XÂY DỰNG và sử DỤNG sơ đồ, BẢNG BIỂU vào dạy học TRUYỆN NGẮN VIỆT NAM HIỆN đại TRONG SÁCH GIÁO KHOA NGỮ văn 9 - Pdf 41

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI

HOÀNG THỊ HẢI YẾN

XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU
VÀO DẠY HỌC TRUYỆN NGẮN VIỆT NAM HIỆN ĐẠI
TRONG SÁCH GIÁO KHOA NGỮ VĂN 9

Chuyên ngành: Lí luận và phương pháp dạy học văn
Mã số: 60.14.01.11

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN
Người hướng dẫn khoa học:
PGS. TS Phạm Thị Thu Hương

HÀ NỘI - 2014


MỤC LỤC
Có thể lập quy trình dạy đọc hiểu văn bản nghệ thuật cho học sinh trong
nhà trường phổ thông. Xung quanh vấn đề lập quy trình cho dạy văn,
còn có nhiều quan niệm khác nhau, vì văn chương có nhiều cách tiếp cận.
Văn chương không chấp nhận một công thức nào cho sẵn. Văn chương là
tự do, là sáng tạo, là cá thể hoá. Quy trình hoá làm mất vẻ sinh động của
giờ văn. Điều đó đúng, tiếp nhận văn chương phải bằng tình cảm, cảm
xúc, bằng kinh nghiệm, sự trải nghiệm của cá nhân, bằng năng lực “đồng
sáng tạo” ở mỗi người đọc. Lý thuyết tiếp nhận còn cho biết khi đọc văn
bản thì mỗi người đọc đã tự cấu trúc một văn bản, chồng lên văn bản của
nhà văn. Tác phẩm cũng không có sẵn. Tác phẩm là quá trình, phụ thuộc
vào bạn đọc. Lĩnh vực văn chương là lĩnh vực của sự đa dạng, phong

môn trong các nhà trường phổ thông. Học tốt môn Ngữ văn sẽ tác động tích
cực tới các môn học khác và ngược lại, các môn học khác cũng góp phần để
học tốt môn Ngữ văn. Điều đó đặt ra yêu cầu tăng cường tính thực hành của
môn học, giảm lí thuyết,, gắn kiến thức với thực tiễn hết sức phong phú, sinh

3


động của cuộc sống .
Nhà văn hoá lớn của nhân loại V. Lê-nin từng nói "Văn học là nhân
học", vậy mà một thực trạng đáng lo ngại là học sinh hiện nay không còn
thích học Văn. Thực trạng này lâu nay đã được báo động. Ban đầu chỉ đơn
thuần là những lời than thở với nhau của những người trực tiếp giảng dạy
môn Ngữ văn, và nay đã trở thành vấn đề của báo chí, dư luận. Ai đã trực
tiếp dạy và chấm bài làm văn của học sinh trong những năm gần đây mới thấy
cần thiết phải có những thay đổi về phương pháp dạy và học Văn hiện nay.
Điều đáng buồn nhất cho các giáo viên dạy Văn là nhiều học sinh có năng
khiếu văn cũng không muốn tham gia đội tuyển Văn. Các em còn phải dành
thời gian học các môn khác. Phần lớn phụ huynh khi đã định hướng cho con
mình sẽ thi khối A thì chỉ chủ yếu chú trọng ba môn: Toán, Lý, Hóa. Điều
đáng lo ngại hơn nữa, là có không ít phụ huynh đã chọn hướng cho con thi
khối A từ khi học tiểu học. Một bậc học mà học sinh còn đang được rèn nói,
viết, mới bắt đầu làm quen với những khái niệm về từ ngữ mà đã định hướng
khối A thì thật là nguy hại.
Khi học sinh tạo lập một văn bản, giáo viên có thể dễ dàng nhận ra
những lỗi sai cơ bản của học sinh như: dùng từ sai, viết câu sai, viết chính tả
sai, bố cục và lời văn lủng củng, thiếu logic. Đặc biệt có những bài văn diễn
đạt ngô nghê, tối nghĩa...Đây là một tình trạng đã trở nên phổ biến, thậm chí
là đáng báo động trong nhà trường.
Mục tiêu của bậc học phổ thông là đào tạo con người toàn diện, nhưng

