LUẬN văn sư PHẠM NGỮ văn dạy học văn XUÔI VIỆT NAM HIỆN đại TRONG SÁCH GIÁO KHOA NGỮ văn lớp 12 (bộ cơ bản) - Pdf 48

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA SƯ PHẠM

BỘ MÔN NGỮ VĂN
-------

-------

LÊ THỊ TÚ NHƯ
MSSV: 6075365

DẠY HỌC VĂN XUÔI VIỆT NAM HIỆN ĐẠI
TRONG SÁCH GIÁO KHOA NGỮ VĂN LỚP 12
(BỘ CƠ BẢN)
Luận văn tốt nghiệp đại đọc
Ngành Sư phạm Ngữ Văn

Cán bộ hướng dẫn:

TRẦN ĐÌNH THÍCH

Cần Thơ, 05 - 2011
2011


ĐỀ CƯƠNG TỔNG QUÁT
A. PHẦN MỞ ĐẦU
I.

Lí do chọn đề tài


Chương 2: Dạy học văn xuôi trong chương trình sách giáo khoa Ngữ văn
lớp 12 (bộ cơ bản)
1. Cơ sở lí thuyết về các phương pháp dạy học Ngữ văn
1.1. Các định hướng trong quá trình dạy học của Marzano
1.2. Vấn đề về tổ chức dạy học hợp tác
1.3. Các phương pháp dạy học Ngữ văn


2. Dạy học phần văn xuôi Việt Nam hiện đại trong chương trình sách giáo
khoa Ngữ văn lớp 12 (bộ cơ bản)
2.1. Dạy học tác phẩm truyện trong chương trình sách giáo khoa Ngữ
Văn 12 (bộ cơ bản)
2.2 Dạy học tác phẩm kí trong chương trình sách giáo khoa Ngữ Văn 12
(bộ cơ bản)
3. Thiết kế một số bài dạy trong sách giáo khoa Ngữ Văn 12 (bộ cơ bản)
Bài dạy: Ai đã đặt tên cho dòng sông? – Hoàng Phủ Ngọc Tường
Bài dạy: Những đứa con trong gia đình – Nguyễn Thi
Bài dạy: Chiếc thuyền ngoài xa – Nguyễn Minh Châu

C. PHẦN KẾT LUẬN


QUY ƯỚC VIẾT TẮT
GV: Giáo viên
HS: Học sinh
SGK: Sách giáo khoa
Giáo viên diễn giảng.
Giáo viên hỏi và yêu cầu.
Giáo viên nhận xét và đánh giá.
Giáo viên trình bày phương tiện trực quan.

phẩm văn học một cách đúng nhất, gần nhất. Để làm được nhiệm vụ cao quý và nặng
nề này, người giáo viên cần có những phương pháp thích hợp, đồng thời phải biết
cách sử dụng, phối hợp các phương pháp phân tích tác phẩm một cách nhuần nhuyễn
nhất, nhằm giúp học sinh vừa nắm bắt tri thức, vừa nắm bắt phương pháp học tập,
nghiên cứu.


Đại văn hào Nga Lev Tolstoi từng nói: “Cái quý nhất không phải là biết quả
đất tròn mà phải hiểu người ta đã tìm ra điều ấy như thế nào?” Phương pháp có vai
trò vô cùng quan trọng trong cuộc sống cũng như trong học tập. Nhưng tìm ra
phương pháp đã khó, áp dụng phương pháp đó như thế nào để đạt hiệu quả còn khó
hơn.
Với mong muốn đóng góp một phần công sức vào việc nghiên cứu cách tiếp
cận thể loại văn xuôi và phương pháp dạy thể loại này, chúng tôi chọn đề tài “Dạy
học văn xuôi Việt Nam hiện đại trong chương trình SGK Ngữ Văn 12 (bộ cơ bản)”.
Hơn nữa, đề tài này giúp chúng tôi làm quen với việc thiết kế bài học, nắm vững cơ
sở lí luận khi thiết kế các tác phẩm văn xuôi hiện đại và là cơ sở để chúng tôi xây
dựng tốt giáo án khi lên lớp. Đồng thời, cũng là để thử thách năng lực của bản thân
và chuẩn bị cho mình một kiến thức nhất định cho việc giảng dạy sau này.

