Sử dụng sơ đồ bảng biểu vào dạy học truyện ngắn “một người hà nội” của nguyễn khải ở trường THPT - Pdf 57

1. PHẦN MỞ ĐẦU
1.1 Lý do chọn đề tài
Nghị quyết 29 BCHTW Đảng lần thứ 8 (Khóa XI) đã nêu rõ yêu cầu đổi mới căn
bản, toàn diện nền giáo dục Việt Nam như sau: “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ
phương pháp dạy và học theo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động,
sáng tạo và vận dụng kiến thức, kỹ năng của người học; khắc phục lối truyền thụ
áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc. Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến
khích tự học, tạo cơ sở để người học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kỹ năng, phát
triển năng lực. Chuyển từ học chủ yếu trên lớp sang tổ chức hình thức học tập đa
dạng, chú ý các hoạt động xã hội, ngoại khóa, nghiên cứu khoa học. Đẩy mạnh
ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong dạy và học”.
Đổi mới phương pháp dạy học đang thực hiện bước chuyển từ chương trình giáo
dục tiếp cận nội dung sang tiếp cận năng lực của người học, nghĩa là từ chỗ quan
tâm đến việc HS học được cái gì đến chỗ quan tâm HS vận dụng được cái gì qua
việc học. Để đảm bảo được điều đó, phải thực hiện chuyển từ phương pháp dạy
học theo lối “truyền thụ một chiều” sang dạy cách học, cách vận dụng kiến thức,
rèn luyện kỹ năng, hình thành năng lực và phẩm chất. Tăng cường việc học tập
trong nhóm, đổi mới quan hệ giáo viên – học sinh theo hướng cộng tác có ý nghĩa
quan trọng nhằm phát triển năng lực xã hội. Bên cạnh việc học tập những tri thức
và kỹ năng riêng lẻ của các môn học chuyên môn cần bổ sung các chủ đề học tập
tích hợp liên môn nhằm phát triển năng lực giải quyết các vấn đề phức hợp.
Những năm qua, trong dạy học Ngữ văn, sơ đồ, bảng, biểu đang được áp dụng
rộng rãi và tạo ra những chuyển biến tích cực đối với quá trình học tập của học
sinh. Kinh nghiệm thực tiễn cho thấy; hiệu quả của dạy học được tăng cường khi
đi từ dạy học chỉ bằng lời nói đến sử dụng phương tiện dạy học và hoạt động của
chính học sinh.
Trong quá trình dạy học Ngữ văn, Phương pháp trực quan (cụ thể là sơ đồ, bảng,
biểu) đóng vai trò không thể thiếu nhằm nâng cao chất lượng dạy học. Đối với dạy
học thể loại truyện ngắn, việc xây dựng và sử dụng sơ đồ, bảng biểu ngày càng
chứng tỏ được vai trò quan trọng đối với hoạt động giảng dạy của giáo viên và học
tập của học sinh trong quá trình chiếm lĩnh tri thức, từng bước đáp ứng yêu cầu đổi

văn ở trường trung học phổ thông nói chung, phần truyện ngắn Việt Nam sau 1975
nói riêng.
1.3 Đối tượng nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu việc xây dựng và sử dụng sơ đồ, bảng biểu vào quá
trình dạy học các truyện ngắn Việt Nam sau 1975 ở trường trung học phổ thông.
1.4Phương pháp nghiên cứu
Với đề tài này, chúng tôi đã sử dụng một số phương pháp nghiên cứu cơ bản sau:
- Phương pháp nghiên cứu lý thuyết
- Phương pháp thống kê, phân tích
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm:
Tổ chức thực nghiệm dạy học và đối chứng trên một số đối tượng và địa bàn
khác nhau. Sau đó thống kê kết quả thực nghiệm, đối chứng kết quả thực nghiệm
giữa các lớp cùng trường, giữa các trường với nhau. Từ đó, đánh giá những thành
công và những điều cần tiếp tục hoàn thiện của các đề xuất.