như nhiều người cho rằng không thể sử dụng những công cụ này. Sử dụng sơ
đồ, bảng biểu vào dạy học tác phẩm văn chương liệu có làm xơ cứng cảm xúc
thẩm mĩ, “đồng phục hóa” cách cảm nhận của học sinh hay sẽ kích hoạt sự
sáng tạo của cả người dạy và người học? Luận văn của chúng tôi sẽ góp phần
trả lời cho câu hỏi ấy.

5


1.4. Vị trí của các truyện ngắn hiện đại Việt Nam trong sách giáo
khoa lớp 9
Có thể thấy, các tác phẩm truyện ngắn Việt Nam hiện đại trong chương
trình sách giáo khoa Ngữ văn 9 không nhiều: Làng - Kim Lân, Chiếc lược
ngà - Nguyễn Quang Sáng, Lặng lẽ Sa Pa - Nguyễn Thành Long, Những
ngôi sao xa xôi - Lê Minh Khuê và đoạn trích đọc thêm Bến quê - Nguyễn
Minh Châu. Song, các tác phẩm này là phần kiến thức quan trọng, góp phần
vào việc tạo dựng nền tảng hiểu biết về văn học Việt Nam hiện đại, rèn luyện
kĩ năng tiếp nhận, bồi dưỡng tâm hồn, tình cảm cho học sinh trung học cơ sở.
Vậy làm thế nào người giáo viên có thể hướng dẫn học sinh cảm nhận
tác phẩm, để người học tạo dựng kiến thức đồng thời rèn luyện kĩ năng cơ bản
về truyện ngắn Việt Nam hiện đại trong sách giáo khoa Ngữ văn 9 quả là
điều không đơn giản.
Xây dựng và sử dụng sơ đồ, bảng biểu vào quá trình dạy học truyện
ngắn Việt Nam hiện đại trong sách giáo khoa Ngữ văn lớp 9 là một trong
những biện pháp không chỉ giúp học nắm vững kiến thức trọng tâm, mà còn
tạo cơ hội thuận lợi để các em phát huy khả năng tích cực, chủ động và sáng
tạo của mình trong việc lĩnh hội tri thức. Nếu biết kết hợp hài hòa với các
phương pháp, kĩ thuật dạy học khác thì sơ đồ, bảng biểu sẽ phát huy hiệu quả
đáng kể trong việc đổi mới dạy học Ngữ văn ở nhà trường phổ thông nói
chung, dạy học tác phẩm văn chương nói riêng.

chất lượng dạy học Văn còn thấp, tỉ lện học sinh học yếu môn Văn còn cao.
Sang phần hai, tác giả đưa ra giải pháp “dùng sơ đồ” trong quá trình giảng
dạy để nâng cao chất lượng dạy học Ngữ văn 6. Người viết đã trình bày một
số kinh nghiệm khi sử dụng sơ đồ ở một số bài cụ thể như: Ông lão đánh cá
và con cá vàng; Danh từ; Sự việc và nhân vật trong văn tự sự. Ở phần ba, tác
giả đã chứng minh kết quả của việc sử dụng “sơ đồ tóm tắt”: Học sinh có
hứng thú học tập, thời gian thực hành nhiều; Từ đó, các em yêu thích học môn

