SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THỪA THIÊN HUẾ
TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG VINH XUÂN
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
SỬ DỤNG SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU
TRONG DẠY HỌC NGỮ VĂN Ở
TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
Môn: Ngữ văn
Tên tác giả: Phan Thị Tuyết Nhung
Chức vụ: Tổ trưởng chuyên môn
Phú Vang, tháng 3 năm 2016
1
MỤC LỤC
Trang
PHẦN I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
1. Lí do chọn đề tài
2. Mục đích nghiên cứu
3. Đối tượng nghiên cứu
4. Phương pháp nghiên cứu
5. Đóng góp của đề tài
6. Cấu trúc đề tài
PHẦN II. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU
1.1. Khái quát về sơ đồ, bảng biểu
1.2. Những ưu điểm của phương pháp dạy học theo sơ đồ, bảng
8
mạng tháng Tám năm 1945 (Ngữ văn 11)
2.1.3. Bài khái quát văn học Việt Nam từ Cách mạng tháng Tám
10
năm 1945 đến hết thế kỉ XX (Ngữ văn 12)
2.2. Đối với những bài học có sự đối sánh, liên tưởng
2.2.1. Chương trình lớp 10
2.2.2. Chương trình lớp 11
2.2.3. Chương trình lớp 12
2.3. Đối với nội dung trọng tâm của từng bài học
2.3.1. Ứng dụng sơ đồ, bảng biểu để tóm tắt tác phẩm
2.3.2. Ứng dụng sơ đồ, bảng biểu để dạy một nội dung trọng tâm
12
12
15
16
17
17
17
của bài học
2.3.3. Ứng dụng sơ đồ, bảng biểu vào hoạt động tổng kết bài học
CHƯƠNG 3: THIẾT KẾ MỘT SỐ GIÁO ÁN CÓ SỬ DỤNG SƠ
18
20
những hoạt động đổi mới phương pháp dạy học để nhanh chóng bắt kịp với
hướng giáo dục hiện đại, phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh.
3
Ngày nay, công nghệ thông tin phát triển việc sử dụng phương tiện trực
quan trong dạy học nói chung và giảng dạy môn Ngữ văn nói riêng đã trở thành
quen thuộc và luôn được đề cao. Sử dụng phương tiện trực quan trong dạy học
được áp dụng bằng nhiều cách thức, nhiều phương tiện mà mục đích cuối cùng
là cải thiện và nâng cao chất lượng bộ môn. Mục đích ấy có đạt được hay không
còn tùy vào cách thức lựa chọn và sử dụng phương tiện trực quan của từng giáo
viên. Qua thực tế, chúng ta nhận thấy các phương tiện trực quan được giáo viên
phổ thông sử dụng thường là máy tính, máy chiếu, tranh ảnh, băng đĩa... Những
phương tiện trực quan trên đã khơi dậy hứng thú học tập của học sinh góp phần
cải thiện và nâng cao hiệu quả giảng dạy. Nhưng theo tôi hiệu quả mang lại vẫn
chưa cao vì những phương tiện trực quan trên chỉ mang lại hứng thú tức thời
như xem tranh ảnh, nghe băng đĩa chứ không có tác dụng nhiều trong việc tích
cực hóa hoạt động của học sinh mà trái lại có khi lựa chọn phương tiện trực
quan không phù hợp như tranh ảnh, băng đĩa và còn mang tính đối phó, gượng
ép sẽ làm cho giờ học Ngữ văn thêm nhàm chán, nhạt nhẽo.
Vì vậy, bản thân tôi nhận thấy còn một phương tiện trực quan nữa mà các
giáo viên dạy Ngữ văn ở trường trung học phổ thông hiện nay ít sử dụng và
thậm chí cho là lạc hậu nhưng nó vẫn mang lại hiệu quả cao trong việc phát huy
tính tích cực của học sinh, đánh thức khả năng tư duy của người học đó là sử
dụng sơ đồ, bảng biểu. Nếu sử dụng phương pháp này kết hợp với thuyết trình
hoặc vấn đáp sẽ giúp học sinh hiểu sâu sắc và vận dụng tri thức một cách có
hiệu quả hơn. Với những lí do trên bản thân tôi đã lựa chọn đề tài: "Sử dụng sơ
đồ, bảng biểu trong dạy học Ngữ văn ở trường trung học phổ thông".
