Xây dựng và sử dụng sơ đồ, bảng biểu trong dạy học truyện Việt Nam giai đoạn 1930 - 1945 ở THPT - Pdf 49

1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2

NGUYỄN THỊ HIỀN

XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU
TRONG DẠY HỌC TRUYỆN VIỆT NAM
GIAI ĐOẠN 1930 - 1945 Ở THPT

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

HÀ NỘI, 2017


2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2

NGUYỄN THỊ HIỀN

XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU
TRONG DẠY HỌC TRUYỆN VIỆT NAM
GIAI ĐOẠN 1930 – 1945 Ở THPT

Chuyên ngành: Lí luận và Phƣơng pháp dạy học bộ môn Văn – Tiếng Việt

Mã số: 60 14 01 11



LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn thạc sĩ khoa học “Xây dựng và sử dụng sơ đồ,
bảng biểu trong dạy học truyện Việt Nam giai đoạn 1930 – 1945 ở THPT” là
công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi dưới sự hướng dẫn của PGS. TS
Phạm Thị Thu Hương. Các nội dung nghiên cứu, kết quả nghiên cứu trong luận
văn là trung thực và chưa được công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu khoa
học nào khác.

Hà Nội, tháng 10 năm 2017

Tác giả

Nguyễn Thị Hiền


5

MỤC LỤC
A. PHẦN MỞ ĐẦU .............................................................................................................. 1
1. Lí do chọn đề tài ........................................................................................................... 1
1.1. Tính cấp thiết của đổi mới phƣơng pháp dạy học ............................................. 1
1.2. Thực trạng dạy học Ngữ văn và việc đổi mới phƣơng pháp dạy học Ngữ văn
ở trƣờng phổ thông hiện nay ...................................................................................... 1
1.3. Phƣơng tiện trực quan đem lại hiệu quả cao trong đổi mới phƣơng pháp dạy
học ................................................................................................................................. 2
1.4. Sơ đồ, bảng biểu - phƣơng tiện dạy học trực quan có nhiều ƣu thế ................ 3
1.5. Vị trí của truyện Việt Nam giai đoạn 1930 - 1945 trong chƣơng trình Ngữ
văn ở THPT .................................................................................................................. 4
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề .......................................................................................... 5

1.3.1 Quan niệm về phƣơng tiện trực quan ......................................................... 14
1.3.2. Đặc điểm của sơ đồ, bảng biểu - phƣơng tiện trực quan trong dạy học ...... 16
1.4. Sơ đồ, bảng biểu trong quá trình dạy học tác phẩm văn chƣơng .................. 17
2. Đặc điểm cơ bản của truyện Việt Nam giai đoạn 1930 - 1945 ở THPT .................. 19
3. Thực trạng xây dựng và sử dụng sơ đồ bảng biểu trong dạy học truyện Việt Nam
giai đoạn 1930 – 1945 ..................................................................................................... 21
CHƢƠNG 2 ........................................................................................................................ 25
CÁCH THỨC XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU .............................. 25
TRONG DẠY HỌC TRUYỆN VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1930 – 1945 Ở THPT ........ 25
1. Một số yêu cầu của việc xây dựng sơ đồ, bảng biểu trong dạy học truyện Việt
Nam giai đoạn 1930 – 1945 ở THPT ............................................................................ 25
1.1. Đảm bảo đặc trƣng của môn học ....................................................................... 25
1.2. Bám sát mục tiêu của bài học ............................................................................ 27
1.3. Có tính khoa học, tính trực quan và tính thẩm mĩ .......................................... 28
1.4. Phát huy tính tích cực của học sinh................................................................... 30
1.5. Phối hợp với các biện pháp và phƣơng tiện dạy học khác. ............................. 30
2. Thiết kế sơ đồ, bảng biểu trong dạy học truyện Việt Nam giai đoạn 1930 - 1945 ở
THPT............................................................................................................................... 31
2.1. Sơ đồ, bảng biểu trong tìm hiểu cốt truyện ...................................................... 31
2.2. Sơ đồ, bảng biểu trongtìm hiểu tình huống truyện .......................................... 41
2.3. Sơ đồ, bảng trong phân tích nhân vật .............................................................. 46
2.4. Sơ đồ, bảng biểu phân tích các chi tiết nghệ thuật .......................................... 55
3. Sử dụng sơ đồ, bảng biểu vào quá trình dạy học truyện giai đoạn 1930 – 1945 ở
trƣờng THPT. ................................................................................................................. 60
3.1. Sử đụng sơ đồ, bảng biểu trong quá trình học tập cá nhân ............................ 60
3.2. Sử dụng sơ đồ, bảng biểu trong quá trình học tập hợp tác............................. 65
3.2.1. Hợp tác với bạn ............................................................................................ 66


