Dạy học đọc hiểu truyện ngắn người trong bao của Sê-Khốp theo hướng tích hợp giáo dục giá trị sống cho học sinh lớp 11 - Pdf 49

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
======

NGUYỄN THỊ PHƢƠNG MAI

DẠY HỌC ĐỌC HIỂU TRUYỆN NGẮN
NGƯỜI TRONG BAO CỦA SÊ-KHỐP THEO HƢỚNG
TÍCH HỢP GIÁO DỤC GIÁ TRỊ SỐNG
CHO HỌC SINH LỚP 11

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

HÀ NỘI, 2017


LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành và biết ơn sâu sắc tới TS.
Nguyễn Thị Hồng Vân người đã tận tình, động viên, giúp đỡ và hướng dẫn tôi
trong suốt quá trình hoàn thành luận văn này.
Đồng thời, tôi xin chân thành cảm ơn Khoa Ngữ văn, Trường Đại học
Sư phạm Hà Nội 2 đã tạo mọi điều kiện trong suốt quá trình học tâp và
nghiên cứu.
Mặc dù đã nỗ lực và cố gắng hoàn thành luận văn, song cũng không
tránh khỏi còn nhiều thiếu sót. Chúng tôi mong nhận được sự chỉ bảo, những
ý kiến đóng góp của các thầy cô để luận văn được hoàn thiện hơn. Tôi xin
trân trọng cảm ơn!


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này

1.1.5. Khái quát về đặc điểm tâm lý lứa tuổi HS THPT ................................. 23
1.1.6. Các GTS đƣợc hình thành qua dạy học đọc hiểu truyện ngắn Ngƣời
trong bao (Sê-khốp)......................................................................................... 26


1.2. Cơ sở thực tiễn ......................................................................................... 27
1.2.1. Vấn đề dạy học Ngữ văn gắn liền với giáo dục GTS hiện nay trong
trƣờng phổ thông ............................................................................................. 27
1.2.2. Thực trạng dạy học văn bản truyện ngắn nói chung và dạy học truyện
ngắn Ngƣời trong bao (Sê - khốp) nói riêng ở trƣờng phổ thông ................... 29
Tiểu kết chƣơng 1............................................................................................ 32
CHƢƠNG 2: MỘT SÔ BIỆN PHÁP TỔ CHỨC DẠY HỌC ĐỌC HIỂU
TRUYỆN NGẮN NGƯỜI TRONG BAO (SÊ-KHÔP) THEO HƢỚNG TÍCH
HỢP GIÁO DỤC GIÁ TRỊ SỐNG CHO HỌC SINH LỚP 11 ...................... 33
2.1. Một số nguyên tắc cơ bản trong tổ chức dạy học văn bản theo hƣớng tích
hợp giáo dục GTS ........................................................................................... 33
2.1.1. Đảm bảo mục tiêu bài học..................................................................... 33
2.1.2. Bám sát đặc điểm thể loại, khai thác các yếu tố đặc trƣng về nội dung
và nghệ thuật của văn bản tạo cơ hội tích hợp giáo dục GTS......................... 35
2.1.3. Phát huy tính tích cực của HS trong hành vi và nhận thức liên quan đến
giáo dục GTS ................................................................................................... 36
2.2. Một số biện pháp tổ chức dạy học đọc hiểu truyện ngắn Ngƣời trong bao
(Sê-khốp) theo hƣớng tích hợp giáo dục GTS cho HS lớp 11 ........................ 37
2.2.1. Tích hợp giáo dục GTS qua hệ thống câu hỏi đọc hiểu văn bản .......... 37
2.2.1.1.Vài nét về câu hỏi đọc hiểu ................................................................. 37
2.2.1.2 Tích hợp giáo dục GTS qua hệ thống câu hỏi đọc hiểu trong dạy học
đọc hiểu truyện ngắn Ngƣời trong bao (Sê - khốp) ........................................ 38
2.2.2. Tích hợp giáo dục GTS qua tổ chức các hoạt động .............................. 43
2.2.2.1. Đóng vai ............................................................................................. 43
2.2.2.2. Thảo luận nhóm.................................................................................. 46