II. Lịch sử vấn đề
Tìm hiểu văn xuôi Việt Nam hiện đại có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong
việc tìm hiểu nền văn học dân tộc. Tuy nhiên, nghiên cứu văn xuôi Việt Nam hiện
đại là một vấn đề lớn và hết sức khó khăn vì ý kiến mọi người khó nhất trí trong việc
đánh giá các tác phẩm. Trên thực tế, vấn đề nghiên cứu văn xuôi Việt Nam hiện đại
đã được một số tác giả đặc biệt chú ý đến những lĩnh vực, mức độ khác nhau. Nói
riêng về đề tài “Dạy học văn xuôi Việt Nam hiện đại trong sách giáo khoa Ngữ văn
lớp 12 (bộ cơ bản)” ít có công trình nào nghiên cứu trọn vẹn. Các tác giả thường đi
vào phân tích tác phẩm, rất ít tác giả đề cập đến hệ thống phương pháp tiếp cận tác
phẩm. Trong quá trình thực hiện, chúng tôi thấy được ít nhiều công trình, tài liệu có

của văn xuôi giai đoạn này và chỉ ra quy luật phát triển của nền văn xuôi đó. Quyển
sách đã cung cấp cho chúng ta những nét chính về lịch sử văn xuôi hiện đại.
Quyển “50 năm Văn học Việt Nam sau Cách mạng tháng Tám” [15] với
nhiều bài phát biểu, báo cáo, tham luận đã được sắp xếp thành các phần: đặc điểm,
diện mạo, hướng tiếp cận; văn học và chiến tranh Cách mạng; những vấn đề về thi
pháp thể loại. Quyển sách này phần nào cũng đã tạo ra những tiền đề cho việc nghiên
cứu của chúng tôi.
Bài viết: “Định lượng kiến thức và định hướng phương pháp trong dạy học
tác phẩm văn chương ở trường phổ thông trung học” của ThS Trần Đình Thích đã
đưa ra vấn đề là cần phải xác định kiến thức trọng tâm trong từng bài dạy. Tuy nhiên,
không chỉ định lượng kiến thức mà người giáo viên cũng phải định hướng tốt về


phương pháp thì mới đạt được kết quả cao. Bài viết đã đề cập đến vấn đề loại thể
trong việc khai thác tác phẩm là yếu tố giúp cho việc định hướng tốt phương pháp.
Tác giả chỉ ra các thể loại được giảng dạy trong nhà trường, trong đó có thể loại văn
xuôi. Bài viết đã có cái nhìn tổng quát khi đi vào từng thể loại.
Nhìn chung đây là những công trình nghiên cứu viết về việc dạy học Văn xuôi
Việt Nam hiện đại mà chúng tôi đã thu thập được. Với bài viết này, chúng tôi mong
muốn sẽ góp một tiếng nói như hạt cát nhỏ giữa sa mạc nghiên cứu với tất cả sự đam
mê tìm hiểu.

III. Mục đích, yêu cầu
“Nếu không có mục đích, anh không làm được gì cả” (Điđơrô). Mục đích là
kim chỉ nam của con người, vì thế con người không thể làm việc mà không có mục
đích. Trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học cũng thế, khi nhận được đề tài thì người
nghiên cứu không thể không hướng tới một mục đích cụ thể. Từ trước tới nay, đã có
bao nhiêu nhà bác học nghiên cứu, tìm tòi, sáng tạo trên mọi lĩnh vực để đem lại
những kết quả tốt đẹp nhất, nhằm mục đích cải thiện đời sống con người. Cho nên
khi thực hiện đề tài này, chúng tôi cũng hướng đến mục đích cụ thể: Tiếp cận cũng