7


Ngữ văn hơn, chất lượng dạy học Văn cũng vì thế được nâng lên đáng kể, qua
các bài kiểm tra và thi định kì.
Với bài viết Sử dụng phương tiện hỗ trợ dạy học trong môn Ngữ văn
(Sáng kiến kinh nghiệm, dethi.violet.vn), tác giả Nguyễn Hải Sơn đưa ra
khái niệm về phương tiện dạy học. Sau đó, người viết đi sâu vào nghiên
cứu hiệu quả của việc sử dụng sơ đồ, bảng biểu trong quá trình dạy học
Ngữ văn, đặc biệt là đối với giáo viên và học sinh trường THCS Cao Xanh.
Đây là một ngôi trường cơ sở vật chất còn nhiều khó khăn, các thiết bị
công nghệ thông tin sử dụng trong quá trình dạy học còn hạn chế. Vì thế,
sơ đồ, bảng biểu là phương tiện trực quan được sử dụng nhằm nâng cao
chất lượng dạy và học môn Ngữ văn.
Tác giả Nguyễn Thị Xuân Mai trong bài viết Gợi ý sử dụng sơ đồ, bảng
biểu vào giảng dạy một số tiết Văn trong chương trình sách giáo khoa Ngữ
văn lớp 10 (Hội thảo khoa học quốc gia về dạy học Ngữ văn ở trường phổ
thông Việt Nam) cũng đã đề cập đến việc sử dụng phương tiện trực quan tại
nhà trường phổ thông trong đó có sử dụng sơ đồ, bảng biểu vào dạy học Ngữ
văn. Tác giả đã chỉ ra việc sử dụng sơ đồ, bảng biểu mang lại hiệu quả trong
việc phát huy tính sáng tạo của học sinh, đặc biệt là đánh thức khả năng tư
duy của các em. Cuối bài, người viết đã đưa ra một số sơ đồ, bảng biểu có thể

học truyện ngắn Việt Nam hiện đại trong chương trình Ngữ văn 9.
3. Mục đích, đối tượng, phạm vi và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích
Từ những tiền đề cơ sở lí luận và thực tiễn, đề tài nghiên cứu cách thức
xây dựng và sử dụng sơ đồ, bảng biểu vào hoạt động dạy học các tác phẩm
truyện ngắn Việt Nam hiện đại trong chương trình sách giáo khoa Ngữ văn 9.
Qua đó, giúp giáo viên và học sinh thực hiện tốt hoạt động dạy học, góp phần

9


nâng cao chất lượng dạy học Ngữ văn ở nhà trường THCS nói chung, dạy học
phần truyện ngắn Việt Nam hiện đại chương trình Ngữ văn 9 nói riêng.
3.2. Đối tượng
Đề tài tập trung nghiên cứu việc sử dụng sơ đồ, bảng biểu vào quá trình
dạy học các truyện ngắn Việt Nam hiện đại ở chương trình sách giáo khoa
Ngữ văn 9.
3.3. Phạm vi
+ Các nghiên cứu về sơ đồ, bảng biểu và việc ứng dụng sơ đồ, bảng biểu
trong dạy học nói chung, dạy học Ngữ văn nói riêng.
+ Các văn bản truyện ngắn Việt Nam hiện đại trong chương trình sách
giáo khoa Ngữ văn 9 và quá trình dạy học các văn bản này ở THCS.
3.4. Nhiệm vụ
Thực hiện đề tài này, chúng tôi tập trung vào giải quyết một số nhiệm vụ sau:
+ Tìm hiểu, tổng hợp tài liệu, tiếp thu những ứng dụng về sơ đồ, bảng
biểu trong dạy học.
+ Khảo sát thực trạng sử dụng sơ đồ, bảng, biểu vào dạy học Ngữ văn và
dạy học phần truyện ngắn Việt Nam hiện đại trong sách giáo khoa Ngữ văn 9.
+ Nghiên cứu đề xuất một số định hướng xây dựng và sử dụng sơ đồ,
bảng biểu trong quá trình dạy học truyện ngắn Việt Nam hiện đại trong sách

dạy học truyện ngắn Việt Nam hiện đại ở sách giáo khoa Ngữ văn lớp 9 sẽ
giúp giáo viên và học sinh có hứng thú, tích cực, chủ động, sáng tạo trong
hoạt động dạy học phần nội dung này; góp phần nâng cao chất lượng dạy học
bộ môn Ngữ văn trong nhà trường phổ thông.
6. Đóng góp của luận văn
Với việc thực hiện đề tài:“Xây dựng và sử dụng sơ đồ, bảng biểu vào
dạy học truyện ngắn Việt Nam hiện đại trong sách giáo khoa Ngữ văn lớp
9”, chúng tôi đã:

11


- Bổ sung lí luận về việc sử dụng phương tiện trực quan nói chung, sử
dụng sơ đồ, bảng biểu vào dạy học truyện ngắn Việt Nam hiện đại nói riêng.
- Đề xuất một số định hướng để xây dựng và sử dụng sơ đồ, bảng biểu
vào dạy học truyện ngắn Việt Nam hiện đại.
- Hiện thực hóa các đề xuất vào giáo án thực nghiệm có thể ứng dụng
trong dạy học.
- Gợi mở hướng áp dụng của đề tài cho các nội dung khác trong chương
trình Ngữ văn ở nhà trường phổ thông.
7. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, nội dung luận văn
gồm ba chương:
Chương I: Sơ đồ, bảng biểu và sơ đồ, bảng biểu trong dạy học Ngữ văn.
Chương II: Tổ chức xây dựng và sử dụng sơ đồ, bảng biểu vào dạy học
truyện ngắn Việt Nam hiện đại trong sách giáo khoa Ngữ văn 9.
Chương III: Thực nghiệm sư phạm.

12


13


niệm cụ thể riêng biệt. Ở đây chúng tôi không có ý định phân biệt hay đi sâu
tìm hiểu vào một loại nào.
Thực tế cho thấy, các khái niệm này được sử dụng rộng rãi và có hiệu quả
ở nhiều lĩnh vực, ngành nghề trong cuộc sống như: học tập, thuyết trình, kinh
doanh, chính trị, xã hội,… Chẳng hạn có thể sử dụng sơ đồ để xây dựng ý
tưởng cho cơ cấu tổ chức của một công ty, sơ đồ của một lớp học, sơ đồ thực
hiện một dự án kinh doanh; hay lập bảng kế hoạch một tháng, một tuần, một
ngày,… Chỉ một vài ví dụ cũng đã cho thấy sơ đồ, bảng biểu có một phạm vi
sử dụng khá rộng.
1.1.1.2. Những ưu điểm của sơ đồ, bảng biểu trong cuộc sống
Sở dĩ sơ đồ, bảng biểu có phạm vi sử dụng rộng, trước hết là do bản thân
công cụ này chứa đựng nhiều yếu tố ưu việt. Chúng ta có thể kể đến một số
ưu điểm sau:
1.1.1.2.1. Phát huy tiềm năng ghi nhớ của bộ não
Kiến thức được thể hiện dưới dạng sơ đồ bao giờ cũng ngắn gọn, cô
đọng, súc tích và có thể tri giác trực tiếp bằng các giác quan nên dễ dàng lưu
giữ trong trí nhớ và lưu giữ lâu hơn.
Các nhà tâm lí học đã chỉ ra mỗi giác quan của con người có khả năng
tri giác một khối lượng thông tin hoàn toàn khác nhau trong cùng một thời
gian như nhau. Khả năng truyền tin của thị giác là 3 triệu bis/s, của thính giác
là 30 - 50 nghìn bis/s. Như vậy khả năng truyền tin của thị giác gấp mười lần
thính giác. Vì thế nếu con người quan sát sự vật dưới dạng trực quan sinh
động thì thông tin có khả năng được lưu giữ nhanh hơn và lâu hơn. Họ còn
chỉ ra rằng bộ não của con người khó có thể lưu giữ, nhớ nội dung của một
bài học, một chương, một cuốn sách nhưng có thể ghi nhớ chính xác một sơ
đồ về nội dung của một bài học, một chương, thậm chí là cả cuốn sách dù sơ
đồ đó hết sức phức tạp.

quả lại không hề giảm sút.