GTS

GTS

SGK

Sách giáo khoa

NXB

Nhà xuất bản


1

PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1.1. Vấn đề đọc hiểu và dạy học đọc hiểu văn bản văn chƣơng trong
nhà trƣờng
Trong nhà trƣờng phổ thông Việt Nam, môn Ngữ văn là một trong
những môn học chính, đóng vai trò quan trọng trong việc trang bị kiến thức
và giáo dục nhân cách cho HS.
Lâu nay, chúng ta đã quen thuộc với cách giảng văn truyền thống khi
ngƣời GV đóng vai trò chủ động truyền đạt nội dung kiến thức cho HS. Tuy
nhiên, cách dạy này vẫn còn bộc lộ nhiều hạn chế vì HS bị động tiếp thu kiến
thức và không phát huy đƣợc tính chủ động sáng tạo của mình. Hơn nữa, việc
truyền đạt kiến thức qua hoạt động giảng văn không gây hứng thú đối với
ngƣời học, tạo tâm lý uể oải, buồn chán. Điều này đã trực tiếp khiến môn Ngữ
văn trở nên kém hấp dẫn đối với HS. Để khắc phục những hạn chế đó,

phẩm. Và hơn thế, việc tiếp thu và cảm thụ tác phẩm văn học nƣớc ngoài còn
giúp HS thấm nhuần những giá trị tƣ tƣởng đạo đức tích cực.
Hiện nay, vị trí của phần văn học nƣớc ngoài trong chƣơng trình phổ
thông đƣợc nâng cao, chiếm tỉ lệ đáng kể trong chƣơng trình mới bên cạnh
phần văn học Việt Nam, đóng vai trò quan trọng không kém phần văn học
Việt Nam. Mặc dù rất hấp dẫn và dễ gây hứng thú cho ngƣời học nhƣng
không thể phủ nhận rằng đây là mảng khó dạy đối với GV và nhiều khi cũng
khá khó tiếp thu đối với HS.
1.3. Việc dạy học tác phẩm văn chƣơng gắn liền với khám phá GTS,
trang bị kĩ năng sống
Bên cạnh việc cung cấp kiến thức cho HS, mục tiêu lớn nhất của môn
Ngữ văn, của việc giảng dạy Ngữ văn trong nhà trƣờng là giáo dục nhân cách
con ngƣời và truyền đạt những GTS.


3

Mỗi tác phẩm văn chƣơng đều chứa đựng những giá trị tƣ tƣởng sâu sắc.
Đó có thể là tình yêu quê hƣơng, tình cảm gia đình, là tình anh em, tình đồng
chí,… Có thể nói, mỗi bài học văn là một bài học làm ngƣời, dạy con ngƣời
cách ứng xử, cách yêu thƣơng, trân trọng những giá trị tốt đẹp.
Mặc dù mỗi GV dạy văn đều nắm rõ mục tiêu cao nhất của môn học là
giáo dục nhân cách, là truyền đạt GTS, tuy nhiên, vì nhiều lí do mà điều này
chƣa đƣợc thể hiện rõ trong mỗi giờ dạy Văn. Nói cách khác, việc dạy Ngữ
văn trong nhà trƣờng hiện nay phần lớn đều nhằm mục đích trang bị kiến thức
là chủ yếu. Việc khám phá GTS và liên hệ thực tiễn đời sống trong mỗi bài
học còn hạn chế hoặc chƣa có. Điều này bị chi phối bởi nhiều nguyên nhân
nhƣ hạn chế về thời gian hay phƣơng pháp giảng dạy chƣa hợp lí. Hạn chế
này thƣờng gặp phải khi áp dụng phƣơng pháp giảng văn truyền thống.
Vì những lí do trên, chúng tôi lựa chon truyện ngắn Người trong bao