SÁCH GIÁO KHOA NGỮ VĂN LỚP 12
(BỘ CƠ BẢN)
1. Khái quát về văn xuôi Việt Nam hiện đại
1.1. Chung quanh khái niệm văn xuôi Việt Nam hiện đại
Một tác phẩm văn học ra đời đều tồn tại trong các hình thức thể loại nhất định
như: thơ, văn xuôi (truyện, tiểu thuyết, kí), kịch, nghị luận. Không có tác phẩm văn
học nào được xây dựng ngoài những hình thức quen thuộc đó. Loại hình tác phẩm là
sự tổng hợp các phương thức tổ chức, phương thức tái hiện đời sống của những đặc
trưng cơ bản gần gũi với nhau.
Lí luận văn học xưa nay có đã có nhiều cách phân chia loại thể văn học và đến
nay vẫn chưa thống nhất. Trong quyển Quốc văn cụ thể, Bùi Kỉ cho rằng văn ta có
bốn “lối”:
- Có vần mà không đối nhau.
- Có vần mà đối nhau.
- Đối nhau mà không có vần.
- Văn xuôi hay tản văn, không có vần và không đối nhau.
Theo Dương Quảng Hàm trong quyển Văn học Việt Nam cho rằng Văn chương
nước ta có nhiều thể, nhưng có thể chia ra làm ba loại lớn:
- Vận văn, tức là loại văn có vần (thơ, lục bát, song thất, hát nói, xẩm, vè).


- Biền văn, tức là loại văn không có vần mà có đối (câu đối, kinh nghĩa, văn
sách).
- Tản văn hoặc văn xuôi là loại văm không có vần mà cũng không có đối.
Ta thấy rằng cả hai nhà nghiên cứu đều lưu ý đến hình thức câu văn, xem đây là
căn cứ để phân loại các tác phẩm văn chương. Ngoài ra, trong Những nguyên lí về lí
luận văn học (tập III, phần loại thể văn học, 1962) Hà Minh Đức xác định có bốn
loại: thơ ca, kịch, tiểu thuyết, tản văn. Trần Đình Sử lại chia thành năm loại: tự sự,
trữ tình, kịch, kí và chính luận (Lí luận văn học tập 2).
Xét về mặt “phương tiện”, tức là về mặt ngôn ngữ của tác phẩm văn chương

1.2.1 Truyện ngắn
Truyện ngắn là loại văn xuôi tự sự có hình thức ngắn gọn. Về từ nguyên,
truyện ngắn có nghĩa là một tin tức mới mẻ, sốt dẻo. Tuy nhiên, đặc trưng của truyện
ngắn không phải chỉ vì nó ngắn mà chủ yếu là cách nắm bắt và thể hiện hiện thực
cuộc sống. Truyện ngắn thường đi sâu phản ánh một mặt của cuộc sống hiện thực
hay nhà văn thường hướng tới khắc họa một hiện tượng, phát hiện một nét bản chất
nào đó trong quan hệ nhân sinh hay đời sống tâm hồn con người. Trong truyện ngắn,
nếu nhà văn đặt quá nhiều vấn đề, câu chuyện sẽ dễ bị loãng. Vì thế người viết luôn
luôn chú ý vào một vấn đề cơ bản với sự tỉ mỉ, chi tiết, loại bỏ những gì thiếu súc
tích mà tập trung về sự kiện, về chủ đề, về ấn tượng là yêu cầu của truyện ngắn.
Maugham cho rằng: “Truyện ngắn cần phải viết sao cho người ta không thể bổ sung
thêm vào đó chút gì cũng không thể rút bớt ra chút gì.”
Hình tượng chủ yếu của loại văn này là hình tượng nhân vật. Thông qua số
phận của nhân vật, người đọc có thể hiểu được cuộc sống như thế nào. Nói đến
truyện là nói tới hai thành phần chủ yếu quyết định đặc trưng của loại văn này: nhân
vật và cốt truyện. Khi đọc xong một tác phẩm truyện, điều làm cho chúng ta phải suy
nghĩ và nhớ đến nhiều nhất là nhân vật. Nhưng nhân vật của truyện lại chỉ được thể
hiện thông qua cốt truyện – nghĩa là thông qua hàng loạt sự kiện và biến cố và mối
quan hệ của nhân vật đó với các nhân vật khác trong tác phẩm. Không có nhân vật,
truyện không thành. Không có cốt truyện, không thể hiểu được nhân vật. Cốt truyện
của truyện ngắn có thể là nổi bật, hấp dẫn nhưng chức năng của nó nói chung là để
nhận ra một điều gì. Chính vì vậy, nhân vật và cốt truyện đã trở thành hai khâu trung
tâm của nghệ thuật viết truyện.

