Nghệ thuật thể hiện con người cá nhân trong thơ chữ hán cao bá quát - Pdf 31

Tr­êng §HSP Hµ Néi 2

Khãa luËn tèt nghiÖp
LỜI CẢM ƠN

Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và lòng biết ơn sâu sắc nhất tới cô
giáo Nguyễn Thị Tính - người trực tiếp hướng dẫn, chỉ bảo tận tình giúp tôi
hoàn thành khóa luận này.
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới tất cả các thầy cô giáo trong khoa Ngữ
văn, đặc biệt là thầy cô trong tổ Văn học Việt Nam và các bạn sinh viên đã
giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành khóa luận.

Hà Nội, tháng 5 năm 2011
Người thực hiện

Lưu Thị Vân

L­u ThÞ V©n

3

K33A Ng÷ V¨n


Tr­êng §HSP Hµ Néi 2

Khãa luËn tèt nghiÖp

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng:

7. Bố cục của khóa luận……………………………………………………….. 13
NỘI DUNG…………………………………………………………………… 14
CHƯƠNG 1: NGÔN NGỮ NGHỆ THUẬT THỂ HIỆN CON NGƯỜI
CÁ NHÂN TRONG THƠ CHỮ HÁN CAO BÁ QUÁT…………………… 14
1.1. Về khái niệm ngôn ngữ nghệ thuật……………………………………….. 14
1.2. Ngôn ngữ nghệ thuật thể hiện con người cá nhân trong thơ
chữ Hán Cao Bá Quát………………………………………………………… 15
1.2.1. Những đại từ chỉ ngôi thể hiện con người cá nhân………………………15
1.2.2. Những đại từ chỉ số ít khi nói về bản thân……………………………… 24
CHƯƠNG 2: HÌNH TƯỢNG NGHỆ THUẬT THỂ HIỆN CON NGƯỜI
CÁ NHÂN TRONG THƠ CHỮ HÁN CAO BÁ QUÁT…………………… 31
2.1. Về khái niệm hình tượng nghệ thuật……………………………………… 31
2.2. Những hình tượng nghệ thuật thể hiện con người cá nhân
trong thơ chữ Hán Cao Bá Quát………………………………………………. 32
2.2.1. Những hình tượng tự họa ngoại hình, tuổi tác………………………….. 32
2.2.1.1. Những hình tượng tự họa ngoại hình…………………………………. 32
2.2.1.2. Những hình tượng tự họa tuổi tác và từng quãng đời cá nhân………... 44
2.2.2. Những hình tượng tự họa tính cách cá nhân……………………………. 48

L­u ThÞ V©n

5

K33A Ng÷ V¨n


Tr­êng §HSP Hµ Néi 2

Khãa luËn tèt nghiÖp


tác phẩm dù ở thời đại nào, dù đã tự giác hay chưa tự giác nhận thức cái tôi cá
nhân thì tác phẩm vẫn là con đẻ của người nghệ sĩ, là kết quả của sự tự ý thức,
tự đánh giá, tự miêu tả. Nó gắn liền với cá tính sáng tạo và tài năng của mỗi
nhà văn. Vì vậy, nghiên cứu con người cá nhân trong thơ Cao Bá Quát sẽ giúp
chúng ta hiểu sâu sắc hơn về bản thân tác giả, thấy được đóng góp của nhà
thơ trong lịch sử dân tộc.
Xưa nay, vấn đề con người cá nhân trong thơ chữ Hán Cao Bá Quát chưa
được xem xét như một đề tài riêng biệt. Giới nghiên cứu mới chỉ dừng lại vấn
đề này ở phương diện quan niệm về con người cá nhân của Cao Bá Quát. Còn
Nghệ thuật thể hiện con người cá nhân chưa có một công trình nào tập
trung bàn đến một cách toàn diện, hệ thống. Điều này tạo ra một sự thiếu toàn
diện trong nghiên cứu con người cá nhân trong thơ chữ Hán của ông. Bởi lẽ
nội dung và hình thức trong văn học gắn bó hữu cơ với nhau, tạo thành một
chỉnh thể nghệ thuật. Quan niệm về con người cá nhân trong thơ chữ Hán Cao
Bá Quát sẽ có nghệ thuật thể hiện tương ứng. Chọn đề tài này, tác giả khóa