học và yêu cầu đọc trong nhà trƣờng”.
Ngoài ra, tác giả cũng điểm qua những công trình nghiên cứu về đọc
hiểu ở Liên Xô cũ nhƣ: Đọc và kể chuyện văn học ở vườn trẻ (Nxb Giáo dục,
Hà Nội, 1976) của M. K. Bogoliu Pxkaia, V.V Septsenko; Phương pháp đọc
sách (1976) của A. Primacốpxki.
Ở Việt Nam, trong vài thập kỉ gần đây, vấn đề đọc hiểu đã đƣợc quan
tâm và nghiên cứu, chính thức đƣợc đƣa vào chƣơng trình sách giáo khoa
Ngữ văn trung học nhƣ là nội dung mới làm thay đổi cơ bản nội dung và
phƣơng pháp dạy học văn, nhất là đối với dạy học tác phẩm văn chƣơng.
Đầu tiên, cuốn Dạy học tập đọc ở tiểu học (Nxb Giáo dục, 11/2001) của
GS. TS. Lê Phƣơng Nga, có dành một số trang bàn về đọc hiểu. Tiếp đó, năm
2002, chuyên luận Dạy đọc hiểu ở tiểu học của PGS. TS. Nguyễn Thị Hạnh


5

đã trình bày khá thuyết phục về “cơ sở khoa học của việc dạy đọc hiểu”.
Trong tạp chí Thông tin Khoa học Sƣ phạm số 8 năm 2004, PGS. TS. Nguyễn
Thái Hòa với bài viết Vấn đề đọc hiểu và dạy đọc hiểu đã nêu lên tầm quan
trọng, ý nghĩa cấp thiết của vấn đề đọc hiểu.
TS. Nguyễn Trọng Hoàn cũng là ngƣời quan tâm đến vấn đề đọc hiểu,
là ngƣời gắn vấn đề đọc hiểu với yêu cầu thực hành của chƣơng trình và sách
giáo khoa. Tiêu biểu là một loạt sách đọc hiểu văn bản Ngữ văn 6, 7, 8, 9 mà
tác giả viết đã trình bày tiến trình đọc hiểu ba bƣớc: phần gợi dẫn, phần nội
dung và phần liên hệ.
Bên cạnh đó, GS. TS. Trần Đình Sử là ngƣời đã khởi xƣớng và kiên
định về vấn đề đọc hiểu trong các bài viết và trong bộ sách giáo khoa Ngữ
văn trung học phổ thông nâng cao.
2.2. Vấn đề giá trị và giáo dục GTS trong nhà trƣờng
Trong nhà trƣờng phổ thông, việc giáo dục GTS cho HS đóng vai trò

đến vấn đề giá trị và định hƣớng giá trị của con ngƣời Việt Nam hiện nay.
Ngoài các nghiên cứu về giá trị và giáo dục giá trị, vấn đề giáo dục GTS
trong nhà trƣờng cũng đƣợc quan tâm nhiều, trong đó có thể kể đến một số tài
liệu:
Tài liệu Giáo dục giá trị sống và kỹ năng sống cho HS trung học phổ
thông: Tài liệu dùng cho GV trung học phổ thông (Nxb Văn hóa Thông tin,
2014) của các tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc, Đinh Thị Kim Thoa, Trần Văn
Tính, Vũ Phƣơng Liên với nội dung chính là trình bày đặc điểm phát triển tâm
lý của HS trung học phổ thông; giáo dục GTS, kĩ năng sống, một số trò chơi
giáo dục giá trị và kĩ năng sống cho HS trung học phổ thông.
Cuốn Giáo dục giá trị sống, kĩ năng sống cho HS phổ thông: Chuyên đề
bạo lực và kĩ năng phòng, chống bạo lực với HS phổ thông (Nxb Giáo dục,


7

2011) của các tác giả Lục Thị Nga, Vũ Thúy Hạnh đã nêu lên những vấn đề
cơ bản về giáo dục GTS, kĩ năng sống cho HS phổ thông và một số vấn đề
chung về bạo lực và một số kĩ năng phòng, chống bạo lực với HS phổ thông.
Ngoài ra một số tài liệu nghiên cứu giáo dục GTS cho HS Tiểu học
nhƣ: Giáo dục giá trị sống và kĩ năng sống cho HS 5: Tài liệu dành cho GV
(Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 2015) của tác giả Trần Thị Lệ Thu, Nguyễn
Đức Giang; Giáo dục giá trị sống và kĩ năng sống cho HS 4: Tài liệu dành
cho GV (Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 2015) của các tác giả Trần Thị Lệ
Thu, Bùi Thị Nga,v.v… đã trình bày cơ sở khoa học, cách tiếp cận và xây
dựng chƣơng trình giáo dục GTS và kĩ năng sống, đồng thời nêu lên mục tiêu,
nguyên tắc, nội dung, phƣơng pháp và kĩ thuật tổ chức hoạt động giáo dục
GTS và kĩ năng sống cho HS các lớp khối Tiểu học.
Nhìn chung đã có nhiều công trình nghiên cứu về giáo dục GTS trong
nhà trƣờng, tuy nhiên vấn đề giáo dục GTS đƣợc đề cập tới hầu hết đều đƣợc