7

nhằm đáp ứng yêu cầu của một xã hội hiện đại. Muốn thực hiện mục đích này
phải có những đổi mới về phương pháp dạy học. Nghị quyết Hội nghị TW 8
khóa XI về đổi mới căn bản toàn diện giáo dục và đào tạo nêu rõ: “Tiếp tục
đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học theo hướng hiện đại; phát huy tính
tích cực chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kỹ năng của người học;
khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, nghi nhớ máy móc. Tập trung dạy
cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để người học tự cập nhật
và đổi mới tri thức, kỹ năng, phát triển năng lực.”
1.2. Thực trạng dạy học Ngữ văn và việc đổi mới phƣơng pháp dạy
học Ngữ văn ở trƣờng phổ thông hiện nay
Trong những năm gần đây phương pháp dạy học nói chung và phương
pháp dạy học môn Ngữ văn nói riêng đã có nhiều đổi mới: từ phương pháp
dạy học theo lối "truyền thụ một chiều" sang dạy cách học, cách vận dụng
kiến thức, rèn luyện kỹ năng, hình thành năng lực và phẩm chất; tăng cường
việc học tập trong nhóm, đổi mới quan hệ giáo viên - học sinh... Nhiều
phương pháp, phương tiện và kĩ thuật dạy học hiện đại đã được sử dụng có
hiệu quả, đặc biệt là việc sử dụng các phương tiện trực quan vào trong dạy
học đã được chú trọng và triển khai góp phần tích cực hoá hoạt động nhận
thức của học sinh và nâng cao chất lượng học tập.


2

Bên cạnh những kết quả bước đầu đã đạt được, việc đổi mới phương
pháp dạy học môn Ngữ văn ở trường THPT hiện nay vẫn còn nhiều hạn chế.
Cụ thể là: Nhiều giáo viên ngại đổi mới và vẫn áp dụng phương pháp truyền
thụ một kiến thức một chiều với cách dạy chủ yếu là thầy nói, trò nghe; thầy
đọc, trò chép. Đổi mới phương pháp chỉ diễn ra trong những giờ thao giảng,
dự giờ, thi giáo viên giỏi hoặc có đổi mới nhưng chưa nhận thức đúng vai trò
của việc thay đổi và ý nghĩa của việc sử dụng linh hoạt các phương pháp,

77

Dạy bằng diễn kịch

57

Dạy bằng lời

53
[4, tr.43 - 44]

Bảng mô tả cho thấy, dạy bằng trực quan có hiệu quả cao hơn hẳn cách
dạy bằng lời về tỉ lệ của thông tin học sinh nhớ lại được sau một năm khi đã
học xong đơn vị bài học. Nói một cách đơn giản, dạy bằng trực quan là giúp
học sinh tạo ra những hình ảnh tâm lí về những nội dung được dạy. Những
phương tiện trực quan được thiết kế hay, sử dụng hợp lý thì học sinh không
chỉ được nghe, nhìn thấy mà chính bản thân các em cũng được tham gia để tư
duy và tìm tòi kiến thức.
Trong khi đó, tác phẩm văn chương là nghệ thuật ngôn từ hình tượng
nên rất cần tạo cho học sinh giai đoạn trực quan sinh động để giúp các em
lĩnh hội tri thức, đào sâu kiến thức, kích thích hứng thú, trí tưởng
tượng…Phương tiện trực quan trong các giờ dạy tác phẩm văn học giúp học
sinh hiểu sâu các vấn đề xã hội, con người, giá trị của tác phẩm văn chương,
nâng cao năng lực thẩm mĩ và cảm thụ cái đẹp. Trực quan khi kết hợp lời nói
sẽ tạo điều kiện dễ hiểu, dễ nhớ và nhớ lâu, làm phát triển năng lực chú ý,
năng lực quan sát, năng lực tư duy và ngôn ngữ.
1.4. Sơ đồ, bảng biểu - phƣơng tiện dạy học trực quan có nhiều ƣu thế
Sơ đồ, bảng biểu là phương tiện dạy học trực quan phù hợp với nhiều
phương pháp dạy học hiện đại và phù hợp với tất cả các loại hình học tập từ