1.2.2 Tiểu thuyết
Tiểu thuyết là thể loại lớn nhất trong loại tác phẩm tự sự, đặc biệt phát triển
mạnh mẽ trong thời kì cận và hiện đại. Ðây là thể loại không bị giới hạn về dung


lượng phản ánh hiện thực, cả về không gian cũng như thời gian. Qua tiểu thuyết,

Phách với Tố Tâm, văn xuôi Tự lực văn đoàn, và đặc biệt là văn xuôi hiện thực phê
phán mà tiêu biểu là Nam Cao, Vũ Trọng Phụng, Nguyễn Công Hoan, Ngô Tất Tố…
đã đưa văn xuôi Việt Nam hiện đại lên đỉnh cao rực rỡ. Văn xuôi tiếng Việt tiến
nhanh trên con đường hiện đại hóa vào những thập niên 30, với sự phát triển của khá
nhiều thể loại như truyện ngắn, tiểu thuyết, phóng sự, tùy bút,… Đến chặng đường


này văn xuôi tiếng Việt đã đạt được những thành tựu nghệ thuật quan trọng với các
sáng tác của Nguyễn Công Hoan, Thạch Lam, Vũ Trọng Phụng, Ngô Tất Tố,
Nguyên Hồng, Nam Cao, Nguyễn Tuân, Vũ Bằng, Nhất Linh, Khái Hưng… Có thể
nói, văn xuôi tiếng Việt đã vận động với một nhịp độ nhanh để hội nhập với văn học
các nước trong khu vực và trên thế giới.
Giai đoạn tiếp theo là giai đoạn từ 1945 đến 1975
Cuộc kháng chiến vệ quốc vĩ đại đã làm nên chiến thắng lịch sử của dân tộc.
Cách mạng tháng Tám như một nét son vàng trên trang sử bốn nghìn năm giữ nước.
Và cũng là cách mạng tháng Tám đã đánh dấu một điểm mốc trong sáng tác văn
nghệ, có ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển của văn xuôi cũng như văn học nói
chung. Cách mạng tháng Tám thành công, một chế độ xã hội mới ra đời và tiếp theo
là những năm tháng kháng chiến trường kì và anh dũng của dân tộc để giữ gìn độc
lập của Tổ quốc. Văn học gắn chặt với sự nghiệp vĩ đại đó của dân tộc. Cho nên đặc
điểm của văn xuôi giai đoạn này là văn xuôi sử thi chiếm ưu thế. So với văn xuôi
tiền chiến, văn xuôi hiện thực phê phán cách tân quan trọng nhất của văn xuôi giai
đoạn này như nhiều nhà nghiên cứu đã khẳng định là “phát triển ra nội dung cộng
đồng trong đời sống xã hội và phương tiện cộng đồng trong ý thức cá nhân” (Lã
Nguyên). Chưa bao giờ hình tượng Tổ quốc, hình tượng tập thể, hình tượng nhân dân
lại chiếm ưu thế và hiện lên rực rỡ như thế trong văn học.
Giai đoạn thứ ba là giai đoạn sau 1975 đến nay
Kháng chiến chống Mĩ thắng lợi vào năm 1975, hiện thực đất nước ta bước
sang một thời kì mới, thời kì từ cuộc sống thời chiến chuyển sang hòa bình, từ đời
sống bất bình thường của “ngày có giặc” (chữ dùng của Hữu Thỉnh) chuyển sang