2. PHẦN NỘI DUNG
2


2.1 Cơ sở lí luận
Từ điển Tiếng Việt của Hoàng Phê (Nhà xuất bản Đà Nẵng - 2009), đưa ra khái
niệm về "sơ đồ" và "bảng biểu" như sau:
- Sơ đồ là những hình vẽ quy ước có tính chất sơ lược nhằm mô tả đặc trưng
nào đó của đối tượng hay quá trình nào đó
- Bảng biểu bao gồm bảng và biểu. Trong đó, bảng thường có cột và hàng dùng
để kê một nội dung nào đó theo thứ tự, cách thức nhất định; còn biểu là bảng kê
danh mục, số liệu để làm căn cứ đối chiếu.
Như vậy, theo cách hiểu trên thì sơ đồ, bảng, biểu sẽ bao gồm nhiều loại như sơ
đồ tư duy, bản đồ khái niệm, graph... Mỗi loại sẽ có những khái niệm, đặc trưng
riêng, tuy nhiên ở đây, chúng tôi sẽ tìm hiểu sơ đồ, bảng biểu nói chung trong dạy

Số lượng sơ Tên sơ đồ, bảng,
Tổng số
đồ, bảng
biểu
tiết
biểu
Sách giáo viên (Phan Trọng
0
Luận tổng chủ biên)
3


Thiết kế bài giảng Ngữ văn
12, tập 2(Ban cơ bản của Phan
Trọng Luận).
Thiết kế bài giảng Ngữ văn
12, tập 2(Ban cơ bản của
Nguyễn Văn Đường)
Thiết kế bài giảng Ngữ văn
12, tập 2 (Ban nâng cao của
Trần Đình Chung )

0
0
0
0

+ Thống kê số lượng sơ đồ, bảng, biểu trong một số giáo án của giáo viên
trường THPT 5, thuộc huyện Triệu Sơn - Thanh Hóa khi dạy học truyện ngắn Việt
Nam sau 1975.

Bảng 3 Sơ đồ, bảng biểu được sử dụng trong quá trình dạy học truyện ngắn
Việt Nam ở THPT. ( Một người Hà Nội của Nguyễn Khải )Điều tra 7 GV tổ
Ngữ Văn Trường THPT Triệu Sơn 5
Nội dung
SL
%
Sơ đồ, bảng, biểu tìm hiểu về tác giả
0
0
Sơ đồ, bảng, biểu giải thích ý nghĩa nhan đề tác phẩm
0
0
Sơ đồ, bảng, biểu tóm tắt tác phẩm
5/7
70
Sơ đồ, bảng, biểu phân tích tình huống truyện
2/7
30
Sơ đồ, bảng, biểu khám phá nhân vật
3/7
40
Sơ đồ, bảng, biểu tìm hiểu các chi tiết nghệ thuật
2/7
20
4


Sơ đồ, bảng biểu phân tích giá trị tác phẩm, thông điệp
0
0

5


Việc tóm tắt cốt truyện bằng cách diễn xuôi cốt truyện sẽ không mang lại hiệu quả
cao vì học sinh sẽ khó ghi nhớ cốt truyện. Để khắc phục nhược điểm của cách tóm
tắt cốt truyện như trên, giáo viên có thể sử dụng sơ đồ để tóm tắt cốt truyện hoặc
hướng dẫn HS tự tạo ra sơ đồ tóm tắt cốt truyện riêng của mình. Để tóm tắt cốt
truyện, chúng ta có một số dạng sơ đồ tóm tắt như sau:
Dạng 1:

Sự việc 1

Sự việc 2

Sự việc n
Dạng 2:

Sự việc 1

Sự việc 2

Sự việc 3

Sự việc n

.......................