15


1.1.1.2.4. Cung cấp bức tranh tổng thể
Tất cả mọi thông tin về đối tượng, sự vật đều có thể phản ánh trên sơ
đồ trong những mối liên hệ với nhau. Quan sát sơ đồ, chúng ta phát hiện ra
toàn bộ những vấn đề liên quan đến đối tượng. Bắt đầu từ những kiến thức
tổng quát, trọng tâm đến những nội dung nhỏ nhất. Bất kì ai nhìn vào bức
tranh tổng thể này cũng có thể nắm được những nét chính tổng quát nhất về
đối tượng.
Sơ đồ, bảng biểu không những cung cấp cho chúng ta cái nhìn tổng thể
về đối tượng mà còn có cách thức nhìn nhận đa chiều về mọi mặt của vấn đề.
Đặc biệt nhìn vào sơ đồ còn giúp chúng ta nhận ra những mối liên hệ, sự
ràng buộc, chi phối, liên quan của các nội dung tới nhau. Từ đó, chúng ta
xác định được đâu là vấn đề trung tâm, dấu hiệu bản chất, đâu là ý chính, ý
phụ,…để sắp xếp thời gian cho công việc và học tập một cách khoa học, hợp
lí và hiệu quả.
Như vậy với tất cả những lợi ích mà sơ đồ, bảng biểu đem lại, chúng ta
có thể nhận thấy đây là một công cụ có nhiều ưu điểm. Nhờ vào những ưu
điểm vượt trội này mà sơ đồ, bảng biểu được sử dụng rộng rãi ở mọi lĩnh vực,
ngành nghề trong cuộc sống.
Trong giáo dục, việc sử dụng sơ đồ, bảng biểu vào quá trình giảng dạy
và học tập có tác dụng tích cực trong việc nâng cao tính chủ động, khả năng
tự học, tự tìm hiểu, khám phá của học sinh, kích thích tư duy sáng tạo, giúp
các em có những cách học hiệu quả. Đồng thời, khi sử dụng sơ đồ, bảng biểu
trong quá trình giảng dạy sẽ làm tăng tính linh hoạt, sáng tạo của giáo viên.
Sơ đồ, bảng biểu là những công cụ ghi chép bài tối ưu vì nó thường dùng
những từ khoá ngắn gọn để diễn đạt, triển khai nội dung vấn đề. Quan trọng

Quan niệm hiện đại: theo quan niệm hiện đại thì phương tiện trực
quan gắn liền với triết học, triết học biện chứng và tâm lí học hiện đại. Lúc
này phương tiện trực quan đã được hiểu theo đúng nghĩa của nó. Phương tiện

17


trực quan không đơn giản là quan sát sự vật bằng các giác quan mà bằng
những hành động tác động lên sự vật làm biến đổi các dấu hiệu bên ngoài của
chúng, làm cho cái bản chất, các mối liên hệ, quan hệ có tính quy luật của
chúng được bộc lộ, được phơi bày một cách cảm tính mà nếu không có sự tác
động đó thì chúng mãi còn là bí ẩn đối với nhận thức của con người. Quan
niệm về trực quan như vậy có ý nghĩa to lớn với hoạt động dạy học. Nó chính
là cơ sở để xác định vai trò trực quan trong dạy học.
Từ hai quan niệm truyền thống và hiện đại, chúng ta có thể hiểu về
phương tiện trực quan như sau: Phương tiện trực quan là những phương
tiện được sử dụng trong hoạt động dạy và học, có vai trò là công cụ để
người giáo viên tác động vào đối tượng; có chức năng khơi dậy, dẫn
truyền, làm tăng khả năng hoạt động của các giác quan, góp phần tạo nên
chất liệu cảm tính của đối tượng nhận thức nhằm đạt được các mục đích
dạy học cụ thể.[18;118]
Nói cách khác, có thể hiểu phương tiện trực quan như những phương
tiện trung gian để chủ thể có hình ảnh trực quan về đối tượng. Chẳng hạn
như trong trường hợp sự vật quá nhỏ, sự vật quá xa, chủ thể khó quan sát
được, hay những sự vật trừu tượng, khó hiểu không trực tiếp cảm nhận được
thì chủ thể tìm đến với những phương tiện trung gian. Thông qua việc tìm
hiểu những phương tiện trung gian mà chủ thể có những hình ảnh trực quan
nhất về đối tượng. Quá trình chiếm lĩnh và nhận thức đối tượng trở nên dễ
dàng và hiệu quả hơn.
Trong quá trình dạy học, việc sử dụng các phương tiện trực quan cần

