm hay đến mức thần tình.
Tú Xương mất đã gần 110 năm, vậy mà văn thơ của ông đối với chúng ta hôm
nay vẫn gần gũi, vẫn sống động vô cùng.
2.
Nội dung biểu hiện con người cá nhân trong thơ Trần Tế Xương
2.1. Con người ý thức về tài năng, nhân cách
Nói đến cái tôi là nói đến một tính cách mạnh mẽ, sắc bén, ưu việt, đầy cá tính.
Chính vì vậy, cái tôi trước hết thuộc về “những đấng tài hoa” trong đời.
Tú Xương là người có đầy đủ bản lĩnh để khẳng định cái tôi của mình:
Cái ngông của Tú Xương rất tự nhiên, rất dễ dàng vì nó xuất phát từ tính cách,
từ cuộc đời và cũng có phần từ xã hội. Sự bất minh trong thi cử cộng với tính cách
phóng khoáng, ngông nghênh của mình mà Tú Xương có đến tám lần hỏng thi nhưng
ông vẫn ý thức rất rõ tài năng của mình:
Rõ thực Nôm hay mà chữ tốt
Tám khoa chưa khỏi phạm trường quy.
(Buồn thi hỏng)
Văn hóa Nho giáo – một thứ “văn hóa xấu hổ”, nhằm thức tỉnh lòng tu ố của
con người, để con người tự điều chỉnh hành vi sao cho phù hợp với những chuẩn mực
đạo đức xã hội. Xã hội đó rất trọng cái danh, “danh bất chính, tắc ngôn bất thuận”,
cho nên “Nam nhi vị liễu công danh trái; tu thính nhân gian thuyết Vũ Hầu”. Tú
12
Xương cũng bị ảnh hưởng bởi tư tưởng đó, cho nên ông cũng quyết một lần “vinh
quy”:
Ta phải trả xong cái nợ ta
Lẽ đâu chịu nợ mãi ru mà”
….
“Mở mắt quyết cho vua chúa biết
Đua danh kẻo nữa mẹ cha già.
Qua những lời thơ trên, Tú Xương đã khắc họa hình ảnh một con người đầy
bản ngã, luôn ý thức về mình. Một con người với những phẩm chất tốt đẹp, những ý
chí và hoài mộng thiết tha muốn làm nên sự nghiệp phục vụ nước nhà. Mặc dù những
hoài mộng không thành, Tú Xương chỉ có thể cất lên tiếng chửi đời, bó tay bất lực
trước thời cuộc, nhưng với bản ngã ấy Tú Xương đã thực sự khẳng định được mình.
Ông tự phô mình trong mọi góc cạnh, Tú Xương đã phác họa nên một chân dung của
chính mình một cách độc đáo và đặc sắc.
Tài hoa và ngông nghênh là hai đặc điểm nổi bật và tồn tại song song trong con
Cái thú cô đầu nghĩ cũng hay,
Cùng nhau dan díu mấy đêm ngày.
Năm canh to nhỏ tình dơi chuột,
Sáu khắc mơ màng chuyện nước mây…
(Thú cô đầu)
Ngày xuân mừng quí khách,
Khi vui, lọ đàn phách!
Chuyện nở như pháo rang,
Chuyện dai như chão rách,
Đổ cả bốn chân giường,
Xiêu cả một bức vách!
(Tết tặng cô đầu)
Lòng ham vui, yêu đời ấy quả thật là nét nổi bật của cái tôi nơi Tú Xương
khiến hình ảnh ông mãi mãi không phai mờ trong tâm tưởng của chúng ta.
Một con người có bản tính vui tươi như thế mà rốt cuộc phải lìa đời trong
những nỗi buồn bã chán chường: điều ấy cho thấy cái xã hội thời Tú Xương đã tàn tạ,
ảm đạm và ngột ngạt đến mức nào!
Tuy nhiên ta cũng cần lưu ý rằng không nên đồng nhất giữa tác phẩm và tiểu
sử của nhà thơ bởi trên thực tế ta không có một Tú Xương ăn chơi, bất cần đời như
vậy. Việc cường điệu, nói quá sự ăn chơi của mình rõ ràng là dụng ý của nhà thơ một
mặt nhằm đạt hiệu quả trào phúng cho thể loại này, mặt khác để bày tỏ sự khinh bỉ
của ông trước thực tại xã hội đen tối. Và ông đã thực sự thành công khi độc giả đến
với thơ ông mà không hề thấy khinh ghét những tật xấu của ông, không thấy coi
thường sự nghiệp công danh “ăn lương vợ”, cũng không oán trách ông bất lực trước
14
hoàn cảnh gia đình và xã hội mà từ đó người ta có cái nhìn đúng đắn hơn về thời
cuộc, hiểu được tấm lòng, con người của Tú Xương trong một thời đại đầy biến động
như vậy.