công trình nghiên cứu,… có liên quan đến đề tài.
6.2. Phƣơng pháp nghiên cứu thực tiễn
- Điều tra, khảo sát: Đƣợc sử dụng khi thu thập thông tin, khảo sát thực
tiễn việc dạy học đọc hiểu văn bản Người trong bao ở trƣờng THPT để có
những căn cứ, đánh giá khách quan và chính xác.
- Phƣơng pháp thực nghiệm: Đƣợc áp dụng trong thực nghiệm dạy học,
chứng minh tính hiệu quả của việc dạy học đọc hiểu văn bản Người trong
bao.
7. Giả thuyết khoa học
Nếu tổ chức dạy học truyện ngắn Người trong bao theo hƣớng tích hợp
giáo dục GTS cho HS thì sẽ góp phần đổi mới phƣơng pháp dạy học và nâng


9

cao hiệu quả dạy học môn Ngữ văn giúp HS khám phá những GTS của cá
nhân, hoàn thiện nhân cách, phát triển năng lực đọc hiểu văn bản văn chƣơng.
8. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, tài liệu tham khảo, cấu trúc chính của
luận văn gồm có 3 chƣơng:
Chƣơng1: Cơ sở lí luận và thực tiễn
Chƣơng 2: Một số biện pháp tổ chức dạy học đọc hiểu truyện ngắn
Ngƣời trong bao (Sê-khốp) theo hƣớng tích hợp giáo dục GTS cho HS lớp 11
Chƣơng 3: Thực nghiệm sƣ phạm


10

PHẦN NỘI DUNG
CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

khi lên lớp. Điều này chứng tỏ, HS không biết tự học, không có nhu cầu tìm
hiểu hay tự nghiên cứu, cũng không biết cách chủ động tự đọc sách giáo khoa
để tìm hiểu kiến thức.
Trƣớc những thực trạng còn tồn tại trong dạy và học bộ môn, việc đổi
mới PPDH môn Ngữ văn trở nên cấp bách và cần thiết hơn bao giờ hết. Trong
đó, việc đổi mới các PPDH cần phát huy các yếu tố tích cực và những ƣu
điểm của các PPDH truyền thống và các PPDH hiện đại.
Để khắc phục tình trạng dạy học thụ động trong môn học Ngữ văn hiện
nay, PPDH theo hƣớng đọc - hiểu đang đƣợc áp dụng và dần thay thế phƣơng
pháp giảng văn truyền thống. Dạy học đọc hiểu là việc GV hƣớng dẫn HS sử
dụng những kĩ năng để đọc hiểu tác phẩm một cách hiệu quả. Với dạy học
đọc hiểu, HS trở thành chủ thể trong việc chiếm lĩnh tri thức, GV đóng vai trò
là ngƣời dẫn dắt, định hƣớng cho các em trong quá trình chiếm lĩnh những tri
thức ấy. Trong đọc hiểu văn bản, vai trò chủ thể sáng tạo của HS đƣợc đề cao.
HS sẽ trở nên chủ động hơn, việc tiếp thu kiến thức cũng trở nên dễ dàng hơn
và tích cực hơn.
Để việc dạy học đọc hiểu tác phẩm văn chƣơng trong giờ học Ngữ văn
đƣợc hiệu quả đòi hỏi ngƣời GV phải biết vận dụng khéo léo cũng nhƣ tổ
chức hợp lí các hoạt động và các biện pháp dạy học tích cực. Đồng thời,
ngƣời GV cũng phải tự ý thức đƣợc vai trò của mình trong dạy học đọc hiểu
văn bản, đó là vai trò dẫn dắt, hƣớng dẫn HS suy nghĩ, thảo luận nhóm, định
hƣớng cho HS cách đọc chứ không phải làm việc thay hay đọc hộ cho HS.
Bên cạnh đó, các biện pháp dạy học đƣợc vận dụng trong dạy học đọc hiểu
cần đƣợc tổ chức linh hoạt để phát huy đƣợc tính tự giác, tự đọc của HS và
tạo điều kiện để các em có cơ hội đƣợc vận dụng đƣợc các kĩ năng của bản
thân. Có nhƣ vậy, HS sẽ phát huy đƣợc tính tích cực chủ động , sáng tạo, tự