thời nhu cầu thẩm mĩ của thời đại, góp phần cổ vũ và thúc đẩy mạnh mẽ cuộc sống
xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của dân tộc trong những tháng năm đó.
Văn xuôi Việt Nam giai đoạn từ năm 1975 đến cuối thế kỉ XX
Văn xuôi nhập cuộc nhanh hơn, xông xáo hơn, sớm chứng tỏ vai trò không
thể thay thế của nó trong việc chiếm lĩnh cái hiện thực sôi động đang diễn ra và tham
gia xây dựng, hoàn thiện nhân cách, tâm hồn con người Việt Nam trong thời đại mới.
Điều này không phải là hiện tượng ngẫu nhiên, bởi văn xuôi đặc biệt phát triển trong
những thời kì mà xã hội có nhiều biến động và số phận, tính cách con người phải trải
qua những bước ngoặc, những thăng trầm dữ dội.
Do đặc trưng thể loại, văn xuôi có thể bao quát một phạm vi đời sống rộng lớn
không chỉ ở hiện tại mà còn cả quá khứ và tương lai, có thể khắc họa chân dung con
người với tất cả các mối quan hệ tự nhiên và xã hội phức tạp của nó. Trong bối cảnh
không gian và thời gian không hạn định, thông qua hệ thống hình tượng sinh động,
văn xuôi cho phép người nghệ sĩ trải lòng mình trước nhiều cảnh đời, nhiều xung


đột gay gắt; từ đó mới có thể giãi bày hết tâm huyết của họ đối với đời sống. Tiếp
tục truy kích cái ác đến cùng, các nhà văn đã tấn công vào những chuyện tiêu cực,
những biểu hiện phản văn hóa, những lối sống buông thả làm băng hoại nhân cách,
đạo đức, những hành vi trắng trợn chà đạp lên đạo lí, dân chủ và công bằng xã hội.
Có thể nói đề tài của văn xuôi được mở rộng đến vô cùng. Mảnh đất hiện thực còn
đang ngổn ngang bề bộn rất cần sự góp mặt của các nhà văn để dần khẳng định các
giá trị đích thực và loại bỏ những rác rưởi, cặn bã, làm lành mạnh hóa đời sống xã
hội. Mặt khác, đã có độ lùi thời gian cho phép bao quát toàn cảnh lịch sử, lại được
trang bị kiểu tư duy nghệ thuật mới, các nhà văn có thêm điều kiện để chiêm
nghiệm, suy tư về nhiều khía cạnh của hiện thực chiến tranh mà trước đây đã bị bỏ
qua hoặc khai thác chưa thỏa đáng. Nền văn học đó ngày càng hiện thực hơn, nhân
đạo hơn và vì thế có sức thuyết phục người đọc hơn.