5

2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
2.1. Những nghiên cứu về sử dụng sơ đồ, bảng biểu trong dạy học
Đã có nhiều cuốn sách, nhiều công trình nghiên cứu của các học giả
trong và ngoài nước nghiên cứu về cách xây dựng và sử dụng sơ đồ, bảng
biểu vào trong dạy học nói chung và dạy học ở bộ môn Ngữ văn nói riêng như:
M. Alêxêep, trong cuốn Phát triển tư duy học sinh (1976) khẳng định
sử dụng đồ dùng trực quan là sơ đồ, bảng biểu, phim ảnh…sẽ giúp học sinh
nghi nhớ kiến thức nhanh, dễ dàng, kích thích tư duy, sự liên tưởng và rèn
luyện kỹ năng học tập cho học sinh.
Tác giả Bạch Thị Lan Anh (2013), trường Đại học Sư phạm Nghệ thuật
TW, có bài viết Giới thiệu phương pháp dạy học theo sơ đồ. Trong bài viết
của mình tác giả đã khẳng định dạy học theo sơ đồ hóa kiến thức là cách thức
hoạt động phối hợp thống nhất giữa người dạy và người học nhằm giúp người
học hiểu được bản chất của các sự vật, hiện tượng liên quan đến nội dung,
nhiệm vụ dạy học dựa vào mô hình, sơ đồ của chúng.
Nguyễn Thị Xuân Mai trường Đại học An Giang tại Hội thảo khoa học
quốc gia về dạy học Ngữ văn ở trường Phổ thông Việt Nam (2013) có bài viết
Gợi ý sử dụng sơ đồ, bảng biểu vào dạy một số tiết văn trong chương trình
sách giáo khoa Ngữ văn 10. Tác giả khẳng định, việc sử dụng sơ đồ, bảng
biểu đem lại hiệu quả trong việc phát huy tính sáng tạo của học sinh đặc biệt
là đánh thức khả năng tư duy của người học và đưa ra một số sơ đồ, bảng biểu
có thể áp dụng trong chương trình Ngữ văn 10 như: sơ đồ, bảng biểu cho bài
khái quát, sơ đồ, bảng biểu cho truyện; sơ đồ bảng biểu cho thơ…
Nguyễn Thị Li Kha có bài viết Sử dụng sơ đồ trong dạy học ở tiểu học
in trên Tạp chí KH ĐHSP TP HCM - số 71/2015. Tác giả đã khảo sát mức độ
hứng thú của người học khi sử dụng sơ đồ, bảng biểu và kết quả cho thấy
phần lớn là người học rất hứng thú với sơ đồ, bảng biểu. Trong bài viết tác giả

một mảng trống chờ đợi cần được quan tâm, tìm hiểu và nghiên cứu.


7

2.2. Những nghiên cứu về vấn đề dạy học truyện Việt Nam giai đoạn
1930 - 1945 ở THPT
Những công trình nghiên cứu mang tính tổng quát về truyện Việt Nam
giai đoạn 1930 -1945 như: Nam Cao - nhà văn hiện thực xuất sắc (2000).
Phan Trọng Luận, Văn học nhà trường những điểm nhìn (2001). Nguyễn Duy
Từ, Truyện ngắn Nam Cao từ lãng mạn đến hiện thực (2004). Văn học Việt
Nam 1900 - 1945 (2004), Nhóm tác giả, NXB Giáo dục. GS.TS Trần Đăng
Suyền, Chủ nghĩa hiện thực trong VHVN nửa đầu thế kỷ XX (2013). Phong
Lê, Nam Cao - người kết thúc vẻ vang trào lưu văn học hiện thực (2013).
- Những bài viết, luận án, luận văn về nâng cao chất lượng dạy học
truyện Viêt Nam giai đoạn 1930 - 1945 ở trường phổ thông như: Luận văn
Huỳnh Thị Liên Chi (2003), Đối thoại trong giờ học tác phẩm tự sự ở nhà
trường phổ thông, ĐHSP Hà Nội. Luận án của Nguyễn Thị Thu Thủy (2006),
Điển hình hóa trong văn xuôi hiện thực phê phán Việt Nam (giai đoạn 1930 1945) ĐHKHXH và NV, Hà Nội. Đỗ Thanh Hòa Luận văn Phương pháp dạy
tác phẩm văn học hiện thực phê phán ở trường THPT (2011), ĐHGD, Hà
Nội. Trần Hoàng Dương Luận văn Vận dụng quan điểm tiếp cận đồng bộ tác
phẩm văn chương vào dạy học tác phẩm Chí Phèo của nhà văn Nam Cao
(SGK Ngữ văn 11 – tập 1) (2013), ĐHGD, Hà Nội.Trương Thị Kim Dung
Luận văn Đổi mới phương pháp dạy học tác phẩm hiện thực phê phán trong
sách Ngữ văn 11 theo hướng tiếp cận cấu trúc (2015) ĐHGD Hà Nội. Trần
Thị Hải Vân Luận văn Biện pháp khai thác chất trữ tình giàu kịch tính trong
“Chữ người tử tù” của Nguyễn Tuân (2011), ĐHSP Hà Nội…
Tiếp nối và kế thừa những thành tựu của người đi trước, chúng tôi
mạnh dạn đề xuất đề tài “Xây dựng và sử dụng sơ đồ, bảng biểu trong dạy học
truyện Việt Nam giai đoạn 1930 - 1945 ở THPT”