L­u ThÞ V©n

7

K33A Ng÷ V¨n


Tr­êng §HSP Hµ Néi 2

Khãa luËn tèt nghiÖp

luận muốn góp thêm những kết luận chính xác về con người cá nhân trong thơ
chữ Hán của ông cũng như những đóng góp của tác giả này về nghệ thuật thể
hiện con người cá nhân trong văn học trung đại. Từ đó khẳng định vị trí, tài



Tr­êng §HSP Hµ Néi 2

Khãa luËn tèt nghiÖp

“Dường như viết về bất cứ đề tài gì, Cao Bá Quát đều thể hiện rõ nét con
người cá nhân của mình” [18, tr. 558].
Có thể nói qua các công trình nghiên cứu, quan niệm về con người cá
nhân trong thơ chữ Hán Cao Bá Quát đã được khẳng định, lí giải, phân tích
khá sâu sắc. Riêng Nghệ thuật thể hiện con người cá nhân ông trong thơ thì
dường như còn là vấn đề mới mẻ. Nó đã được đề cập trong lịch sử nghiên cứu
tác giả này nhưng khá ít và chưa sâu sắc, chưa trở thành một chuyên luận
riêng mà mới dừng ở mức miêu tả chung chung cùng với những vấn đề khác
về cuộc đời và thơ ca của ông. Chúng ta có thể thấy rõ điều đó qua một số bài
nghiên cứu ngôn ngữ nghệ thuật, hình tượng nghệ thuật trong thơ chữ Hán
Cao Bá Quát.
2.1. Nghiên cứu ngôn ngữ nghệ thuật thể hiện con người cá nhân
Ngôn ngữ nghệ thuật thể hiện con người cá nhân Cao Bá Quát có rất ít
tác giả tập trung nghiên cứu. Bài viết đáng chú ý nhất trong xu hướng nghiên
cứu này là của Nguyễn Tài Thư. Ông nhận xét: “Một phương diện khác cho
thấy đặc trưng của thơ ca Cao Bá Quát, đó là ngôn ngữ trong thơ của ông.
Ngôn ngữ đó là ngôn ngữ hình tượng. Nó là phương tiện để thể hiện tư tưởng
và tình cảm của tác giả. Nó đã đạt tới mức độ thể hiện rõ cá tính con người
Cao Bá Quát”. Sau nhận định này, Nguyễn Tài Thư đi sâu phân tích ngôn
ngữ trong thơ Cao Bá Quát về các phương diện: văn tự, tính nhạc, tính hình
ảnh, sự phong phú của vốn từ… Nhìn chung, tác giả bài viết đã có những
nhận xét, phân tích tinh tế, sâu sắc về ngôn ngữ nghệ thuật trong thơ Cao Bá
Quát. Song đó mới là những nhận xét bước đầu. Tác giả chưa đi sâu phân tích
những sắc thái biểu cảm, chất lượng nghệ thuật của các từ ngữ trong từng

đáng: “Cầm hoa sen là để tượng trưng cho phẩm chất của mình chẳng nhuốm
bùn” [15, tr. 403].
Trần Đình Sử khi phân tích bài Dương phụ hành của Cao Bá Quát chỉ
ra sự gửi gắm tình yêu cá nhân, khát vọng cá nhân của Chu Thần qua hình
tượng người thiếu phụ Tây Dương: “Ông khát khao sum họp gia đình và có lẽ
ông cũng khát khao được bộc lộ tình cảm vợ chồng, được có những cử chỉ
thân mật, được giải phóng tình cảm” [10, tr. 272].
Khi bàn đến các hình tượng nghệ thuật trên, các tác giả đều nhận thấy sự
thể hiện kín đáo của con người cá nhân Cao Bá Quát. Tuy nhiên mới dừng lại ở
những nhận định chung chung, nếu có phân tích thì sự phân tích chưa cụ thể.
Tiến sĩ Nguyễn Kim Châu có những phát hiện tinh tế về hình tượng con
đường trong thơ Cao Bá Quát. Đây là một bài viết công phu hơn cả trong việc

L­u ThÞ V©n

10

K33A Ng÷ V¨n


Tr­êng §HSP Hµ Néi 2

Khãa luËn tèt nghiÖp

tìm hiểu hình thức nghệ thuật có đề cập đến con người cá nhân trong thơ ông.
Tác giả bài viết nhận thấy: “Hình tượng không gian có tính ám ảnh này in
đậm dấu ấn nhận thức ngày càng sâu sắc về bi kịch phi lí của một tài năng
lớn lao nhưng không được biết đến, không có cơ hội để tung hoành, một con
người ra sức đi mãi mà chẳng tiến được thêm bước nào” [8, tr. 172] từ các số
liệu thống kê cụ thể. Khảo sát 160 bài thơ tác giả nhận thấy: có 11 lần Cao Bá


