1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
NGUYỄN THỊ HIỀN
XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU
TRONG DẠY HỌC TRUYỆN VIỆT NAM
GIAI ĐOẠN 1930 - 1945 Ở THPT
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
HÀ NỘI, 2017
2
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
NGUYỄN THỊ HIỀN
XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU
TRONG DẠY HỌC TRUYỆN VIỆT NAM GIAI
ĐOẠN 1930 – 1945 Ở THPT
Chuyên ngành: Lí luận và Phương pháp dạy học bộ môn Văn – Tiếng Việt
Mã số: 60 14 01 11
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn thạc sĩ khoa học “Xây dựng và sử dụng sơ đồ,
bảng biểu trong dạy học truyện Việt Nam giai đoạn 1930 – 1945 ở THPT” là
công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi dưới sự hướng dẫn của PGS. TS
Phạm Thị Thu Hương. Các nội dung nghiên cứu, kết quả nghiên cứu trong luận
văn là trung thực và chưa được công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu khoa
học nào khác.
Hà Nội, tháng 10 năm 2017
Tác giả
Nguyễn Thị Hiền
5
MỤC LỤC
A. PHẦN MỞ ĐẦU.............................................................................................................. 1
1. Lí do chọn đề tài........................................................................................................... 1
1.1. Tính cấp thiết của đổi mới phương pháp dạy học ............................................. 1
1.2. Thực trạng dạy học Ngữ văn và việc đổi mới phương pháp dạy học Ngữ văn
ở trường phổ thông hiện nay ...................................................................................... 1
1.3. Phương tiện trực quan đem lại hiệu quả cao trong đổi mới phương pháp dạy
học ................................................................................................................................. 2
1.4. Sơ đồ, bảng biểu - phương tiện dạy học trực quan có nhiều ưu thế ................ 3
1.5. Vị trí của truyện Việt Nam giai đoạn 1930 - 1945 trong chương trình Ngữ
văn ở THPT .................................................................................................................. 4
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề .......................................................................................... 5
1.3.1 Quan niệm về phương tiện trực quan ......................................................... 14
1.3.2. Đặc điểm của sơ đồ, bảng biểu - phương tiện trực quan trong dạy học ......
16
1.4. Sơ đồ, bảng biểu trong quá trình dạy học tác phẩm văn chương .................. 17
2. Đặc điểm cơ bản của truyện Việt Nam giai đoạn 1930 - 1945 ở THPT ..................
19
3. Thực trạng xây dựng và sử dụng sơ đồ bảng biểu trong dạy học truyện Việt Nam
giai đoạn 1930 – 1945..................................................................................................... 21
CHƯƠNG 2 ........................................................................................................................ 25
CÁCH THỨC XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU .............................. 25
TRONG DẠY HỌC TRUYỆN VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1930 – 1945 Ở THPT ........ 25
1. Một số yêu cầu của việc xây dựng sơ đồ, bảng biểu trong dạy học truyện Việt
Nam giai đoạn 1930 – 1945 ở THPT ............................................................................ 25
1.1. Đảm bảo đặc trưng của môn học....................................................................... 25
1.2. Bám sát mục tiêu của bài học ............................................................................ 27
1.3. Có tính khoa học, tính trực quan và tính thẩm mĩ .......................................... 28
1.4. Phát huy tính tích cực của học sinh................................................................... 30