12


với đặc điểm của từng đối tƣợng HS.
Có thể thấy, việc đổi mới PPDH và MTDH môn Ngữ văn hƣớng đến
mục đích giúp ngƣời học trong việc chủ động tiếp thu kiến thức, cảm nhận cái
hay, cái đẹp của tác phẩm văn học. Và vì đón nhận tác phẩm văn học trong sự
chủ động, tâm thế hứng khởi mà HS dễ dàng tiếp thu, cảm thụ tác phẩm ấy.
Chính từ hoạt động cảm thụ tác phẩm văn học mà ngƣời học trở nên đồng
cảm với tâm tƣ, tình cảm của nhân vật, của tác giả, có cái nhìn khái quát về
bức tranh cuộc sống và con ngƣời trong tác phẩm, từ đó cảm nhận đƣợc vẻ
đẹp của cuộc đời, hình thành và phát triển nhân cách, làm phong phú các GTS
của cá nhân.
1.1.2. Một số vấn đề về đọc hiểu và dạy học đọc hiểu
* Khái quát về đọc hiểu:
Đọc hiểu là hoạt động đọc và giải mã các tầng ý nghĩa của văn bản
thông qua khả năng tiếp nhận của ngƣời đọc. Đọc hiểu là tiếp xúc với văn
bản, hiểu đƣợc nghĩa hiển ngôn, nghĩa hàm ẩn, các biện pháp nghệ thuật, hiểu
đƣợc các thông điệp tƣ tƣởng, tình cảm của ngƣời viết và giá trị tự thân của
hình tƣợng nghệ thuật.
Đọc hiểu là đọc kết hợp với sự hình thành năng lực giải thích, phân tích,
khái quát, biện luận đúng - sai về lôgic, nghĩa là kết hợp với năng lực tƣ duy
và biểu đạt.
Chủ thể của hoạt động đọc hiểu chính là ngƣời đọc. Với đọc hiểu, hoạt
động đọc tác phẩm không đơn thuần chỉ là tiếp xúc với văn bản hời hợt trên
câu chữ mà ở đây đòi hỏi chủ thể đọc hiểu phải có sự hiểu, sự khám phá,
chiêm nghiệm các giá trị, ý nghĩa của văn bản qua hệ thống ký tự, ngôn từ của
văn bản ấy. Trong quá trình đọc hiểu, ngƣời đọc cảm nhận đƣợc tác phẩm văn