Sự việc 4

Dạng 3:

truyện. Với cách tóm tắt này, ta có dạng sơ đồ sau:
Nhân vật cô Hiền

Nguồn gốc, lai lịch xuất
thân

Một người Hà
Nội

Vẻ đẹp tâm hồn mang
tính nhân văn

Vẻ đẹp của những giá trị
truyền thống

7


Tóm tắt cốt truyện là một yêu cầu cần thiết và là cơ sở đề từ đó tìm hiểu các vấn
đề khác trong tác phẩm. Qua hành động tóm tắt cốt truyện, giáo viên sẽ đánh giá
được mức độ thâm nhập tác phẩm, năng lực tư duy sáng tạo và năng lực bao quát
ban đầu cũng như khả năng diễn đạt của học sinh. Sơ đồ tóm tắt cốt truyện giúp
học sinh phát triển năng lực ghi nhớ, tái hiện lại một cách ngắn gọn, đầy đủ nhất
các sự kiện, các tình tiết cốt lõi của câu chuyện. Sơ đồ tóm tắt cốt truyện bao giờ
cũng là dạng sơ đồ chuỗi, nhưng ở mỗi truyện ngắn sẽ có những hình thức chuỗi
khác nhau. Việc học sinh sáng tạo ra những hình thức chuỗi cho sơ đồ sẽ góp
3.3 Sơ đồ, bảng biểu thể hiện tình huống truyện - hạt nhân cốt lõi của tác phẩm
Đối với truyện ngắn, tình huống giữ vai trò là hạt nhân của cấu trúc thể loại, nó
chính là cái hoàn cảnh riêng được tạo nên bởi một sự kiện đặc biệt khiến cho tại
đó, cuộc sống hiện lên đậm đặc nhất và ý đồ tư tưởng của tác giả cũng được bộc lộ

Thông điệp của nhà văn
Sơ đồ đã thể hiện được tình huống của truyện ngắn Một người Hà Nội là
tình huống nhận thức..
3.4 Sơ đồ, bảng biểu thể hiện thế giới nhân vật – bức tranh đời sống đa dạng,
sinh động, hấp dẫn của tác phẩm
Một nhân vật được xem là thành công khi thể hiện được một số phận, một quan
niệm nhân sinh độc đáo và thường điển hình cho một tầng lớp xã hội, một giai cấp,
thậm chí là một thời đại. Phân tích nhân vật giúp ta thấy được hiện thực xã hội và
quan niệm của nhà văn về con người, về cuộc đời.
Để phân tích nhân vật, chúng ta cần đi sâu vào các phương diện như lai lịch, ngoại
hình, ngôn ngữ, tính cách...đặc biệt là tâm trạng, đời sống nội tâm của nhân vật và
những phương diện này có thể được thể hiện bằng sơ đồ, bảng biểu trong dạy học
Ngữ văn. Với phương pháp dạy học này, giáo viên sẽ giúp học sinh phân tích nhân
vật một cách cụ thể, hệ thống và hiểu sâu sắc nhân vật, khắc phục được những
nhược điểm của việc phân tích thích nhân vật bằng thuyết trình, vấn đáp...trong
dạy học truyền thống khiến học sinh hiểu về nhân vật một cách hời hợt, mông
lung, hiểu sai về ý đồ nhà văn gửi găm,s qua nhân vật, thậm chí là có sự nhầm lẫn
nhân vật của tác phẩm này sang nhân vật của tác phẩm khác...điều này dẫn đến sự
ra đời của những bài văn phân tích nhân vật một cách máy móc, giản đơn, sáo
9


rỗng, đặc biệt các em học sinh có cái nhìn sai lệch về tác phẩm, làm mất đi giá trị
của một tác phẩm văn chương. Nhận thức được tác động tích cực của việc phân
tích nhân vật bằng sơ đồ, bảng biểu đối với quá trình tiếp nhận tri thức của học
sinh trong dạy học tác phẩm văn chương, phân tích nhân vật bằng sơ đồ, bảng biểu
ngày càng được chú trọng trong đổi mới phương pháp dạy học.
Để phân tích nhân vật, có nhiều dạng sơ đồ GV có thể hướng dẫn HS sử
dụng như sơ đồ thể hiện tính cách, sơ đồ thể hiện diễn biến tâm lý nhân vật, sơ đồ
thể hiện cuộc đời nhân vật...Ví dụ, dùng sơ đồ để khái quát nhân vật, ta có dạng sơ