điểm cơ bản của con người cá nhân Cao Bá Quát trong thơ đã góp phần gợi ý,
định hướng cho tác giả khóa luận thực hiện đề tài này.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Thực hiện đề tài này, chúng tôi hướng đến các mục đích sau:
Nghiên cứu một cách có hệ thống và cụ thể hơn vấn đề nghệ thuật thể
hiện con người cá nhân trong thơ chữ Hán Cao Bá Quát. Từ đó thấy được
thành công về mặt nghệ thuật thể hiện con người cá nhân và sự kế thừa, phát
triển của Cao Bá Quát ở phương diện này trong thơ chữ Hán của ông đối với
quá trình phát triển của văn học Việt Nam.
Góp phần phục vụ cho việc giảng dạy về tác gia và tác phẩm Cao Bá
Quát ở trường phổ thông sau này.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Khóa luận tập trung giải quyết một số nhiệm vụ sau:
- Tìm hiểu, phân tích nghệ thuật thể hiện con người cá nhân trong thơ
chữ Hán Cao Bá Quát về các mặt: ngôn ngữ nghệ thuật, hình tượng nghệ
thuật.
- Tìm ra nét độc đáo trong nghệ thuật thể hiện con người cá nhân của
Cao Bá Quát trong thơ chữ Hán của ông bằng cách đối sánh với các tác gia
trung đại khác.
- Rút ra kết luận về con người cá nhân và nghệ thuật thể hiện con người
cá nhân trong thơ chữ Hán Cao Bá Quát.
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng
Thơ chữ Hán của Cao Bá Quát.
Những bài thơ, những câu thơ trực tiếp thể hiện ngôn ngữ, hình tượng
nghệ thuật bộc lộ con người cá nhân trong Cao Bá Quát toàn tập, (tập 1).

L­u ThÞ V©n

Cao Bá Quát.
7. Bố cục của khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, phần nội dung được
chúng tôi triển khai thành hai chương:
Chương 1: Ngôn ngữ nghệ thuật thể hiện con người cá nhân trong thơ chữ
Hán Cao Bá Quát.
Chương 2: Hình tượng nghệ thuật thể hiện con người cá nhân trong thơ chữ
Hán Cao Bá Quát.

L­u ThÞ V©n

13

K33A Ng÷ V¨n


Tr­êng §HSP Hµ Néi 2

Khãa luËn tèt nghiÖp
NỘI DUNG
CHƯƠNG 1

NGÔN NGỮ NGHỆ THUẬT THỂ HIỆN CON NGƯỜI CÁ NHÂN
TRONG THƠ CHỮ HÁN CAO BÁ QUÁT

1.1. Về khái niệm ngôn ngữ nghệ thuật
Văn học là nghệ thuật ngôn từ, là nghệ thuật tự biểu hiện bằng ngôn ngữ.
Có thể khẳng định ngôn ngữ chiếm vị trí vô cùng quan trọng đối với một tác
phẩm văn học. Nó là chất liệu của tác phẩm, hơn nữa là một dạng chất liệu
đặc biệt có khả năng diễn tả một cách chính xác, sinh động, tinh tế những