9

5. Phƣơng pháp nghiên cứu
5.1 Phƣơng pháp phân tích, tổng hợp tài liệu
* Phương pháp phân tích: Tác giả nghiên cứu các văn bản, các tài liệu
lý luận để thu thập tư liệu, nghiên cứu lịch sử vấn đề, nghiên cứu các tài liệu
lý luận có liên quan đến vấn đề nghiên cứu, phân tích, chọn lọc các thông tin
quan trọng phục vụ cho đề tài nghiên cứu của mình.
* Phương pháp tổng hợp lý thuyết: Trên cơ sở chọn lọc những thông tin
liên quan đến đề tài nghiên cứu của mình tác giả tổng hợp nhằm xây dựng bộ
khung lí luận cho đề tài nghiên cứu.
5.2. Phƣơng pháp khảo sát, nghiên cứu thực tiễn
Khảo sát thực tế, nghiên cứu thực trạng sử dụng sơ đồ, bảng biểu; lấy ý
kiến về thực trạng sử dụng và kết quả sử dụng sơ đồ, bảng biểu trong các tiết
giảng dạy truyện giai đoạn 1930 – 1945 ở THPT. Để khảo sát, tác giả đã dùng
mẫu phiếu với các thông số và các chỉ tiêu cần làm sáng tỏ (mẫu phiếu ở phần
phụ lục).
5.3. Phƣơng pháp thực nghiệm sƣ phạm
Thực nghiệm là phương pháp rất quan trọng trong nghiên cứu. Thực
nghiệm thành công sẽ cho kết quả khách quan và tạo khả năng vận dụng
nhanh chóng các kết quả nghiên cứu vào thực tiễn, đồng thời tạo ra phương
hướng nghiên cứu mới. Ở đề tài này, tác giả tổ chức thực nghiệm dạy học và
đối chứng trên một số đối tượng và địa bàn khác nhau. Sau đó thống kê kết
quả thực nghiệm, đối chứng kết quả thực nghiệm giữa các lớp cùng trường,
giữa các trường với nhau. Từ đó đánh giá những thành công và những điều
cần tiếp tục hoàn thiện của các đề xuất.
6. Giả thuyết khoa học
Nếu nghiên cứu tìm hiểu những ưu điểm của sơ đồ, bảng biểu để xây
dựng và đưa vào sử dụng các sơ đồ, bảng biểu phù hợp với đặc điểm của



1. Sơ đồ, bảng biểu
1.1. Khái niệm
Từ điển Tiếng Việt của Hoàng Phê (Nhà xuất bản Đà Nẵng - 2009), đã
đưa ra khái niệm về “sơ đồ” và “bảng biểu” như sau:
- Sơ đồ là những hình vẽ quy ước có tính chất sơ lược nhằm mô tả đặc
trưng nào đó của đối tượng hay quá trình nào đó.
- Bảng biểu gồm: bảng và biểu. Trong đó bảng thường có cột và hàng
để kê một nội dung nào đó theo thứ tự, cách thức nhất định còn biểu là bảng
kê danh mục, số liệu để làm căn cứ, đối chiếu.
Theo đó, khái niệm sơ đồ, bảng biểu bao hàm nhiều dạng như: sơ đồ tư
duy, sơ đồ Venn, Bản đồ khái niệm, sơ đồ mạng nhện, sơ đồ cấu trúc…Mỗi
loại lại có khái niệm cụ thể, riêng biệt. Ở đây chúng tôi chỉ tập trung nghiên
cứu cách xây dựng và sử dụng sơ đồ, bảng biểu vào dạy học truyện Việt Nam
giai đoạn 1930 – 1945 ở THPT mà không đi vào tìm hiểu một dạng sơ đồ
bảng biểu cụ thể nào.
Như chúng ta đã biết, sơ đồ, bảng biểu được sử dụng phổ biến và có
hiệu quả ở rất nhiều lĩnh vực, ngành nghề trong cuộc sống như: kinh tế, quân
sự, giáo dục … Ta có thể sử dụng sơ đồ, bảng biểu để xây dựng kế hoạch làm
việc, để lập dự toán thu chi, để phân công công việc… Tất nhiên trong từng
lĩnh vực việc sử dụng sơ đồ, bảng biểu phải đáp ứng được những đặc thù của
lĩnh vực đó. Vì vậy, việc nghiên cứu và vận dụng sơ đồ, bảng vào trong giảng
dạy ở môn Ngữ văn ở nhà trường phổ thông chỉ thực sự đem lại hiệu quả khi
gắn liền với đặc trưng của môn học, lớp học và người học.