2. Mục đích nghiên cứu
5
PHẦN II. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
CHƯƠNG 1
KHÁI QUÁT CHUNG VỀ SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU
1.1. Khái quát về sơ đồ, bảng biểu
Sơ đồ là hình vẽ quy ước, sơ lược nhằm mô tả một đặc trưng nào đó của
một sự vật hay một quá trình.
Sơ đồ, bảng biểu là một trong những phương pháp thuộc nhóm phương
pháp dạy học trực quan. Sử dụng hình vẽ, quy ước, thiết kế mẫu bảng để mô
hình hóa bài học giúp học sinh có được những kiến thức cơ bản về bài học. Để
sử dụng sơ đồ, bảng biểu trong dạy học có hiệu quả trước tiên các kiến thức cơ
bản cần được sắp xếp dưới dạng mô hình sơ đồ, bảng biểu. Sơ đồ , bảng biểu là
những hình ảnh có tính biểu tượng được xây dựng trên các sự vật, các yếu tố
trong cấu trúc sự vật và mối liên hệ giữa các yếu tố đó dưới dạng trực quan cảm
tính. Sơ đồ, bảng biểu tạo thành một tổ chức hình khối phản ánh cấu trúc và
6
lôgíc bên trong của một khối lượng kiến thức một cách khái quát, súc tích và
trực quan cụ thể nhằm giúp cho học sinh nắm vững một cách trực tiếp, khái quát
những nội dung cơ bản của bài học đồng thời qua đó phát triển năng lực nhận
thức của học sinh.
Dạy học theo sơ đồ, bảng biểu là cách thức hoạt động phối hợp thống nhất
giữa người dạy và người học, giúp người học hiểu được bản chất của các sự vật,
hiện tượng liên quan đến nội dung, nhiệm vụ dạy học dựa vào sơ đồ, bảng biểu.
1.2. Những ưu điểm của dạy học theo sơ đồ, bảng biểu
Phát huy tính tích cực của học sinh, huy động tối đa các giác quan của
người học tham gia vào quá trình nhận thức, lĩnh hội kiến thức.
NGỮ VĂN Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
2.1. Đối với những bài khái quát văn học
Những bài khái quát văn học thường khô khan, dài và khó đối với học sinh.
Nó cung cấp kiến thức ở mức độ khái quát cao như: Về chặng đường phát triển
của văn học, những đặc điểm, thành tựu của một thời kì, giai đoạn văn học để
phân biệt với các thời kì, giai đoạn văn học khác. Nếu yêu cầu học sinh học
thuộc hết thì rất khó nên vận dụng sơ đồ, bảng biểu ở những bài học này là rất
cần thiết để giúp học sinh nắm bắt được những nét khái quát, những đơn vị kiến
thức cơ bản của bài học, có sự đối chiếu giữa các giai đoạn, thời kì văn học với
nhau. Đồng thời phát huy được năng lực nhận biết, so sánh, tổng hợp ở học sinh
giúp học sinh khắc sâu bài học một cách có hệ thống.
8
Trong chương trình Ngữ văn trung học phổ thông có ba bài khái quát văn
học tương ứng với ba thời kì phát triển của văn học Việt Nam như sau:
2.1.1. Bài khái quát văn học Việt Nam từ thế kỉ X đến hết thế kỉ XIX
(Ngữ văn 10)
Với bài học này ta có thể vận dụng sơ đồ, bảng biểu ở mục II - các giai
đoạn phát triển với bảng biểu sau:
Giai đoạn văn
Hoàn cảnh
Nội dung
Nghệ thuật
Tác giả, tác
Nôm
của
Trãi,
thắng lợi, chế
triển
với "Truyền
độ phong kiến
nhiều
thể mạn lục" của
đạt đến cực
loại
thịnh.
phú.
-Chế
phong
kì
-Xã hội Việt tư tưởng canh chữ
Nam
của
chuyển tân đất nước.
từ phong kiến
Nôm Nguyễn
vẫn giữ vai Khuyến.
trò chủ đạo.
sang thực dân
nửa
phong
kiến.