3. Văn xuôi Việt Nam hiện đại trong sách giáo khoa Ngữ văn 12 (bộ cơ

- Bắt sấu rừng U Minh Hạ (Sơn Nam)
- Mùa lá rụng trong vườn (Trích – Ma Văn Kháng)
- Một người Hà Nội (Trích – Nguyễn Khải)
Ta có thể thấy rằng, các tác phẩm trên được sắp xếp theo trục lịch sử văn học,
sắp xếp theo trật tự truyền thống: Văn học Việt Nam từ năm 1945 đến năm 2000
gồm 2 giai đoạn: giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1975 và giai đoạn từ năm 1975 đến
hết thế kỉ XX. Phần lớn các tác phẩm đều được sắp xếp theo khung lịch sử của nó.
Mặt khác, trong từng giai đoạn văn học thì tác phẩm, đoạn trích lại sắp xếp theo cụm
thể loại nhằm tạo thuận lợi cho việc hình thành kĩ năng đọc văn bản thể loại. Chẳng
hạn, phần văn xuôi Việt Nam hiện đại trong sách giáo khoa Ngữ văn lớp 12 (bộ cơ
bản), tập một có:
Cụm kí gồm 2 tác phẩm chính: Người lái đò Sông Đà và Ai đã đặt tên cho
dòng sông? Đọc thêm: Những ngày đầu tiên của nước Việt Nam mới.
Cụm truyện gồm có 5 tác phẩm chính: Vợ chồng A Phủ, Vợ nhặt, Rừng xà nu,
Những đứa con trong gia đình, Chiếc thuyền ngoài xa. Đọc thêm 3 bài: Bắt sấu rừng
U Minh Hạ, Mùa lá rụng trong vườn, Một người Hà Nội.

3.3. Đặc điểm nội dung và nghệ thuật của các tác phẩm văn xuôi Việt Nam
hiện đại trong chương trình sách giáo khoa Ngữ văn 12 (bộ cơ bản)
Về nội dung tư tưởng, văn xuôi giai đoạn năm 1945 – 1975 đã kế thừa và phát
huy những nét cơ bản trong truyền thống của dân tộc, là chủ nghĩa yêu nước và tinh
thần nhân đạo. Có thể nói chưa có thời kì nào mà tình cảm dân tộc, ý thức cộng
đồng, tình yêu quê hương đất nước, tình nghĩa đồng bào, đồng chí, lại được thấm


nhuần sâu rộng và biểu hiện phong phú, nhiều vẻ như ở văn học giai đoạn này. Chủ
nghĩa yêu nước vừa là một truyền thống sâu xa lại vừa là nét nổi bật trong tinh thần
của thời đại mới, được thể hiện ở niềm tự hào và ý thức làm chủ đất nước của quần
chúng, ở tư tưởng đất nước này là đất nước của nhân dân, ở lí tưởng độc lập tự do
gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Tinh thần nhân đạo truyền thống thể hiện ở lòng nhân

chân thực hơn, không phải chỉ có chiến thắng, hạnh phúc mà nhiều khi còn đầy bất
hạnh, đau khổ. Sự quan tâm chia sẻ của nhà văn đối với bi kịch và những mất mát
mà con người phải gánh chịu trong suốt gần một nửa thế kỉ chiến tranh và nghèo đói
không chỉ thể hiện mối quan hệ gắn bó muôn đời giữa văn học với cuộc sống mà còn
là biểu hiện sinh động của chủ nghĩa nhân đạo trong văn học thời kì đổi mới.
Về nghệ thuật, văn xuôi ở hai thời kì này có sự phong phú về đề tài, chủ đề.
Vấn đề về nhân vật, nhà văn chú trọng hơn việc đi sâu vào khai thác nội tâm, đời
sống tinh thần của nhân vật. Ngoài ra, cần chú ý đến nghệ thuật xây dựng tình huống
truyện, và bút pháp trần thuật mới mẻ.
3.4. Vị trí và tầm quan trọng
Văn xuôi Việt Nam hiện đại được đưa vào giảng dạy trong sách giáo khoa
Ngữ Văn 12 (bộ cơ bản) có một vị trí khá quan trọng. Đối với tác phẩm truyện trong
giai đoạn này chủ yếu viết về vấn đề số phận con người bằng cảm hứng anh hùng ca
và cảm hứng thế sự; về tình yêu quê hương đất nước. Còn kí thì nó đã phản ánh được
vẻ đẹp và sức hấp dẫn của cuộc sống, con người và quê hương qua những trang viết
chân thực, đa dạng. Chính những điều này đã góp phần vào việc bồi đắp tâm hồn cho
thế hệ trẻ đó là lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết, niềm tự hào, trân trọng và gìn giữ
cảnh sắc thiên nhiên tươi đẹp và những nét đẹp văn hoá truyền thống. Mặt khác, nó
giúp học sinh nhìn nhận lại chính bản thân và hoàn thiện mình hơn trong cuộc sống,
học sinh sẽ ý thức hơn về trách nhiệm của bản thân là ra sức học tập với quan niệm
“Học để biết, học để làm, học để chung sống và học để khẳng định” (UNESCO).
Ngoài ra, nó còn giúp học sinh bổ sung thêm tri thức về thể loại kí đặc biệt là
tuỳ bút, bút kí,… rèn luyện khả năng quan sát và sáng tạo đối với các sự vật, hiện
tượng thiên nhiên trong cuộc sống.