12

1.2. Ƣu điểm của sơ đồ, bảng biểu
1.2.1.Tăng cƣờng khả năng ghi nhớ của bộ não

1.2.2. Cung cấp bức tranh tổng thể về vấn đề
Sơ đồ, bảng biểu là hình ảnh có tính chất biểu tượng được xây dựng
trên các sự vật, các yếu tố trong cấu trúc sự vật và mối liên hệ giữa các yếu tố
đó dưới dạng trực quan, cảm tính (quan sát được, cảm nhận được). Sơ đồ,
bảng biểu tạo thành một tổ chức hình khối phản ánh cấu trúc và lôgic bên
trong của khối lượng kiến thức một cách khái quát, súc tích và trực quan cụ
thể nhằm khái quát những nội dung cơ bản tạo nên một bức tranh tổng thể của
một chủ đề. Qua sơ đồ, ta thấy được toàn bộ những vấn đề liên quan đến đối
tượng: từ những vấn đề tổng quát, trọng tâm đến những nội dung nhỏ nhất.
Đặc biệt sơ đồ, bảng biểu còn cho chúng ta cái nhìn đa chiều về mọi mặt của
một vấn đề. Vì vậy, khi nhìn vào sơ đồ, bảng biểu ta nhận ra được những mối
liên hệ giữa các nội dung. Từ đó, ta xác định được đâu là vấn đề trung tâm,
dấu hiệu bản chất, ý chính, ý phụ…đem lại cho chúng ta hiệu quả công việc,
có cái nhìn tổng thể cho một vấn đề, lên kế hoạch hợp lý, hiệu quả. Albert
Einstein là nhà khoa học thiên tài có ảnh hưởng lớn nhất mọi thời đại. Ông đã
sử dụng phương pháp tư duy bằng sơ đồ, bảng biểu - một phương pháp tư duy
cực kỳ hiệu quả đem đến sự thành công cho ông. Ông sử dụng sơ đồ, bảng
biểu để trình bày rõ ràng các ý tưởng của mình trên giấy, để có cái nhìn thực tế
và tổng thể hơn về vấn đề.
1.2.3.Tiết kiệm thời gian và công sức
Khối lượng kiến thức lớn có thể khái quát chỉ bảng một sơ đồ, bảng
biểu ngắn gọn, cô động và súc tích. Nhờ có sơ đồ, bảng biểu con đường để
khám phá, chinh phục, chia sẻ kiến thức, thông tin, công việc trở nên dễ dàng
hơn, đặc biệt không tốn nhiều thời gian công và sức của con người. Bởi sơ đồ,
bảng biểu tận dụng tối đa những từ ngữ cô đọng (từ khoá) và những hình vẽ