15
Cao lầu thường ăn quỵt
Thổ đĩ lại chơi lường
Ở phố Hàng Nẫu có phỗng sành
Mắt thời thao láo mặt thời xanh
Vuốt râu nịnh vợ con bu nó,
Quắc mắt khinh đời, cái bồ anh
Bài bạc, kiệu cờ cao nhất xứ
Rượu chè, trai giá đủ tam khoanh
Thế mà vẫn nghĩ rằng ta giỏi
Cứ việc ăn chơi chẳng học hành
(Tự cười mình)
Ông lôi tất cả những cái xấu của bản thân mình ra mà phô bày với thiên hạ,
không một chút giấu giếm. Qua những vần thơ của ông, bản thân ông hiện lên là một
người với đầy đủ tật xấu, nào là thích bài bạc, rượu chè, chỉ lo hưởng thụ cho bản
thân mà không chịu học hành. Hết kể những tật xấu của mình ra ông lại mang cả
những sở thích của bản thân ra mà cười cợt:
Nghiện chè, nghiện rượu, nghiện cả cao lâu,
Hay hát, hay chơi, hay nghề xuống long
Quanh năm phong vận, áo hàng Tàu, khăn nhiễu tím, ô Nhật Bản xanh
Ra phố nghênh ngang, quần tố nữ, bít tất tơ, giày Gia Định bóng
(Phú hỏng thi)
Bằng giọng điệu trào phúng, mọi khía cạnh của bản thân ông đều trở nên xấu
xí để làm đối tượng trào lộng. Hết những ăn chơi ông quay sang kể dến những sự dốt
nát của bản thân để cợt nhả:
Tấp tểnh người đi tớ cũng đi
Cũng lều cũng chõng cũng đi thi
Tiễn chân cô mất ba đồng chẵn,
(Thương vợ)
Thật ra nhà thơ không phải là một kẻ dốt nát như ông tự bôi nhọ vì thời thế làm
cho ông bất đắc chí. Mỗi lần thi hỏng là một lần nhà thơ trượt dốc. Để rồi tự chửi
mình, tự thoá mạ mình, đồng thời thoá mạ xã hội. Nhà thơ mỉa mai cảnh nhốn nháo
nơi trường thi, mỉa mai những kẻ hỏng thi trong đó có mình. Qua những vần thơ tự
trào, bằng cách tự chế giễu, bôi nhọ những cái xấu xa hèn kém hay có những khi tỏ ra
ngông nghênh trước cuộc đời. Ông tự hạ mình xuống nhưng không phải là để tự đề
cao. Bằng cách ấy, Tú Xương đã tạo ra một tiếng cười của riêng mình, một người tự
trào “phi ngôn chí”. Không hề là một kiểu cười bông phèng, cười mua vui và không
chỉ dừng lại với nhu cầu “tự giải thoát”, tiếng cười của ông có mục đích và có đối
tượng rõ ràng. Tiếng cười trong thơ tự trào của Tú Xương cũng không phải là một
tiếng cười đơn nhất một giọng mà là tiếng cười lắm cung bậc, nhiều sắc thái, vừa nhẹ
17
nhàng vừa uyển chuyển. Nguyễn Đình Chú cho rằng: “Tú Xương làm cho tiếng cười
trong thơ mình trở nên đặc sắc vào loại nhất trong thơ ca dân tộc. Nói đặc sắc nhất
cũng là nói đến cái bản sắc riêng, cái tính đa thanh, lắm giọng”. Đọc những bài thơ tự
trào của Tú Xương, ta thấy một hình tượng ông Tú tự trào với giọng thơ ngông nhưng
cũng đầy nước mắt.