Với bảng biểu này, học sinh dễ dàng nắm được văn học Việt Nam từ thế kỉ
X đến hết thế kỉ XIX gồm bốn giai đoạn, phát triển ở những hoàn cảnh khác
nhau, mỗi giai đoạn có một nội dung phản ánh và đặc sắc nghệ thuật riêng gắn
liền với những tác giả, tác phẩm khác nhau. Qua đó, học sinh có thể thấy được
văn học chịu một sự tác động lớn từ hoàn cảnh lịch sử, xã hội, đó là quy luật
10
phát triển của văn học "Thời đại nào văn học ấy". Giúp học sinh có cái nhìn
Tâm" của Hoàng
văn học trung đại
Ngọc
vẫn còn tồn tại.
"Bản án chế độ
Đây là giai đoạn
thực dân Pháp"
giao thời.
của
Phách,
Nguyễn
Ái
Quốc...
Từ 1930 đến 1945 Qúa trình hiện đại -Truyện ngắn và "Số đỏ" của Vũ
hóa hoàn tất với tiểu thuyết được Trọng
Phụng,
hóa diễn ra theo một quá trình và nắm được những thành tựu chủ yếu cũng như
tác giả, tác phẩm tiêu biểu của từng giai đoạn văn học. Qua đó, giúp các em có
nền tảng cơ bản để tiếp thu các tác phẩm văn học sau này.
2.1.3. Bài khái quát văn học Việt Nam từ Cách mạng tháng Tám năm
1945 đến hết thế kỉ XX (Ngữ văn 12)
Với bài học này có thể vận dụng sơ đồ, bảng biểu cho mục II.2. Qúa trình
phát triển và những thành tựu chủ yếu của văn học Việt Nam từ 1945 đến hết thế
kỉ XX.
Chặng đường
Nội dung
phát triển
chính
Văn xuôi
Thành tựu
Thơ
Tác giả,
Kịch và
tác phẩm
lí luận
12
"Mùa
1964
lạc"
thay đổi của tài,
bao mạnh mẽ hiện
của
đất nước và quát nhiều có nhiều nhiều
Nguyễn
con
Khải, "Vợ
trong
người vấn
đề, tập
thơ tác
phẩm
đứa
con
Có
trong gia
nhiều
đình" của
tác
Nguyễn
phẩm
Thi,
Từ 1965 đến Ca ngợi tinh
Đánh dấu gây
"Rừng xà
1975
một bước được
1945 đến 1975 phát triển qua ba chặng đường khác nhau, mỗi chặng đường có
nội dung phản ánh riêng và đạt được những thành tựu nhất định. Từ đó, học sinh
thấy được văn học Việt Nam thời kì này theo sát từng chặng đường lịch sử, từng
nhiệm vụ chính trị của đất nước để thực hiện xuất sắc nhiệm vụ của mình là
phục vụ kháng chiến trở thành một thứ vũ khí sắc bén để đấu tranh trực diện với
kẻ thù. Qua đó, học sinh thấy được tầm quan trọng của văn học đối với sự
14
nghiệp cách mạng của đất nước cũng như sự phát triển phong phú, đa dạng của
các thể loại văn học trong thời kì này đặc biệt là văn xuôi và thơ.
2.2. Đối với những bài học có sự đối sánh, liên tưởng
Dạng bài này thường là có sự so sánh, đối chiếu giữa các đơn vị kiến thức
để giúp học sinh khắc sâu một đặc điểm của đối tượng này trong mối tương
quan với đối tượng khác làm nổi bật sự giống nhau, khác nhau hoặc mối quan hệ
giữa chúng. Dạng bài này trong chương trình trung học phổ thông rất nhiều và
có thể áp dụng phương pháp sơ đồ, bảng biểu ở cả ba phân môn: Đọc văn; Làm
văn; Tiếng Việt. Sau đây tôi minh họa bằng một số ví dụ cụ thể:
2.2.1. Chương trình lớp 10
*Bài tổng quan văn học Việt Nam có thể sử dụng hai mẫu bảng biểu so
sánh sau:
Mẫu 1: Dùng bảng so sánh giữa hai bộ phận văn học dân gian và văn học
viết trong mục I ở sách giáo khoa: Các bộ phận hợp thành của văn học Việt Nam
Các phương diện
Tác giả
Đặc trưng
Thể loại
Văn học dân gian
Thời gian
Văn học trung đại
Văn học hiện đại
Từ thế kỉ XVIII đến hết Từ đầu thế kỉ XX đến hết
Chữ viết
Thể loại
thế kỉ XIX
thế kỉ XX
Chữ Hán và Chữ Nôm
Chữ quốc ngữ
Tiếp nhận hệ thống thể Thơ mới, tiểu thuyết,
15
loại của văn học Trung kịch.