tưởng của tác phẩm cũng như ý đồ nghệ thuật của nhà văn. Vì vậy, điều quan trọng
là giáo viên phải hướng dẫn HS lựa chọn và xây dựng sơ đồ phù hợp với từng
nhân vật khác nhau trong từng tác phẩm hoặc trong những tác phẩm khác nhau và
điều nhà văn phản ánh thông qua nhân vật. Ví dụ sơ đồ thể hiện nhân vật bà Hiền
với nhân vật người cháu trong Một người Hà Nội là khác nhau, sơ đồ thể hiện
nhân vật bà Hiền chủ yếu tập trung vào nét tính cách của bà Hiền tương ứng với
bốn tình huống truyện, sơ đồ thể hiện nhân vật người cháu tập trung vào sự "tiệm
ngộ", nhận thức của anh về người cô của mình.
Khi dạy học truyện ngắn Một người Hà Nội - Nguyễn Khải, giáo viên hướng dẫn
học sinh phân tích hình tượng nhân vật cô Hiền qua câu chuyện của nhân vật "Tôi"
bằng cách yêu cầu học sinh hoàn thiện sơ đồ:
Thời gian

Nhân vật cô Hiền - Một người Hà Hành trình nhận thức của
Nội
nhân vật "Tôi"

Trước 1955
Hòa bình lập lại
Trong thời kỳ
kháng
chiến
chống Mĩ
Đất nước bước
vào nền kinh tế
thị trường
Kết luận
Để hoàn thành sơ đồ, học sinh cần tìm các nội dung liên quan của vấn đề.
Các nội dung này đều nằm trong văn bản trong sách giáo khoa, học sinh tìm và
gạch chân các chi tiết chính, sau đó sẽ sắp xếp lại các nội dung đó vào sơ đồ cho

Qua cảm nhận

Qua cảm nhận

Hiền

của người cháu

của “ Tôi”

Đi từ ngoại cảnh, trải qua những biến cố lịch sử xã hội để tìm ra vẻ đẹp
đích thực của Người Hà Nội

Trong quá trình phân tích nhân vật, việc sử dụng sơ đồ, bảng biểu nhằm tái
hiện nhân vật đã mang lại tác động tích cực. Tất cả các yếu tố như ngoại hình, tâm
lý, tính cách, số phận và cả những suy tư sâu kín trong lòng nhân vật đều được tái
hiện dưới dạng trực quan sinh động, nhờ đó học sinh dễ dàng chiếm lĩnh tri thức,
mặt khác những tri thức này được các em khắc sâu và nhớ lâu vấn đề. Đồng thời,
các em được tự do thể hiện sự sáng tạo, phát huy tinh thần tích cực, chủ động
trong giờ học. Tuy nhiên, trong dạy học tác phẩm văn chương, giáo viên không
được lạm dụng phương pháp này, bởi vì sơ đồ bảng biểu mặc dù là những công cụ
dạy học mang lại hiệu quả cao nhưng hạn chế của những công cụ này trong dạy
học Ngữ văn là hạn chế khả năng cảm thụ và xúc cảm thẩm mĩ của người học. Vì
thế, giáo viên cần tạo cho học sinh cơ hội trình bày xúc cảm, suy nghĩ, đánh giá
của mình về các vấn đề được nêu trong tác phẩm. Việc làm này vừa giúp HS nắm
12


bắt kiến thức về nhân vật mà còn có những rung động thẩm mĩ, những thái độ và
đánh giá về nhân vật trong tác phẩm.