2.4. Con người bế tắc, tuyệt vọng
Tú Xương là người thông minh, tài hoa nhưng hoạn lộ của ông không mấy
suôn sẻ, công phu mười năm đèn sách, tám lần lều chõng nhưng chỉ đỗ tú tài:
“Thế mới biết học tài thi phận,
Miệng đàn bà con trẻ thế mà thiêng
Nào ai ngờ chữ tốt văn hay, tài bảng nhãn thám hoa lỡ ra cũng hỏng.”
(Phú hỏng thi năm Canh Tý)
Phẩm cách sĩ phu thôi thúc ông phải đỗ đạt, phải “lăm le bia đá bảng vàng cho
vang mặt vợ”. Tú Xương đã không tìm ra được một con đường tiến thân đúng đắn.
Những bế tắc về tư tưởng, về công danh, và cảnh khốn cùng đã khiến ông phẫn chí,
được với cái cuộc đời rối ren vô nghĩa thời buổi bấy giờ nữa, nó đã lặng lẽ bỏ đi trong
một cơn buồn lai láng:
Trời không chớp bể với mưa nguồn,
Đêm nảo đêm nao tớ cũng buồn.
Bối rối tình duyên cơn gió thoảng,
Nhạt nhèo quang cảnh bóng trăng suông.
Khăn khăn áo áo thêm rầy chuyện,
Bút bút nghiên nghiên khéo giở tuồng.
Ngủ quách, sự đời thây kẻ thức,
Bên chùa chú trọc đã khua chuông.
(Đêm buồn)
Một nhân cách lớn và một tài năng lớn như Tú Xương lẽ nào lại chịu “tan nát
với cỏ cây”? Tú Xương đã, không phải “nhả ngọc phun châu” mà nhả đạn ra ngoài
miệng bắn phá cái cuộc đời xấu xa bẩn thỉu đang diễn ra xung quanh ông. Ông đã trút
vào văn thơ tất cả những nỗi ưu uất của lòng mình.
2.5. Con người với lòng yêu nước thầm kín
Tú Xương là một con người có đầy đủ lương tri và bản lĩnh của một trí thức
Việt Nam phong kiến chân chính. Tú Xương có tài văn chương xuất chúng, có cái
TÂM của một nhà nhân đạo chủ nghĩa, yêu nước, thương xót giống nòi; có cái TRÍ
của một người lỗi lạc biết được cái gì có thể chấp nhận và cái gì phải phủ nhận trên
thế giới này; có cái HỒN của một nhà lãng mạn chủ nghĩa tầm vóc nhân loại.
Tú Xương, một kẻ đi thi và hỏng thi “chuyên nghiệp”, một cách tự nhiên đã
chọn cho mình một góc quan sát thời cuộc qua sự suy tàn của Nho giáo và tầng
lớp sĩ. Hơn nữa, sống trong lòng một đô thị đang Âu hóa mạnh mẽ, từ lối sống “tối
rượu sâm banh, sáng sữa bò” đến sự thay đổi văn tự “vứt bút lông đi giắt bút chì”, mà
sự đổi thay văn tự nào thì sớm muộn cũng dẫn đến thay đổi văn hóa, và điều này đã
19
nhãn tiền diễn ra trong cảnh lễ xướng danh vốn thiêng liêng: “Trên ghế bà đầm ngoi
( Ðêm dài)
20
Ðiểm sáng nhất, xúc động nhất trong thơ ông là ở tình này. Ðó là tình cảm của
ông đối với quê hương đất nước. Tú Xương vẫn là người nặng tình đời và tha thiết
với cuộc sống. Mặc dù có lúc ông đâm ra bối rối, lạc lõng, mất phương hướng trước
bao biến đổi của thời cuộc:
Hỏi người chỉ thấy non xanh ngắt,
Ðợi nước càng thêm tóc bạc phơ
Ðường đất xa khơi ai mách bảo?
Biết đâu mà ngóng dến bao giờ?
(Lạc đường)
Lòng yêu nước của Tú Xuơng còn thể hiện qua sự khâm phục của Tú Xương
đối với những người có tài, có đức ra cứu đời, giúp nước:
Vá trời gặp hội mây năm vẻ
Lấp bể ra công đất một hòn
(Gửi cụ thủ khoa Phan)
Tuy không đủ dũng khí để đi vào cuộc cách mạnh như bao nghĩa sĩ yêu nước
khác nhưng ông có cảm tình nồng hậu đối với những người làm cách mạng. Hình ảnh
Phan Bội Châu vá trời, lấp bể đã đến với Tú Xương bằng tất cả sự kính mến, khâm
phục.