14

sinh động, sáng tạo để diễn đạt một khối lượng kiến thức khổng lồ. Nhìn vào

giác quan mà căn cứ vào bản chất của sự vật hiện tượng. Vì vậy, có thể mô
hình hóa, trừu tượng hóa các sự vật, hiện tượng không thể quan sát trực tiếp.
Do đó, có thể mô hình hóa vật chất hoặc mô hình trừu tượng.
Theo nghĩa rộng, trực quan là sự miêu tả hiện thực dưới các dạng cụ thể
- cảm tính của tri giác và biểu tượng. Trong hình thức cảm tính - trực quan
hiện thực xung quanh được phản ánh, các cấu trúc, các quy luật của nó được
mô hình hóa, các mối liên hệ chức năng và các mối liên hệ tương hỗ của các
cấu trúc được mô hình hóa và các phần tử của chúng được bộc lộ rõ.
Trực quan trong nghĩa chung của tiếng Việt là một cách tiếp cận đối
tượng bằng một số hoặc tổng hợp tất cả các giác quan của con người.
Trong dạy học, trực quan là nguyên tắc lý luận dạy học. Trực quan
trong dạy học phải dựa trên những hình ảnh cụ thể được học sinh trực tiếp tri
giác. Theo Phan Trọng Ngọ “Phương tiện trực quan là những phương tiện
được sử dụng trong hoạt động dạy và học, có vai trò là công cụ để người giáo
viên tác động vào đối tượng; có chức năng khơi dậy, dẫn truyền, làm tăng khả
năng hoạt động của các giác quan, góp phần tạo nên chất liệu cảm tính của
đối tượng nhận thức nhằm đạt được mục đích dạy học cụ thể” [34, tr.118]
* Quan niệm về phƣơng tiện trực quan trong dạy học
J.A.Cômenxki (1592 - 1670) - nhà sư phạm lỗi lạc của Tiệp Khắc là
người đầu tiên đưa ra yêu cầu phải đảm bảo tính trực quan trong dạy học.
Trong đó ông khẳng định trực quan là “nguyên tắc vàng ngọc” với nội dung:
trong quá trình dạy học cần tận dụng mọi giác quan của học sinh trong phạm
vi có thể. Theo ông cách dạy học này sẽ giúp học sinh dễ dàng nắm bắt tri
thức.
J.J. Rútxô (1720 - 1778), trong lí luận dạy học của mình đã chú trọng
các phương pháp dạy học mang tính trực quan. Dạy học theo ông không chỉ


16


thức của chủ thể nhận thức, cắt nghĩa, cung cấp nghĩa cho đối tượng. Sơ đồ,
bảng biểu chính là sự tư duy logic của chúng ta về đối tượng.
Sơ đồ, bảng biểu được dùng để phản ánh một cách trực quan các dấu
hiệu bản chất của đối tượng. Nhưng nó không phải là vật thay thế cho đối
tượng mà nó chỉ phản ánh những dấu hiệu bản chất nhất định của đối tượng
làm cho các dấu hiệu bản chất trở nên trực quan trước người đọc. Giáo viên
sử dụng sơ đồ, bảng biểu khi các đối tượng học tập và nhận thức ở dưới dạng
trừu tượng mà học sinh khó tiếp thu. Việc sử dụng sơ đồ, bảng biểu khiến cho
nội dung kiến thức được bộc lộ một cách trực quan giúp học sinh dễ dàng
nhận thức và chiếm lĩnh.
Vì vậy, sơ đồ, bảng biểu là những phương tiện trực quan có nhiều ưu
điểm trong dạy học. Sử dụng hiệu quả sơ đồ, bảng biểu sẽ góp phần làm thay
đổi tích cực trong phương pháp giảng dạy của giáo viên và cách thức học tập
của học sinh. Giáo viên sẽ tiết kiệm được thời gian, giảm khối lượng công
việc tay chân (không phải nghi chép nhiều) còn học sinh được quan sát nhiều
hơn, chủ động, tích cực và hứng thú trong học tập hơn. Học sinh khi sử dụng
sơ đồ, bảng biểu sẽ tăng khả năng nghi nhớ, khả năng tư duy, khả năng liên
tưởng, tưởng tượng và có niềm hứng thú, say mê khi học bài.
1.4. Sơ đồ, bảng biểu trong quá trình dạy học tác phẩm văn chƣơng
Thứ nhất,văn học là một bộ môn nghệ thuật, lấy con ngƣời làm đối
tượng nhận thức, lấy hình tƣợng làm phương thức biểu đạt nội dung và lấy
ngôn từ làm chất liệu xây dựng hình tượng. Trong khi các bộ môn nghệ thuật
khác như âm nhạc, hội họa, điêu khắc…dùng chất liệu là âm thanh, đường
nét, hình khối… để xây dựng hình tượng thì văn học lại lấy ngôn từ làm chất
liệu sáng tác. Vì vậy, hình tượng trong tác phẩm văn chương không thể cảm
nhận một cách trực tiếp bằng các giác quan thông thường mà buộc độc giả
phải thâm nhập,cảm nhận và tưởng tượng qua ngôn ngữ. Mặt khác, tác phẩm


18


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status