phân tích tác phẩm, thời gian liện hệ các vấn đề trong tác phẩm với hiện thực đời
sống, thời gian cho các em học sinh trình bày, cảm xúc, suy nghĩ, đánh giá về các
vấn đề của tác phẩm sẽ bị rút ngắn lại...dẫn đến tác phẩm không được khai thác
một cách tỉ mỉ, sâu sắc.
Qua những lần trao đổi trực tiếp với học sinh lớp 12 về nguyên nhân tại sao
các em không soạn bài hoặc soạn bài mang tính đối phó trước khi đến lớp, bên
cạnh những lý do mang tính tiêu cực như không thích học Văn, không biết trả lời
câu hỏi...cũng có những lý do chúng tôi có thể chấp nhận được, đó là số môn cần
phải học với lượng kiến thức tương đối lớn, mặt khác, bước vào năm học cuối cấp,
các em chỉ muốn tập trung cho các môn mình sẽ dự thi trong kỳ thi đại học, trong
khi đó hiện nay đa số học sinh tập trung vào ban tự nhiên, vì thế thời gian dành
cho các môn xã hội rất ít. Để khắc phục tình trạng trên, chúng tôi nhận thấy việc
định hướng cho học sinh xây dựng và sử dụng sơ đồ, bảng biểu vào công việc
chuẩn bị bài ở nhà của học sinh là việc làm rất cần thiết, không chỉ giúp các em
tiết kiệm thời gian để học những môn khác mà còn giúp các em hiểu vấn đề và lưu
giữ kiến thức nhanh hơn, lâu hơn.
Trong hoạt động học tập cá nhân, giáo viên có thể định hướng cho học sinh
sử dụng sơ đồ để trả lời các câu hỏi trong phần hướng dẫn tìm hiểu bài. Tùy vào
từng yêu cầu của từng câu hỏi, các em sẽ lựa chọn những dạng sơ đồ khác nhau để
trình bày câu trả lời của mình. Bên cạnh việc trả lời các câu hỏi trong sách giáo
khoa, các em có thể tự học theo cách hiểu của mình như tự tóm tắt cốt truyện bằng
sơ đồ, phân tích nhân vật bằng sơ đồ, tìm hiểu ý nghĩa của những biểu tượng trong
tác phẩm bằng sơ đồ...Ví dụ, giáo viên có thể hướng dẫn học sinh tìm hiểu ý nghĩa
biểu tượng của chiếc thuyền trong Một người Hà Nội của Nguyễn Khải như sau:

Biểu hiện
Người cháu
Quan

phương pháp dạy học Ngữ văn ở trường phổ thông. Vì vậy, giáo viên nên chú
trọng hơn tới công việc chuẩn bị bài trước khi đến lớp và thực hành luyện tập sau
mỗi giờ học của học sinh, chú trọng tới công tác ra bài tập về nhà. Bên cạnh đó,
giáo viên cần có thái độ nghiêm túc, tôn trọng mọi sự sáng tạo, tôn trọng những
suy nghĩ, ý kiến các nhân của học sinh khi xây dựng sơ đồ, bảng biểu.
3.6 Sử dụng sơ đồ, bảng biểu trong quá trình học tập hợp tác
Học tập hợp tác là một phương pháp dạy học tiến bộ hiện nay đang
được áp dụng tại hầu khắp các trường phổ thông ở nước ta. Trong dạy học Ngữ
văn, học hợp tác đã tạo cơ hội cho học sinh giúp đỡ, chia sẻ khó khăn và cùng
nhau xây dựng nhận thức mới. Bằng cách nói ra những điều mình đang nghĩ, mỗi
người có thể nhận ra trình độ hiểu biết của mình về vấn đề đưa ra, thấy mình cần
học hỏi thêm những gì ở bạn bè. Bài học trở thành quá trình học hỏi lẫn nhau chứ
không phải sự tiếp nhận thụ động một chiều từ phía giáo viên.
15