1.5. Phối hợp với các biện pháp và phương tiện dạy học khác. ............................. 30
2. Thiết kế sơ đồ, bảng biểu trong dạy học truyện Việt Nam giai đoạn 1930 - 1945 ở
THPT............................................................................................................................... 31
2.1. Sơ đồ, bảng biểu trong tìm hiểu cốt truyện ...................................................... 31
2.2. Sơ đồ, bảng biểu trongtìm hiểu tình huống truyện.......................................... 41
2.3. Sơ đồ, bảng trong phân tích nhân vật .............................................................. 46
2.4. Sơ đồ, bảng biểu phân tích các chi tiết nghệ thuật .......................................... 55
3. Sử dụng sơ đồ, bảng biểu vào quá trình dạy học truyện giai đoạn 1930 – 1945 ở
trường THPT.................................................................................................................. 60
3.1. Sử đụng sơ đồ, bảng biểu trong quá trình học tập cá nhân ............................ 60
3.2. Sử dụng sơ đồ, bảng biểu trong quá trình học tập hợp tác............................. 65
3.2.1. Hợp tác với bạn ............................................................................................ 66
1.1. Tính cấp thiết của đổi mới phương pháp dạy học
Thế kỉ XXI là thế kỉ của hội nhập và phát triển với những sự cạnh tranh
khốc liệt và sự phát triển như vũ bão của khoa học công nghệ. Đứng trước
những cơ hội và những thách thức đó, ngành Giáo dục và Đào tạo có nhiệm
vụ hết sức quan trọng là phải tạo ra những con người mới năng động, sáng tạo
nhằm đáp ứng yêu cầu của một xã hội hiện đại. Muốn thực hiện mục đích này
phải có những đổi mới về phương pháp dạy học. Nghị quyết Hội nghị TW 8
khóa XI về đổi mới căn bản toàn diện giáo dục và đào tạo nêu rõ: “Tiếp tục
đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học theo hướng hiện đại; phát huy tính
tích cực chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kỹ năng của người học;
khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, nghi nhớ máy móc. Tập trung dạy
cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để người học tự cập nhật
và đổi mới tri thức, kỹ năng, phát triển năng lực.”
1.2. Thực trạng dạy học Ngữ văn và việc đổi mới phương pháp dạy
học Ngữ văn ở trường phổ thông hiện nay
Trong những năm gần đây phương pháp dạy học nói chung và phương
pháp dạy học môn Ngữ văn nói riêng đã có nhiều đổi mới: từ phương pháp
dạy học theo lối "truyền thụ một chiều" sang dạy cách học, cách vận dụng
kiến thức, rèn luyện kỹ năng, hình thành năng lực và phẩm chất; tăng cường
việc học tập trong nhóm, đổi mới quan hệ giáo viên - học sinh... Nhiều
phương pháp, phương tiện và kĩ thuật dạy học hiện đại đã được sử dụng có
hiệu quả, đặc biệt là việc sử dụng các phương tiện trực quan vào trong dạy
học đã được chú trọng và triển khai góp phần tích cực hoá hoạt động nhận
thức của học sinh và nâng cao chất lượng học tập.
Bên cạnh những kết quả bước đầu đã đạt được, việc đổi mới phương
pháp dạy học môn Ngữ văn ở trường THPT hiện nay vẫn còn nhiều hạn chế.
Cụ thể là: Nhiều giáo viên ngại đổi mới và vẫn áp dụng phương pháp truyền
thụ một kiến thức một chiều với cách dạy chủ yếu là thầy nói, trò nghe; thầy
77
Dạy bằng diễn kịch
57
Dạy bằng lời
53
[4, tr.43 - 44]
Bảng mô tả cho thấy, dạy bằng trực quan có hiệu quả cao hơn hẳn cách
dạy bằng lời về tỉ lệ của thông tin học sinh nhớ lại được sau một năm khi đã
học xong đơn vị bài học. Nói một cách đơn giản, dạy bằng trực quan là giúp
học sinh tạo ra những hình ảnh tâm lí về những nội dung được dạy. Những
phương tiện trực quan được thiết kế hay, sử dụng hợp lý thì học sinh không
chỉ được nghe, nhìn thấy mà chính bản thân các em cũng được tham gia để tư
duy và tìm tòi kiến thức.