khả năng thay thế cho đối tượng, sự vật hiện tượng nào đó. Việc tìm hiểu sơ
đồ, bảng biểu sẽ cung cấp những thông tin mới về đối tượng mà nó thay thế.
Sơ đồ, bảng biểu với tư cách là một mô hình vật chất hoá sẽ có những
đặc điểm riêng biệt. Chúng ta có thể kể đến một số đặc điểm cơ bản như:

19


- Sơ đồ, bảng biểu bao giờ cũng là một vật đại diện cho cái gì, cho hiện
tượng nào. Nói đến sơ đồ, bảng biểu phải biết sơ đồ của cái gì, của sự vật
hiện tượng nào. Chẳng hạn ta có sơ đồ mạch điện trong môn Vật lí; sơ đồ
phân tử, nguyên tử trong môn Hoá học; sơ đồ tóm tắt cốt truyện, sơ đồ thể
hiện tình huống truyện, sơ đồ thể hiện tính cách nhân vật trong môn Ngữ
văn. Xác định đối tượng cho sơ đồ, bảng biểu là một việc làm cần thiết trong
quá trình dạy học. Xác định đối tượng sẽ định hướng học sinh vào quá trình
tìm kiếm, lựa chọn những chi tiết, dấu hiệu liên quan đến đối tượng, từ đó
làm nổi bật đối tượng.
- Sơ đồ, bảng biểu bao giờ cũng phản ảnh những dấu hiệu bản chất, các
quan hệ có tính phổ biến, quy luật của sự vật mà nó đại diện. Vì thế, qua sơ
đồ, bảng biểu chúng ta không chỉ có cái nhìn tổng thể của đối tượng mà còn
xác định được những dấu hiệu bản chất của chúng. Trong quá trình dạy học,
sử dụng sơ đồ, bảng biểu sẽ cung cấp cho học sinh cái nhìn tổng quát về đối
tượng. Học sinh nắm được những nét chung, nét khái quát nhất về đối tượng
nhưng không dừng lại ở đó, sơ đồ, bảng biểu còn giúp người học cách thức
nhìn nhận đa chiều về vấn đề, tìm ra sự liên kết, ràng buộc những phương tiện
với nhau. Hay nói cách khác, các em sẽ tìm ra được những dấu hiệu bản chất
nhất của đối tượng, xác định được ý chính, ý phụ, những ý nào quan trọng cần
xoáy sâu. Từ đó, các em sắp xếp thời gian học tập để có kết quả cao.
- Sơ đồ, bảng biểu bao giờ cũng có tính trực quan về đối tượng mà nó đại
diện. Nói cách khác, sơ đồ, bảng biểu bao giờ cũng phản ánh một cách trực

quả tích cực.
- Sơ đồ, bảng biểu được tạo ra không phải sự lắp ghép, sự sắp xếp giản đơn
các dấu hiệu quan sát từ đối tượng sự vật mà là kết quả của một quá trình tìm
hiểu, phân tích, phát hiện ra những dấu hiệu bản chất của sự vật và xác lập
cho chúng mối liên hệ bản chất nhất để cấu trúc lại thành một sơ đồ.