ngi cỏ nhõn ca tỏc gi.
1.2.1. Nhng i t ch ngụi th hin con ngi cỏ nhõn
Mt c im ỏng chỳ ý ca th ng - nn th nh hng sõu sc ti
th ca trung i Vit Nam - l s thiu vng i t nhõn xng. Do li sng
khiờm cung v khỏt vng hũa nhp lm mt vi v tr, ch th trung i
thng n i bng bin phỏp tnh lc (ch th). í mun trỏnh cng nhiu
cng tt ba ngụi trong ng phỏp chng t s chn lc cú ý thc, nú lm ny
sinh mt li núi t ch ng nhõn xng trong mt mi quan h c bit vi
cỏc s vt. Bng cỏch xúa, núi ỳng hn, l bng cỏch khin ngi ta ngm
hiu s tn ti ca nú, ch ng ó hũa tan vo cỏc yu t bờn ngoi [12, tr.
112], Th khụng vit ra theo ngụi th nht. Nú vụ nhõn xng, vụ quan h vỡ
rng cỏc õm thanh thoỏt ra t lũng nh th chớnh l hi õm ca mt cỏi
chung ni ti, l cỏi khụng cn phi mang mt du hiu hn ch no c [12,
tr. 209]. Cỏc tỏc gi ớt quan tõm ti nhng yu t cỏ tớnh trong vn hc, í
hng mun nhỡn ng sau tỏc phm vn hc khụng phi mt cỏ tớnh sỏng
to c th, li cng khụng phi cỏ tớnh vi t cỏch l s th hin ca tng th
cỏc quan h xó hi m l mt s biu th no ú cho cỏc lc lng v tr, mt
s phỏt l ca thc th tinh thn khớ, l cỏi li nhng ch tng hỡnh trờn
tng bú th tre dựng vit hoc trờn la ghi nhng tỏc phm vn hc [6,
tr. 230 - 231].
Nu ch th cú xut hin trc tip trong sỏng tỏc trung i thỡ thng thu
nh mỡnh li mt cỏch khiờm tn, dựng nhng cỏch xng hụ rt cụng thc: k
hốn, k mn, h nho, nga gi ú l kt qu ca cỏi nhỡn phi cỏ th.

Lưu Thị Vân

15

K33A Ngữ Văn


th Phng ỡnh vn)

Lưu Thị Vân

16

K33A Ngữ Văn


Tr­êng §HSP Hµ Néi 2

Khãa luËn tèt nghiÖp

(Ta cũng mấy lần đã trải qua)
Ngô diệc ức ngô nhi
(Hữu sở tư)
(Ta cũng nhớ đến con ta)
Túy lai ngô tự vịnh ngô thi
(Đề Trấn Vũ quán thạch bi)
(Khi say ta cứ ngâm câu thơ ấy của ta)
Bạch phát, thanh bào, ngô lão hỹ !
(Đề sát viện Bùi công Yên Đài anh
ngữ khúc hậu)
(Bạc đầu với chiếc áo xanh. Ta già mất rồi !)
Ngã do di hận mãn đinh châu
(Họa Thận Tư xuân nhật đồng chư hữu
đăng Trấn Vũ quán lâu vọng hồ kiến ký
thứ vận)
(Ta còn nhiều mối hận chất đầy nơi cồn bãi)
Có khi con người trong thơ Cao Bá Quát trở thành khách thể chịu sự tác

tương phỏng, kỳ hữu sở tặng, thư dĩ dữ
chi)
(Các bạn cũ có nhiều người đang nhăn nhó.
Muốn nói mà không nỡ nói hết,
Làm cho ta gan ruột rối bời)
Có lúc Cao Bá Quát dùng đại từ nhân xưng trong vai trò sở hữu: “dư
sinh”, “ngô sinh” (đời ta), “ngô thân” (thân ta), “ngô tâm” (lòng ta)… để
bày tỏ gan ruột của mình, nhớ lại quãng đời đầy đau khổ, nhọc nhằn của mình
mà xót xa cho thân phận. Qua những tâm sự trực tiếp của “ta”, người đọc
nhận ra những nỗi u uất, những tâm sự thầm kín của tác giả, những bi kịch cá
nhân: bi kịch công danh, sự nghiệp, bi kịch tự do…
Dư sinh phù danh ngộ
(Đắc gia thư, thị nhật tác)
(Đời ta trót lầm lỡ vì cái danh hờ)
Dư sinh cơ bạn chỉ vi danh
(Ký hận. Kỳ nhị)