Trong khi đó, tác phẩm văn chương là nghệ thuật ngôn từ hình tượng
nên rất cần tạo cho học sinh giai đoạn trực quan sinh động để giúp các em
lĩnh hội tri thức, đào sâu kiến thức, kích thích hứng thú, trí tưởng tượng…
Phương tiện trực quan trong các giờ dạy tác phẩm văn học giúp học sinh hiểu
sâu các vấn đề xã hội, con người, giá trị của tác phẩm văn chương, nâng cao
năng lực thẩm mĩ và cảm thụ cái đẹp. Trực quan khi kết hợp lời nói sẽ tạo
điều kiện dễ hiểu, dễ nhớ và nhớ lâu, làm phát triển năng lực chú ý, năng
lực quan sát, năng lực tư duy và ngôn ngữ.
1.4. Sơ đồ, bảng biểu - phương tiện dạy học trực quan có nhiều ưu
thế Sơ đồ, bảng biểu là phương tiện dạy học trực quan phù hợp với nhiều
phương pháp dạy học hiện đại và phù hợp với tất cả các loại hình học tập từ
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
2.1. Những nghiên cứu về sử dụng sơ đồ, bảng biểu trong dạy học
Đã có nhiều cuốn sách, nhiều công trình nghiên cứu của các học giả
trong và ngoài nước nghiên cứu về cách xây dựng và sử dụng sơ đồ, bảng
biểu vào trong dạy học nói chung và dạy học ở bộ môn Ngữ văn nói riêng như:
M. Alêxêep, trong cuốn Phát triển tư duy học sinh (1976) khẳng định
sử dụng đồ dùng trực quan là sơ đồ, bảng biểu, phim ảnh…sẽ giúp học sinh
nghi nhớ kiến thức nhanh, dễ dàng, kích thích tư duy, sự liên tưởng và rèn
luyện kỹ năng học tập cho học sinh.
Tác giả Bạch Thị Lan Anh (2013), trường Đại học Sư phạm Nghệ thuật
TW, có bài viết Giới thiệu phương pháp dạy học theo sơ đồ. Trong bài viết
của mình tác giả đã khẳng định dạy học theo sơ đồ hóa kiến thức là cách thức
hoạt động phối hợp thống nhất giữa người dạy và người học nhằm giúp người
học hiểu được bản chất của các sự vật, hiện tượng liên quan đến nội dung,
nhiệm vụ dạy học dựa vào mô hình, sơ đồ của chúng.
Nguyễn Thị Xuân Mai trường Đại học An Giang tại Hội thảo khoa học
quốc gia về dạy học Ngữ văn ở trường Phổ thông Việt Nam (2013) có bài viết
Gợi ý sử dụng sơ đồ, bảng biểu vào dạy một số tiết văn trong chương trình
sách giáo khoa Ngữ văn 10. Tác giả khẳng định, việc sử dụng sơ đồ, bảng
biểu đem lại hiệu quả trong việc phát huy tính sáng tạo của học sinh đặc biệt
là đánh thức khả năng tư duy của người học và đưa ra một số sơ đồ, bảng biểu
có thể áp dụng trong chương trình Ngữ văn 10 như: sơ đồ, bảng biểu cho bài
khái quát, sơ đồ, bảng biểu cho truyện; sơ đồ bảng biểu cho thơ…
Nguyễn Thị Li Kha có bài viết Sử dụng sơ đồ trong dạy học ở tiểu học
in trên Tạp chí KH ĐHSP TP HCM - số 71/2015. Tác giả đã khảo sát mức độ
hứng thú của người học khi sử dụng sơ đồ, bảng biểu và kết quả cho thấy
phần lớn là người học rất hứng thú với sơ đồ, bảng biểu. Trong bài viết tác giả
cũng giới thiệu các loại sơ đồ, bảng biểu, cách sử dụng sơ đồ, bảng biểu hiệu
Những công trình nghiên cứu mang tính tổng quát về truyện Việt Nam
giai đoạn 1930 -1945 như: Nam Cao - nhà văn hiện thực xuất sắc (2000).