21


Trong quá trình dạy học, nhận thức rõ đặc trưng này của sơ đồ, bảng biểu
sẽ giúp người giáo viên phát huy tối đa tính tích cực, chủ động, sáng tạo của
học sinh. Tính sáng tạo của các em thể hiện trong việc lựa chọn dấu hiệu của
đối tượng và xác lập cho chúng những mối liên hệ bản chất nhất. Mỗi học
sinh sẽ có những cách triển khai khác nhau và không em nào giống em nào.
Cách thức thể hiện của học sinh có thể giúp giáo viên vừa đánh giá được mức
độ hiểu bài, vừa nhận thức được khả năng sáng tạo của các em. Chính vì vậy
mà sơ đồ, bảng biểu được xem như một phương tiện trực quan có nhiều lợi
thế trong việc phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh. Do vậy,
cần sử dụng phương tiện trực quan này ở tất cả các môn học trong nhà trường.
Sơ đồ, bảng biểu là những phương tiện trực quan có nhiều ưu thế trong
quá trình dạy học. Sử dụng thành thạo và có hiệu quả sơ đồ, bảng biểu sẽ
mang lại thay đổi tích cực trong phương thức học tập của học sinh và
phương pháp giảng dạy của giáo viên. Học sinh sẽ có được những phương
pháp học tập mới, tăng tính chủ động, tích cực, sáng tạo và phát triển tư duy.
Giáo viên sẽ tiết kiệm được nhiều thời gian, công sức, tăng tính linh hoạt
trong bài giảng và quan trọng hơn là giúp học sinh nắm được kiến thức trọng
tâm của bài học thông qua những sơ đồ, bảng biểu thể hiện các mối liên hệ
bản chất của tri thức.
1.2.


Sách giáo viên tập 1
Sách giáo viên tập 2
Thiết kế bài học tập 1
Thiết kế bài học tập 2

Số lượng

Văn bản

Văn bản khác

8
6
12
22

văn chương
1
3
5
7

7
3
7
15

Bên cạnh đó, chúng tôi còn tiến hành thống kê việc sử dụng sơ đồ bảng biểu
trong ba bộ giáo án dạy học Ngữ văn 9 của giáo viên. Đây là những giáo án
của các giáo viên có trình độ, kinh nghiệm giảng dạy, là giáo viên dạy giỏi

1
1

1
1
1

nghệ thuật trong văn bản
4

thuyết minh
Đấu tranh cho một thế giới

1

1

1

5

hòa bình
Sử dụng yếu tố miêu tả

0

0

0


Cách dẫn trực tiếp và cách

1

1

1

10
11

dẫn gián tiếp
Sự phát triển của từ vựng
Luyện tập tóm tắt văn bản

1
1

1
1

1
2

12

tự sự
Chuyện cũ trong phủ Chúa

0

0
0

3
0
0

17

Nguyệt Nga
Miêu tả nội tâm trong văn

1

0

0

sống còn, quyền được bảo

24


18
19
20

bản tự sự
Tổng kết từ vựng
Đồng chí

sự
Đoàn thuyền đánh cá
Bếp lửa
Tập làm thơ tám chữ
Khúc hát ru những em bé

0
0
1
0

0
0
0
0

0
0
1
0

26
27
28

lớn trên lưng mẹ
Ánh trăng
Làng
Đối thoại, độc thoại và độc


2
0

32
33
34
35
36
37
38
39

bản tự sự
Chiếc lược ngà
Cố hương
Bàn về đọc sách
Khởi ngữ
Phép phân tích và tổng hợp
Tiếng nói của văn nghệ
Các thành phần biệt lập
Nghị luận về một sự việc,

1
0
1
0
1
2
2
0

2

1

1

thoại nội tâm trong văn bản

một sự việc, hiện tượng đời
41

sống
Chuẩn bị hành trang vào
thế kỉ mới
25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status