Thái độ bất hợp tác với thực dân Pháp, đau lòng với thực tại, Tú Xương không
ít lần muốn chạy trốn. Ông muốn “đui con mắt” như Nguyễn Đình Chiểu:
Muốn mù trời chẳng cho mù
Giương mắt trông chi buổi bạc tình
(Đau mắt)
Hay tìm sự vỗ về của tôn giáo, để lẩn tránh thực tại, quên đi thực tế:
Gần chùa gần cảnh ta tu quách
phong trào Thơ mới, nên gì thì gì, Tú Xương cũng chỉ có cách trổ tài qua thơ Đường
luật. Song bản lĩnh và ý chí tự do của nhà thơ non Côi sông Vị là ở chỗ, trong khi bị
gò bó bởi thi luật cổ điển, Tú Xương vẫn tìm đủ cách để công phá nó.
Bức sốt nhưng mình vẫn áo bông
Tưởng rằng ốm dậy, hóa ra không!
Một tuồng rách rưới con như bố
Ba chữ nghêu ngao, vợ chán chồng .
Đất biết bao giờ sang vận đỏ
Trời làm cho bõ lúc chơi ngông
Gần chùa gần cảnh ta tu quách
Cửa phật quanh năm sẵn áo sồng
(Mùa nực áo bông)
Đọc thơ đường luật của Tú Xương, người ta không còn thấy tính quy phạm,
khuôn sáo, thay vào đó là sự nôm na, bình dị. Với sự phá cách thể thơ được xem là
khuôn mẫu, mực thước bậc nhất đó, con người cá nhân của ông Tú đã được bộc lộ
22
một cách tự nhiên, sinh động. Tú Xương vẫn còn làm theo thể thơ cổ, nhưng ông vẫn
bộc lộ cá tính và phong cách của mình qua việc phá cách, sáng tạo trong quá trình
sáng tác. Mặc dù thể thơ Đường luật đòi hỏi người làm thơ ở các quy tắc nghiêm
ngặt. Tú Xương là một nhà thơ kì tài, một mặt ông tuân thủ chặt chẽ vận luận của thơ
Đường, mặt khác ông lại có sự phá cách rất độc đáo, tinh tế nhằm thể hiện những vấn
đề cốt lõi trong thơ của mình.
Không chỉ ở thơ tự trào, loại thơ thế trào cũng được ông viết bằng loại thất
ngôn Đường luật phá cách ấy. Trong bài Bỡn ông Điềm, Tú Xương viết:
Tôi hỏi thăm ông đến tận nhà
Trước nhà có miếu có cây đa
Cửa hè sân ngõ chừng ba thước
Nứa lá tre pheo đủ một tòa
3.2. Ngôn ngữ
Cái tôi cá nhân trong thơ Tú Xương được nhà thơ thể hiện bằng một lớp ngôn
ngữ hết sức độc đáo:
- Từ xưng hô
Có lúc nhà thơ xưng “ta”:
Nằm nghe tiếng trống, trống canh ba
Vừa giấc chiêm bao chợt tỉnh ra
Thiên hạ dễ thường đang ngủ cả
Việc gì mà thức một mình ta?
(Chợt giấc)
Có lúc Tú Xương xưng “ông” để tách riêng mỗi cá thể trong xã hội, để tự
khẳng định giá trị của cá nhân:
Lẳng lặng mà nghe nó chúc nhau:
Chúc nhau trăm tuổi bạc đầu râu.
Phen này ông quyết đi buôn cối
Thiên hạ bao nhiêu đứa giã trầu
(Chúc Tết)
Có lúc nhà thơ xưng “tôi” và mạnh mẽ cất lên tiếng nói phê phán thói xấu của
xã hội đương thời:
Sĩ khí rụt rè gà phải cáo,
Văn chương liều lĩnh đấm ăn xôi .
Tôi đâu dám mỉa làng tôi nhỉ ?
Trình có quan tiên thứ chỉ tôi.
(Cái học nhà Nho)
Những lúc vui đùa, giễu cợt, mỉa mai, Tú Xương lại xưng “tớ”:
Ấm Kỉ này đây, tớ bảo này:
Cha con mày phải cái này cay!
24
mất dần niềm tin với Nho giáo, là sự phản ứng với những thay đổi mau chóng của
thời cuộc.
25