Phan Trọng Luận, Văn học nhà trường những điểm nhìn (2001). Nguyễn Duy
Từ, Truyện ngắn Nam Cao từ lãng mạn đến hiện thực (2004). Văn học Việt
Nam 1900 - 1945 (2004), Nhóm tác giả, NXB Giáo dục. GS.TS Trần Đăng
Suyền, Chủ nghĩa hiện thực trong VHVN nửa đầu thế kỷ XX (2013). Phong
Lê, Nam Cao - người kết thúc vẻ vang trào lưu văn học hiện thực (2013).
- Những bài viết, luận án, luận văn về nâng cao chất lượng dạy học
truyện Viêt Nam giai đoạn 1930 - 1945 ở trường phổ thông như: Luận văn
Huỳnh Thị Liên Chi (2003), Đối thoại trong giờ học tác phẩm tự sự ở nhà
trường phổ thông, ĐHSP Hà Nội. Luận án của Nguyễn Thị Thu Thủy (2006),
Điển hình hóa trong văn xuôi hiện thực phê phán Việt Nam (giai đoạn 1930 1945) ĐHKHXH và NV, Hà Nội. Đỗ Thanh Hòa Luận văn Phương pháp dạy
tác phẩm văn học hiện thực phê phán ở trường THPT (2011), ĐHGD, Hà
Nội. Trần Hoàng Dương Luận văn Vận dụng quan điểm tiếp cận đồng bộ tác
phẩm văn chương vào dạy học tác phẩm Chí Phèo của nhà văn Nam Cao
(SGK Ngữ văn 11 – tập 1) (2013), ĐHGD, Hà Nội.Trương Thị Kim Dung
Luận văn Đổi mới phương pháp dạy học tác phẩm hiện thực phê phán trong
sách Ngữ văn 11 theo hướng tiếp cận cấu trúc (2015) ĐHGD Hà Nội. Trần
Thị Hải Vân Luận văn Biện pháp khai thác chất trữ tình giàu kịch tính trong
“Chữ người tử tù” của Nguyễn Tuân (2011), ĐHSP Hà Nội…
Tiếp nối và kế thừa những thành tựu của người đi trước, chúng tôi
mạnh dạn đề xuất đề tài “Xây dựng và sử dụng sơ đồ, bảng biểu trong dạy học
truyện Việt Nam giai đoạn 1930 - 1945 ở THPT”
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên
cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu cách thức xây dựng và sử dụng sơ đồ, bảng biểu
trong dạy học truyện Việt Nam giai đoạn 1930 - 1945 trong chương trình Ngữ
khung lí luận cho đề tài nghiên cứu.
5.2. Phương pháp khảo sát, nghiên cứu thực tiễn
Khảo sát thực tế, nghiên cứu thực trạng sử dụng sơ đồ, bảng biểu; lấy ý
kiến về thực trạng sử dụng và kết quả sử dụng sơ đồ, bảng biểu trong các tiết
giảng dạy truyện giai đoạn 1930 – 1945 ở THPT. Để khảo sát, tác giả đã dùng
mẫu phiếu với các thông số và các chỉ tiêu cần làm sáng tỏ (mẫu phiếu ở phần
phụ lục).
5.3. Phương pháp thực nghiệm sư phạm
Thực nghiệm là phương pháp rất quan trọng trong nghiên cứu. Thực
nghiệm thành công sẽ cho kết quả khách quan và tạo khả năng vận dụng
nhanh chóng các kết quả nghiên cứu vào thực tiễn, đồng thời tạo ra phương
hướng nghiên cứu mới. Ở đề tài này, tác giả tổ chức thực nghiệm dạy học và
đối chứng trên một số đối tượng và địa bàn khác nhau. Sau đó thống kê kết
quả thực nghiệm, đối chứng kết quả thực nghiệm giữa các lớp cùng trường,
giữa các trường với nhau. Từ đó đánh giá những thành công và những điều
cần tiếp tục hoàn thiện của các đề xuất.