Quốc và sáng tạo thể loại
mới của dân tộc như lục
Nội dung
bát, song thất lục bát.
Yêu nước, nhân đạo
-Phản ánh hiện thực xã
hội và chân dung con
người Việt Nam.
-Công cuộc xây dựng chủ
nghĩa xã hội, sự nghiệp
Hoàn cảnh sử dụng
Ngôn ngữ nói
Ngôn ngữ viết
-Ngôn ngữ âm thanh lời -Thể hiện bằng chữ viết
nói
trong văn bản.
- Sử dụng trong giao tiếp -Diễn ra lâu dài.
Yếu tố hỗ trợ
hàng ngày.
Ngữ điệu, cử chỉ, ánh Hệ thống dấu câu, kí
16
mắt, điệu bộ.
Từ ngữ, câu văn
hiệu, các hình ảnh minh
họa, sơ đồ, bảng biểu.
-Phong phú đa dạng, có -Từ ngữ lựa chọn có tính
thể sử dụng khẩu ngữ.
chính xác cao phù hợp
-Câu tỉnh lược, câu đặc với từng phong cách văn
biệt, câu rườm rà.
Đặc điểm
sự.
Là tiếng nói tình cảm của Có cốt truyện, nhân vật,
con người, sự rung động sự kiện, tình tiết.
Ngôn ngữ
của trái tim.
Cô đọng, hàm súc, giàu Đa dạng: ngôn ngữ của
hình ảnh, nhạc điệu.
người kể chuyện, nhân
vật, độc thoại, đối thoại
17
Phân loại
-Theo nội dung biểu -Văn học dân gian: Thần
hiện: thơ tự sự, trữ tình, thoại, truyền thuyết, cổ
trào phúng.
tích, ngụ ngôn, truyện
-Theo cách tổ chức: thơ cười...
cách luật, thơ tự do, thơ -Văn
văn xuôi.
-Có những trạng thái đối lập: -Người con gái khi yêu cũng
dữ dội >< dịu êm; ồn ào >< có những trạng thái tình cảm
lặng lẽ.
khác nhau: Giận dữ, hờn
ghen, nồng nàn, sâu lắng.
-Sóng từ bỏ không gian chật -Em chủ động tìm kiếm tình
hẹp của dòng sông để tìm yêu của mình.
đến không gian rộng lớn của
Khổ 3 và 4
biển cả.
Sóng muốn tìm nguồn gốc Em muốn cắt nghĩa nguồn
Kổ 5
của mình.
gốc của tình yêu.
Sóng nhớ bờ ngày đêm Em nhớ anh cả trong mơ còn
Khổ 6 và 7
không ngủ được.
thức.
Mọi con sóng đều muốn vỗ Em luôn hướng đến anh,
18
Khổ 8 và 9
Uống thuốc
bàn
về
thuốc, tử tù
Hai bà
mẹ gặp
nhau
Pháp
trường
Quán trà
Nghĩa địa
àThời gian nghệ thuật
àDiễn biến câu chuyện
àKhông gian nghệ thuật
Với sơ đồ này học sinh sẽ nắm được cốt truyện, diễn biến của toàn bộ câu
chuyện cũng như thời gian và không gian nghệ thuật của tác phẩm để từ đó hiểu
được nội dung tư tưởng của tác phẩm. Nếu dùng sơ đồ để tóm tắt thì ít mất thời
gian, học sinh dễ thuộc, dễ nhớ và nhớ lâu hơn so với việc tóm tắt bằng văn bản.
19
Tầng nghĩa ba: Phải tìm ra một phương thuốc để chữa bệnh tinh thần cứu
dân tộc đó là bệnh mê muội của quần chúng nhân dân và bệnh xa rời quần chúng
của những người làm cách mạng.
2.3.3. Ứng dụng sơ đồ, bảng biểu vào hoạt động tổng kết bài học
20
Ví dụ sau khi dạy xong tác phẩm "Ai đã đặt tên cho dòng sông" của
Hoàng Phủ Ngọc Tường (Ngữ văn 12) ta có thể sử dụng sơ đồ sau để hệ thống
hóa và củng cố lại toàn bộ kiến thức cho học sinh.