L­u ThÞ V©n

18

K33A Ng÷ V¨n


Trường ĐHSP Hà Nội 2

Khóa luận tốt nghiệp

(i ta b rng buc ch vỡ chỳt danh nh)
Ngụ thõn chung v húa

K33A Ngữ Văn


Tr­êng §HSP Hµ Néi 2

Khãa luËn tèt nghiÖp

Ta còn lãng đãng làm chi nữa
(Trần tình, bài 9)
Thế kỉ XVI, Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng xưng “ta” trong thơ:
Ta dại ta tìm nơi vắng vẻ
Người khôn người đến chốn lao xao
(Nhàn)
Thế kỉ XVI, bà huyện Thanh Quan viết:
Một mảnh tình riêng ta với ta
(Qua Đèo Ngang)
Thế kỉ XVIII, Nguyễn Du nhiều lần xuất hiện trong thơ với tư cách cá nhân:
Ngã hữu thốn tâm vô dữ ngữ
(My trung mạn hứng)
(Ta có một chút tâm sự không biết ngỏ cùng ai)
Tư giao quái ngã sầu đa mộng
(Ngẫu đề)
(Ta một mình đau ốm nằm ở phía đông đế thành)
Phong vận kì oan ngã tự cư
(Độc Tiểu Thanh ký)
(Ta tự coi mình như người cùng hội cùng thuyền
với những kẻ mắc nỗi oan lạ lùng vì nết phong nhã)
Ngã tư cố nhân thương ngã tình
(Đồng Tước đài)
(Ta nghĩ đến người xưa mà buồn nỗi mình

Và còn rất nhiều các tác giả, nhiều câu thơ có đại từ nhân xưng nữa.
Nhưng trong cách sử dụng đại từ nhân xưng, Cao Bá Quát có sự độc đáo, đặc
sắc riêng, tạo nên nét khác biệt không dễ gì lẫn lộn với các nghệ sĩ khác. Cao
Bá Quát sử dụng gần hết các đại từ nhân xưng ngôi thứ nhất trong hệ thống
từ vựng: “ngã”, “ngô”, “dư”, “tự”, “kỷ”… Những đại từ nhân xưng này
“có khả năng đặc biệt lớn nhằm thể hiện thái độ, tình cảm của người phát
ngôn dành cho đối tượng” [12, tr. 86]. Chúng không chỉ giới thiệu đích danh
cá nhân tác giả mà còn thể hiện cá tính, tình cảm của người tự xưng một cách
rõ nét. Trong số các đại từ nhân xưng đó, đại từ “ngã” được sử dụng nhiều
hơn cả và thường giữ vị trí chủ thể của hành động, tình cảm, trạng thái:

L­u ThÞ V©n

21

K33A Ng÷ V¨n


Trường ĐHSP Hà Nội 2

Khóa luận tốt nghiệp

Phong cnh d k tuyt,
Nhi ngó dic lai th.
Ngó dc ng cao sm,
Ho ca ký võn thy.
(Quỏ Dc Thỳy Sn)
(Phong cnh ó kỡ tuyt,
M li thờm cú ta n õy.
Ta mun trốo lờn nh nỳi cao ngt kia,


Tớnh ch th trc tip ca i t nhõn xng ngó to thnh sc mnh
i thoi i sõu vo tõm t, tỡnh cm con ngi.
Nu nh ngó l ting núi i thoi ca Cao Bỏ Quỏt vi mi ngi thỡ
n ch t, con ngi cỏ nhõn tỏc gi hng vo ni tõm ca mỡnh, c
thoi vi chớnh mỡnh. Ch t trong th ụng i lin vi nhng t khỏc th
hin suy ngh, tỡnh cm, hnh ng ca cỏ nhõn: t tiu (t ci mỡnh), t
thỏn (ngm ngựi cho mỡnh), t m (t chi), t liờn (t thng mỡnh),
t tri ( mỡnh t bit mỡnh) Nú cú khi l i t nhõn xng, cú khi l ng
t biu hin hnh ng, suy ngh ca cỏ nhõn. Xng mỡnh bng t, con
ngi cỏ nhõn Cao Bỏ Quỏt bc l mt tõm trng y xút xa, thng cm cho
thõn phn mỡnh. Cao Bỏ Quỏt ó ni tip thnh cụng cm hng thng
thõn trong vn hc xut hin m nột t th k XVIII. Tuy nhiờn cm
hng thng thõn trong nhng tỏc phm trc ú, chng hn Truyn
Kiu - Nguyn Du, Chinh ph ngõm - on Th im ? (din Nụm) ch
yu do tỏc gi bc l giỳp nhõn vt. Nng Kiu thng xút cho kip
hng nhan ca mỡnh:
Khi tnh ru lỳc tn canh
Git mỡnh mỡnh li thng mỡnh xút xa
Cũn ngi chinh ph hng ờm i búng vi ngn ốn, xút thng cho
bn thõn phi sng trong ni cụ n, su mun trin miờn:
Hoa ốn kia vi búng ngi khỏ thng
Ngi cung n trong Cung oỏn ngõm khỳc khi xút thng cho s phn
bc bo ca mỡnh thng gi gm vo nhng li than nóo rut:
Ngh mỡnh li ngỏn cho mỡnh,
Cỏi hoa ó trút gieo cnh lm sao !
Cũn i vi Cao Bỏ Quỏt, tỡnh thng khụng ch hng v phớa nhõn lao
ng, v phớa gia ỡnh, bn bố m cũn hng vo bn thõn, t xút thng