6. Giả thuyết khoa học
Nếu nghiên cứu tìm hiểu những ưu điểm của sơ đồ, bảng biểu để xây
dựng và đưa vào sử dụng các sơ đồ, bảng biểu phù hợp với đặc điểm của
truyện Việt Nam giai đoạn 1930 - 1945, phù hợp với đối tượng tiếp nhận là
học sinh lớp 11, gắn với mục tiêu dạy học phần nội dung này thì giáo viên và
học sinh có hứng thú, tích cực, chủ động, sáng tạo trong quá trình dạy học.
7. Đóng góp của luận văn
- Bổ sung lý luận về việc sử dụng phương tiện trực quan nói chung, sử
dụng sơ đồ, bảng biểu nói riêng trong dạy học truyện Việt Nam giai đoạn
1930 - 1945.
- Đề xuất một vài định hướng để xây dựng và sử dụng sơ đồ, bảng biểu
trong dạy học truyện Việt Nam giai đoạn 1930 – 1945.
giai đoạn 1930 – 1945 ở THPT mà không đi vào tìm hiểu một dạng sơ đồ
bảng biểu cụ thể nào.
Như chúng ta đã biết, sơ đồ, bảng biểu được sử dụng phổ biến và có
hiệu quả ở rất nhiều lĩnh vực, ngành nghề trong cuộc sống như: kinh tế, quân
sự, giáo dục … Ta có thể sử dụng sơ đồ, bảng biểu để xây dựng kế hoạch làm
việc, để lập dự toán thu chi, để phân công công việc… Tất nhiên trong từng
lĩnh vực việc sử dụng sơ đồ, bảng biểu phải đáp ứng được những đặc thù của
lĩnh vực đó. Vì vậy, việc nghiên cứu và vận dụng sơ đồ, bảng vào trong giảng
dạy ở môn Ngữ văn ở nhà trường phổ thông chỉ thực sự đem lại hiệu quả khi
gắn liền với đặc trưng của môn học, lớp học và người học.
1.2. Ưu điểm của sơ đồ, bảng biểu
1.2.1.Tăng cường khả năng ghi nhớ của bộ não
Phương pháp dạy học theo sơ đồ, bảng biểu là phương pháp dạy học
trực quan tăng cường khả năng nghi nhớ của bộ não, là sự kết hợp nhuần
nhuyễn giữa ngôn ngữ, hình ảnh, trí tưởng tượng, sự liên tưởng và khai thác
tiềm năng vô tận của não bộ.
Theo sinh vật học, não bộ con người được chia thành hai bán cầu: Bán
cầu não trái và bán cầu não phải. Não trái có chức năng xử lý thông tin mang
tính học thuật (phân tích, lý luận…), não phải có chức năng xử lý thông tin
mang tính tưởng tượng (màu sắc, hình ảnh, hình dạng…). Trong khi đó, 90%
các môn học ở trường chỉ sử dụng não trái. Sơ đồ đã và đang là phương pháp
dạy học được đưa ra như là một phương tiện mạnh để tận dụng và phát huy
khả năng của bộ não con người trong việc bắt cả hai bán cầu não cùng làm
việc. Các từ khóa trong sơ đồ sẽ kích thích não trái hoạt động và các hình ảnh
then chốt trong sơ đồ sẽ kích thích não phải hoạt động.
Tonny, Buzan, người đi đầu trong việc nghiên cứu tìm ra hoạt động của
não bộ đã khẳng định: màu sắc và hình ảnh có tác dụng kích thích khả năng
nghi nhớ của não bộ hơn gấp nhiều lần từ ngữ…Còn các nhà tâm lí học lại chỉ
tế và tổng thể hơn về vấn đề.