Sông Hương – Bản trường ca của rừng già
Sông Hương ở thượng
nguồn
Sông Hương – Cô gái Di – gan phóng khoáng
và man dại
Sông Hương – Người mẹ phù sa của vùng văn
hóa xứ sở
Sông Hương ngoại vi thành
phố Huế
Sông Hương – người gái đẹp mơ màng nằm
ngủ giữa cánh đồng Châu Hóa đầy hoa dại
Sông Hương – mang vẻ đẹp trầm mặc như triết
lí, như cổ thi
Sông Hương – là điệu Slow tình cảm dành
riêng cho Huế
SỬ DỤNG SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU
3.1. Thiết kế giáo án tiết 48, 49: "Ai đã đặt tên cho dòng sông?" (Hoàng
Phủ Ngọc Tường - Ngữ Văn 12)
Tiết 48: Đọc văn
Ngày dạy: ...../..../.......
AI ĐÃ ĐẶT TÊN CHO DÒNG SÔNG?
Ngày soạn:...../..../......
Hoàng Phủ Ngọc Tường
A.Mục tiêu:
Giúp HS: - Hiểu được tình yêu, niềm tự hào tha thiết và sâu lắng mà
Hoàng Phủ Ngọc Tường dành cho dòng sông quê hương, cho xứ Huế thân yêu
và cũng là dành cho đất nước.
- Nhận biết được đặc trưng của thể loại bút kí và nghệ thuật
viết bút kí thể hiện trong bài.
B.Phương pháp - phương tiện:
- Phương pháp:
Nêu vấn đề, thảo luận, gợi tìm, diễn giảng.
- Phương tiện:
Sách giáo khoa, sách giáo viên, giáo án, chuẩn kiến thức kĩ năng.
C.Tiến trình bài dạy:
22
Bài cũ: - Nêu vẻ đẹp chính của sông Đà trong đoạn trích “Người lái đò
sông Đà” ?
Những sáng tác chính ( sgk )
Æ Sáng tác của Hoàng Phủ Ngọc
Tường là sự kết hợp giữa chất trí
tuệ và tính trữ tình, giữa nghị
luận sắc bén và tư duy đa chiều
được tổng hợp từ nhiều vốn kiến
thức phong phú.
TT2: GV yêu cầu: Giới thiệu 2. Tác phẩm
đôi nét về tác phẩm “Ai đã đặt Bút kí " Ai đã đặt tên cho dòng
tên cho dòng sông?”
sông?" Được viết năm 1981, in
HS dựa vào sgk tiến hành, phát trong tập sách cùng tên.
biểu
- Đoạn trích : phần 1 trong ba
GV nhận xét, chốt:
phần của tác phẩm
23
TT3: GV yêu cầu: Chia bố cục 3. Bố cục: 2 phần
của đoạn trích?
- Phần 1: từ đầu…quê hương xứ
Di-gan phóng khoán và man dại.
- Sông Hương là người mẹ phù
sa của vùng văn hóa xứ sở.
TT2: GV hỏi: Thủ pháp nghệ
* Nghệ thuật: so sánh, liên
thuật nào được tg sử dụng để tưởng, nhân hoá
miêu tả ?
HS phát hiện, trả lời
GV nhận xét, chốt:
TT3: GV hỏi: SH ở thượng
àSông Hương ở thượng nguồn
nguồn hiện lên với vẻ đẹp như toát lên vẻ đẹp của một sức sống
thế nào?
mãnh liệt, hoang dại, đầy cá tính.
HS bs vb, tìm chi tiết, trả lời
GV nhận xét, chốt:
TT4: GV gọi HS đọc đoạn miêu b.Sông Hương ở ngoại vi thành
tả Sông Hương ở ngoại vi thành phố
24
phố và hỏi: Để về với thành
vào thành phố Huế và hỏi: Khi
- Sông Hương vui tươi hẳn lên.
chảy vào thành phố Huế SH có
- Mềm hẳn đi, như một tiếng
nét đặc trưng gì?
“ vâng” không nói của tình yêu.
HS bs vb, tìm chi tiết, trả lời
- Trôi đi chậm, thực chậm, cơ
GV nhận xét, định hướng lại:
hồ chỉ còn là một mặt hồ yên
TT7: GV hỏi: SH trong lòng tĩnh.
thành phố được cảm nhận qua - Sông Hương tạo những đường
những góc độ nào?
nét tinh tế làm nên vẻ đẹp cổ
HS trao đổi nhóm nhỏ, trả lời
kính của cố đô.