Có thể nói, dạy và học theo hình thức học tập hợp tác nuôi dưỡng một môi
trường học tập sôi nổi. Nó tạo ra cơ hội cho từng thành viên trình bày suy nghĩ,
hiểu biết, thái độ của mình; được tập thể uốn nắn và điều chỉnh, tạo niềm vui và sự
hứng thú trong học tập, tránh được hiện tượng ỷ lại, tính cách năng lực của từng
thành viên được bộc lộ, học sinh sẽ năng động hơn, tự tin hơn.
Đối với dạy học truyện ngắn Việt Nam sau 1975, cụ thể là dạy học Một
người Hà Nội - Nguyễn Khải , phương pháp học tập hợp tác càng được phát huy
tác dụng khi hai truyện ngắn cùng có một đặc điểm chung rất thích hợp cho
phương pháp học này, đó là tính chất đối thoại của truyện.
Hiện nay, trong suy nghĩ của nhiều giáo viên và học sinh, học tập hợp tác
chỉ diễn giữa các học sinh với nhau, tuy nhiên hiểu này chưa thực sự hợp lý. Học
tập hợp tác có thể diễn ra giữa các học sinh với nhau trong hoạt động tự học trước
khi đến lớp, hợp tác trong các giờ học ngoại khóa hoặc hợp tác với nhau trong giờ
học chính khóa. Ngoài ra, học hợp tác còn diễn ra giữa giáo viên với học sinh, đó

- “ hạt bụi vàng”: dù
nhỏ bé, tầm thường
nhưng rất có giá trị
=> Cô Hiền là một
người Hà Nội bình
16


thương nhưng mang
nét đẹp tinh hoa
trong bản chất
người

Nội

3.7 Sử dụng sơ đồ, bảng biểu trong quá trình ôn tập và kiểm tra, đánh giá

* Sử dụng sơ đồ, bảng biểu trong quá trình ôn tập
Ôn tập kiến thức là việc làm vô cùng cần thiết đối với bất kỳ môn học nào ở
nhà trường phổ thông. Hoạt động này nhằm mục đích củng cố, hoàn thiện, hệ
thống hóa những tri thức kỹ năng, kỹ xảo đã đạt được, đồng thời ôn tập là cơ sở tái
hiện và vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học. Việc ôn tập có thể diễn ra hàng ngày
sau từng bài học, có thể diễn ra sau khi học xong một chương, một phần và sau khi
học hết một môn....Ôn tập có thể diễn ra trên lớp dưới sự chỉ đạo trực tiếp của giáo
viên hoặc ôn tập ngoài giờ lên lớp được diễn ra khi không có sự hướng dẫn trực
tiếp của giáo viên. Học sinh tự ôn tập dựa trên cơ sở những cách thức ôn tập mà
giáo viên đã hướng dẫn hoặc dựa vào những bài tập mà giáo viên giao về nhà.
Hoạt động ôn tập nếu được thực hiện tốt thì học sinh không những củng cố lại
được kiến thức đã học mà còn được cấu trúc lại và ghi nhớ, vận dụng theo phương
pháp sáng tạo hơn.

ngại, không tin cậy.
- Khâm phục khi phát hiện bà
Hiền có đầu óc thực tế, biết tính
toán

Hành trình nhận thức của nhân vật
"Tôi"
Hoài nghi, lo âu, không tin họ còn
giữ được nét hào hoa, thanh lịch
của đất kinh kì.

Vỡ lẽ ra vẻ đẹp của bà Hiền
(thống nhất giữa tình yêu gia
đình và tình yêu Tổ quốc).