1.2.3.Tiết kiệm thời gian và công sức
Khối lượng kiến thức lớn có thể khái quát chỉ bảng một sơ đồ, bảng
biểu ngắn gọn, cô động và súc tích. Nhờ có sơ đồ, bảng biểu con đường để
khám phá, chinh phục, chia sẻ kiến thức, thông tin, công việc trở nên dễ dàng
hơn, đặc biệt không tốn nhiều thời gian công và sức của con người. Bởi sơ đồ,
bảng biểu tận dụng tối đa những từ ngữ cô đọng (từ khoá) và những hình vẽ
sinh động, sáng tạo để diễn đạt một khối lượng kiến thức khổng lồ. Nhìn vào
sơ đồ, bảng biểu ta tái hiện được toàn bộ nội dung liên quan đến đối tượng, dễ
dàng xâu chuỗi các dấu hiệu bản chất của đối tượng. Khi cần tái hiện không
cần mất nhiều thời gian và công sức để tìm hiểu, mà chỉ cần sử dụng một sơ
đồ, bảng biểu thì toàn bộ kiến thức sẽ được tái hiện một cách đầy đủ, lô gic.
1.2.4. Phát huy khả năng sáng tạo
Tác động vào kênh hình của người học sẽ tạo ra hứng thú trong giờ
học, bài giảng, tiết học trở nên vô cùng sôi động, phát triển óc quan sát, kích
thích tư duy của người học, củng cố kiến thức bài giảng, hào hứng tìm tòi,
sáng tạo, đón nhận tri thức mới. Hơn nữa, khối lượng kiến thức sẽ quyết định
nội dung khái quát của sơ đồ, bảng biểu; hình thức chủ quan của sơ đồ phụ
thuộc vào người lập sơ đồ, bảng biểu. Vì vậy, cùng một khối lượng kiến thức
nhưng có thể có nhiều cách xây dựng, thiết kế sơ đồ khác nhau. Nói cách
khác, sơ đồ, bảng biểu tạo điều kiện để mỗi cá nhân phát huy tính sáng tạo
của mình. Cách thức thể hiện phản ánh mức độ thâm nhập, hiểu về đối tượng
và chứng tỏ khả năng sáng tạo của mối cá nhân. Sự sáng tạo trước hết ở việc
cá nhân lựa chọn vấn đề trung tâm và xác lập cho chúng theo những mối liên
hệ, những sự kiện liên kết chặt chẽ về bản chất. Vì vậy, sơ đồ, bảng biểu
chính là sản phẩm sáng tạo của mỗi cá nhân.
1.3. Sơ đồ, bảng biểu - phương tiện trực quan trong dạy học
1.3.1 Quan niệm về phương tiện trực quan
vi có thể. Theo ông cách dạy học này sẽ giúp học sinh dễ dàng nắm bắt tri
thức.
J.J. Rútxô (1720 - 1778), trong lí luận dạy học của mình đã chú trọng
các phương pháp dạy học mang tính trực quan. Dạy học theo ông không chỉ
mang đến tri thức cho trẻ mà còn dạy trẻ phương pháp tư duy, phương pháp
hành động.
Nhà giáo dục Nga K.Đ.Usinxki (1824 - 1870) khẳng định: Dạy học
không dựa trên những biểu tượng và trừu tượng mà dựa trên những hình ảnh
cụ thể do học sinh trực tiếp tri giác được.
Trong quá trình dạy học, để phát huy được những ưu điểm của phương
tiện trực quan người dạy cần phải sử dụng chúng một cách linh hoạt tùy theo
mục đích và nội dung dạy học. Mỗi phương tiện trực quan có những vị trí và
chức năng khác nhau vì vậy khi sử dụng người giáo viên phải xác định chính
xác mục đích, chức năng của các phương tiện trực quan đó trong các tình
huống dạy học cụ thể, từ đó hướng dẫn học sinh sử dụng phương tiện trực
quan cho phù hợp và có hiệu quả.