14

học qua vẻ đẹp của hình tƣợng nhân vật, qua giá trị tƣ tƣởng mà nhà văn

phạm của đọc hiểu; bình diện triết học của đọc hiểu; bình diện nghệ thuật của
đọc hiểu và bình diện tâm lí của đọc hiểu.
* Dạy học đọc hiểu tác phẩm văn chương:
Dạy đọc hiểu trƣớc hết là dạy cho HS biết cách đọc văn bản, thông qua
quá trình tự giác tìm hiểu văn bản để định hƣớng cho các em những nội dung
và giá trị của văn bản. Trong giờ đọc - hiểu, HS đóng vai trò chính, không còn
phụ thuộc vào GV mà chủ động đọc, tìm hiểu tác phẩm kết hợp với vốn sống,
liên tƣởng, tƣởng tƣợng để cảm thụ, tri giác, tìm hiểu những giá trị của tác
phẩm ấy. Ngoài ra dạy học đọc hiểu còn là việc GV hƣớng dẫn HS sử dụng
những kỹ năng để đọc hiểu văn bản thông qua các hoạt động, thao tác và theo
một quy trình nhất định nào đó. Đọc hiểu văn bản đề cao vai trò của chủ thể
tích cực, sáng tạo của HS trong hoạt động đọc.
Dạy đọc - hiểu là vừa dạy cách tiếp xúc với văn bản, thông hiểu nghĩa
đen, nghĩa bóng, nghĩa hàm ẩn cũng nhƣ thấy đƣợc vai trò tác dụng của các
hình thức, biện pháp nghệ thuật ngôn từ, các thông điệp tƣ tƣởng, tình cảm
của ngƣời viết, các giá trị tự thân của hình tƣợng nghệ thuật và cả ý nghĩa xã
hội nhân văn của tác phẩm trong ngữ cảnh của nó, vừa tập trung hình thành
cách đọc văn, phƣơng pháp đọc hiểu theo thể loại để dần dần các em có thể tự
đọc văn, hiểu tác phẩm văn học một cách khoa học đúng đắn.
Đọc hiểu là quá trình thâm nhập vào văn bản với thái độ tích cực, chủ
động. Đây là một năng lực cần thiết mà ngƣời học cần quan tâm. Hiện nay
đọc hiểu tác phẩm văn chƣơng trong nhà trƣờng phổ thông thƣờng hƣớng tới
các vấn đề cụ thể sau:
Thứ nhât là nhận biết đúng, chính xác về văn bản: Thể loại của văn bản
(các phong cách ngôn ngữ nhƣ phong cách ngôn ngữ khoa học, báo chí, chính
luận, nghệ thuật, hành chính, sinh hoạt); hiểu đề tài, nhan đề, chủ đề, tóm tắt
đƣợc các nội dung của văn bản; hiểu các phƣơng thức biểu đạt của văn bản


16


Giá trị là tất cả những gì mang ý nghĩa tích cực, gắn với cái đúng, cái tốt,
cái đẹp, đƣợc con ngƣời thừa nhận và xem nó là nhu cầu hoặc có một vị trí
quan trọng trong đời sống của mình, là những thành tựu góp phần vào sự phát
triển của xã hội.
Bên cạnh đó, giá trị không phải là một cái bất biến mà nó luôn vận động
biến đổi theo thời gian và không gian sao cho phù hợp trong từng thời điểm
nhất định. Bởi thế, không phải phải những cái gì đã từng có giá trị trong quá
khứ đều vẫn còn giữ nguyên giá trị đối với hiện tại. Điều này cho thấy giá trị
mang tính lịch sử khách quan, sự ra đời tồn tại hay mất đi của một giá trị nào
đó không phụ thuộc vào ý thức của con ngƣời mà do yêu cầu của từng thời
đại nhất định trong lịch sử.
Giá trị đóng một vai trò hết sức quan trọng trong đời sống xã hội, giá trị
giúp con ngƣời định hƣớng và xác định mục đích cho hành động của mình, là
động cơ thúc đẩy hoạt động của con ngƣời.
Trên thực tế đã có rất nhiều cách phân loại giá trị. Dựa vào tiêu chí mục
đích phục vụ cho nhu cầu của con ngƣời, ngƣời ta chia ra làm hai loại giá trị:
giá trị vật chất và giá trị tinh thần.
Giá trị vật chất thể hiện rõ nét trong đời sống kinh tế, nó quyết định sự
tồn tại và phát triển của xã hội loài ngƣời.
Giá trị tinh thần là những phẩm chất đặc biệt về trí tuệ, tình cảm, ý chí,
nó đƣợc thể hiện trên các lĩnh vực tƣ tƣởng, đạo đức, văn hóa, nghệ thuật,…
Những phẩm chất đó ăn sâu, bám rễ vào trong đời sống tinh thần và chúng trở
thành các chuẩn mực để con ngƣời đánh giá, phân biệt cái đúng, cái sai, cái
xấu, cái đẹp trong đời sống hàng ngày, trong mối quan hệ giữa con ngƣời với
con ngƣời, giữa con ngƣời với xã hội.
Giá trị cuộc sống (hay GTS) là những điều chúng ta cho là quý giá, là
quan trọng, là có ý nghĩa đối với cuộc sống của mỗi ngƣời. GTS trở thành



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status