Nhìn nhận, đánh giá con người trong bản chất vôn có
của cuộc sống đời thường

18


Việc sử dụng sơ đồ, bảng biểu trong quá trình ôn tập đã đem đến những hiệu quả
tích cực. học sinh một lần nữa được khắc sâu kiến thức. Tính tích cực, chủ động,
sáng tạo của học sinh được phát huy tối đa. Vì thế, các phương tiện trực quan này
cần được sử dụng thường xuyên trong quá trình ôn tập.
4. Đánh giá kết quả thực nghiệm
4.1 Mục đích, nội dung đánh giá
So sánh tác dụng, kết quả của lớp sử dụng giáo án thực nghiệm với lớp đối chứng
Tính khả thi của việc sử dụng sơ đồ, bảng biểu vào giảng dạy truyện ngắn Việt
Nam sau 1975 ở trường THPT.

14 (35%)
20 (48,7%)
18 (45%)
2 (5%)
1 (2,5%)
4 (9,8%)
5(12,5%)

BẢNG TỔNG HỢP KẾT QUẢ THỰC NGHIỆM
Kết quả
Thực nghiệm (80)
Đối chứng (81)
Giỏi
11 (13,7%)
5 (6,2%)
Khá
40 (50%)
29 (35,7%)
T.bình
26 (32,5%)
38 (47%)
Yếu
3 (3,8%)
9 (11,1%)
4.4 Kết quả thực nghiệm
Do thời gian thực nghiệm còn hạn chế nên chúng tôi mới chỉ tiến hành thực
nghiệm đề tài tại 2 lớp ở trường THPT Triệu Sơn 5. Mặc dù kết quả thực nghiệm
này chưa phải là cơ sở để khẳng định sự thành công của đề tài nhưng bước đầu đã
19


nói chung, trong dạy học truyện ngắn nói riêng không phải là một phương pháp
vạn năng và được sử dụng như một phương pháp độc quyền trong dạy học. Những
phương tiện trực quan này cần phải được kết hợp linh hoạt với nhiều phương pháp
khác nhau, có như vậy, người giáo viên mới khai thác được ưu thế của nó một cách
tối đa. Ngoài ra, sơ đồ, bảng biểu cần được sử dụng phù hợp với nội dung dạy học,
không nên quá lạm dụng những công cụ này để không làm mất đi tính nghệ thuật,
thẩm mĩ của tác phẩm văn chương.
3. Sau khi nghiên cứu đề tài, chúng tôi cũng đưa ra một số đề xuất sau:
Cần định hướng sử dụng sơ đồ, bảng biểu vào dạy học truyện ngắn Việt
Nam cũng như trong dạy học tác phẩm văn chương một cách thường xuyên hơn ở
tất cả các khâu của quá trình dạy học.
20


Để sơ đồ, bảng biểu mang lại hiệu quả tối đa trong quá trình dạy học, giáo
viên cần phải có sự chuẩn bị kĩ lưỡng, chu đáo và hiểu rõ nội dung kiến thức có
thể áp dụng dạy học bằng sơ đồ, bảng biểu, không áp dụng một cách máy móc làm
hạn chế khả năng sáng tạo của người học. Giáo viên cần tạo mọi điều kiện để học
sinh phát huy tối đa tính tích cực, chủ động cũng như năng lực sáng tạo cá nhân.
Giáo viên cần kết hợp linh hoạt giữa việc sử dụng sơ đồ, bảng biểu với các
phương tiện, biện pháp, phương pháp dạy học khác. Không nên quá đề cao bất kỳ
một phương pháp, biện pháp nào, tuy nhiên trong giờ học, giáo viên cần phải xác
định được đâu là phương pháp, biện pháp chính.
Trên đây là những kết luận và những đề xuất của chúng tôi sau khi tiến hành
nghiên cứu đề tài. Mặc dù còn nhiều hạn chế nhưng đề tài này có thể mở ra một
hướng đi mới nhằm hiện thực hóa mục tiêu đổi mới phương pháp dạy học Ngữ
văn ở nhà trường phổ thông hiện nay.
XÁC NHẬN CỦA HIỆU TRƯỞNG

Thanh Hóa ngày 23 tháng 5 năm 2019


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status