1.3.2. Đặc điểm của sơ đồ, bảng biểu - phương tiện trực quan
trong dạy học
Sơ đồ, bảng biểu là những hình vẽ, những kí hiệu có tính minh họa cho
một sự vật, hiện tượng nào đó như: sơ đồ các hệ sinh thái của môn sinh học;
bảng biểu về các giai đoạn lịch sử của dân tộc của môn Lịch sử; sơ đồ mạch
điện của môn Vật lí; sơ đồ về tài nguyên thiên nhiên đối với sự phát triển một
số ngành công nghiệp trọng điểm ở nước ta của môn Địa lý…
Sơ đồ, bảng biểu phản ánh những dấu hiệu, bản chất, các mối quan hệ
bên trong của sự vật, hiện tượng mà nó minh họa. Sơ đồ, bảng biểu không chỉ
cho chúng ta cái nhìn tổng thể về đối tượng mà còn cho chúng ta thấy được
những dấu hiệu bản chất, những mối quan hệ bên trong của đối tượng. Nên sơ
đồ, bảng biểu được tạo ra không phải là sự lắp ghép, sự sắp xếp giản đơn các
phải thâm nhập,cảm nhận và tưởng tượng qua ngôn ngữ. Mặt khác, tác phẩm
văn học là sự kết hợp giữa khách quan (hiện thực đời sống) và chủ quan
(tình cảm của người viết). Nhà văn không chỉ phản ánh đời sống mà qua đó
còn muốn nói một điều gì mới mẻ, lớn lao nên dù văn học phản ánh đời sống
nhưng nó không phải là bản sao chép đời sống. Những đặc trưng trên sẽ chi
phối trực tiếp đến việc sử dụng sơ đồ, bảng biểu trong quá trình dạy học.
Thứ hai, tác phẩm văn học là một hệ thống mở chứ không phải là một
văn bản khép kín nên sự hoàn thành cuối cùng của tác phẩm văn học phải dựa
vào bạn đọc. Điều đó có nghĩa là, tất cả các tác phẩm, dù được sáng tác theo
thi pháp tất yếu nào cũng được mở theo các kiểu đọc và mỗi một kiểu đọc,
một bạn đọc đều mang đến cho tác phẩm một đời sống mới. Tức là văn bản
thứ nhất thì chỉ có một nhưng lại có rất nhiều, rất nhiều văn bản thứ hai, thứ
ba… Mặt khác, tác phẩm văn học bao giờ cũng có những “khoảng trống”,
những “điểm trắng” mà nhà văn cố tình hoặc vô tình không nói ra buộc bạn
đọc phải suy luận, tưởng tượng để lấp đầy những “khoảng trống” những
“điểm trắng” của văn bản. Hơn thế nữa, “người đọc bổ sung các phạm vi
nghĩa mới, giá trị mới cho tác phẩm” [10, tr.13]. Điều này giải thích vì sao rất
nhiều những cảm thụ của bạn đọc đã vượt ra ngoài ý đồ của nhà văn và mỗi
cảm nhận khác nhau của độc giả lại mở ra một cách tiếp cận mới, và sự khám
phá văn học là không cùng.Thế nên, sơ đồ, bảng biểu trong dạy học tác phẩm
văn chương chỉ là những ý tưởng để học sinh thể hiện năng lực sáng tạo của
mình. Việc sử dụng sơ đồ, bảng biểu khi dạy học tác phẩm văn chương phải
hướng vào chủ thể học sinh, để học sinh tự tìm hiểu, tự xây dựng, hoàn thiện.
Điều này sẽ kích thích sự sáng tạo, say mê tìm tòi, khám phá tác phẩm, hơn
nữa còn khiến cho tác phẩm văn chương có cái nhìn đa chiều.
Vì vậy, việc sử dụng sơ đồ, bảng biểu không thay thế hoàn toàn cho
việc cảm thụ, tiếp nhận tác phẩm văn chương ở học sinh: một sơ đồ tóm tắt
không phải là một tác phẩm; một sơ đồ nhân vật không phải là nhân vật…Sơ