Lưu Thị Vân

những thực từ. Nhưng trong thế đối lập với hệ “tương, dữ, cộng” thì những từ
“nhất, độc, cô” thể hiện ý nghĩa quan hệ: một cùng với tất cả, thống nhất
tương giao” [1, tr. 256].
Trước hết là đại từ “nhất”. Trong thơ Cao Bá Quát, hai lần từ “nhất” được
sử dụng là số từ để khu biệt mình với mọi người. Ông khẳng định hoàn cảnh
đáng thương của mình, khu biệt cảnh ngộ của mình với những người khác:

L­u ThÞ V©n

24

K33A Ng÷ V¨n


Trường ĐHSP Hà Nội 2

Khóa luận tốt nghiệp

V t tn hỡnh nht h nho
(Bnh trung)
(L mt anh h thõn tn m cha cht)
Ho ho cn khụn nht b y
(Nht m)
(Gia khong tri t bao la, mt chng ỏo vi)
Sut mt thi trai tr mi mờ vi s nghip, vi hai ch cụng danh, rỳt
cc Cao Bỏ Quỏt li tr v vi a v mt anh h. Trong lỳc m, ụng ó
xút xa nhn ra iu y. Danh t h nho ng cui cõu th nh ng li mt
s tht, mt s khng nh y chua xút ! Thờm s t nht ý ngha riờng
bit, cỏ th cng c nhn mnh. V c bn nú dựng ch riờng cỏ nhõn
nh th.

Siờu, ngi thõn thit vụ cựng vi ụng cng khụng th chia s cựng ụng
nhng ni nim tõm s trong lũng. Nhiu ln ụng trc tip th hin ni cụ
n ca bn thõn:
Ch ng hm tiu cụ ngõm khỏch
( Tp hng)
(Ch hm tiu trc khỏch th n c)
Cp lụi bụn in nht thõn cụ
(Thp nguyt thp tht nht tha l b
nghiờm tn hu cng bnh mn chớ.
K nh)
(Sm gm chp git tr tri mt thõn)
Cỏi tụi Cao Bỏ Quỏt luụn cm thy cụ n trc cuc i, cho nờn
ụng t nhn mỡnh l mt khỏch th n c. Cng cú th hiu cụ ngõm
khỏch l ch mt mỡnh Cao Bỏ Quỏt l khỏch th cũn nhng ngi khỏc
khụng phi khỏch th.
Ch cụ trong cụ ngõm khỏch khụng ch th hin ni cụ n ca
Cao Bỏ Quỏt m cú th hm ý nh trờn ó nờu. Cũn ch cụ ng cui cõu
th Cp lụi bụn in nht thõn cụ gõy n tng v cỏi tr tri. Tm thõn cụ
l chng ngi trỳt bu tõm s trong cỏi ờm sm gm, chp git, cỏi ờm bóo
tỏp cuc i ụng, cỏi ờm vi nhng trn ũn roi rỏch tht nỏt da. (õy l bi
th th hai trong bn bi vit ngay sau khi b b l tra tn, ngy 17 thỏng 10).
Ch cụ ó tụ m cỏi i lp gia s d di ca sm chp vi cỏi nh bộ,
n l ca con ngi, bc l hon cnh riờng ca cỏ nhõn Cao Bỏ Quỏt. Thờm
s t nht ng trc cm danh t thõn cụ nhn mnh ni cụ n. Ni

Lưu Thị Vân

26

K33A Ngữ Văn

và “nhất” đều có nghĩa là “một” nhưng nếu “nhất” là số từ chỉ lượng thì
“độc” xuất hiện với chức năng trạng từ chỉ tâm thế nhà thơ, làm nổi bật mối
quan hệ khác biệt hoặc đối lập giữa các sự vật.

L­u ThÞ V©n

27

K33A Ng÷ V¨n


Trích đoạn Về khỏi niệm hỡnh tượng nghệ thuật Những hỡnh tượng tự họa ngoại hỡnh Những hỡnh tượng tự họa tuổi tỏc và từng quóng đời cỏ nhõn
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status