CHƯƠNG 2: DẠY HỌC VĂN XUÔI VIỆT NAM HIỆN ĐẠI
TRONG SÁCH GIÁO KHOA NGỮ VĂN 12 (BỘ CƠ BẢN)
1. Cơ sở lí thuyết về các phương pháp dạy học Ngữ văn
Một trong những vấn đề cơ bản trong việc nâng cao chất lượng, hiệu quả dạy

chức của giáo viên. Học sinh sẽ học cách quan sát, xử lí tình huống, tự giải quyết vấn
đề, biết khơi gợi trí tưởng tượng phong phú. Trí tưởng tượng càng mạnh năng suất
cảm thụ càng cao. Sêkhôp từng phát biểu: “Khi viết tôi hoàn toàn dựa vào người
đọc, thêm giúp cho tôi những yếu tố chủ quan mà trong tác phẩm không có được”.
Từ cách học tập trung nêu vấn đề và giải quyết vấn đề bằng suy luận phán đoán,
tưởng tượng… học sinh sẽ thỏa mãn trí tò mò về tri thức mới vừa được tự bản thân
mình khám phá. Điều đó sẽ kích thích hơn nữa sự ham học hỏi của các em. Theo


quan điểm này, giờ học không còn là giờ độc thoại phát vấn của thầy nữa mà trở
thành giờ đàm thoại giữa thầy – trò, trò – trò, hợp tác nhiều chiều để tìm ra cách giải
quyết vấn đề. Thầy chỉ đạo, hướng dẫn, trò chủ động tích cực. Học sinh sẽ tự đánh
giá mình và đánh giá bạn, tự kiểm tra mình và điều chỉnh bản thân. Thầy cũng dựa
trên cơ sở đó để cho điểm một cách linh hoạt cơ động tránh chủ quan cảm tính. Tất
cả đều hướng đến cái đích quan trọng là xây dựng cho học sinh một năng lực độc lập
trong cảm thụ, để trong nhà trường học sinh học tác phẩm văn chương một cách tự
giác; ngoài xã hội học sinh có thể tự mình khám phá, phân tích, xử lí tình huống thử
thách… Từ đó, đào tạo được những con người tự chủ, năng động, sáng tạo trong lao
động.
Quan điểm dạy học “lấy học sinh làm trung tâm trong quá trình dạy học”
không có nghĩa là hạ thấp vai trò của giáo viên mà ngược lại, vai trò của người thầy
giáo cần phải tăng cường, đòi hỏi về trách nhiệm và tài năng cũng nặng hơn nhiều so
với dạy học theo phương pháp truyền thống tái hiện. Cơ chế dạy học Văn đổi mới
nhấn mạnh đến vai trò không thể thiếu được của giáo viên. Học sinh là trung tâm,
giáo viên đóng vai trò chủ đạo, là linh hồn của lớp học, là người tổ chức hoạt động
tâm lí nhận thức của học sinh trong giờ học. Một giờ giảng văn không thể thiếu được
kiến thức văn chương và tài năng Sư phạm của thầy giáo. Thầy giáo là người truyền
đạt kiến thức, kĩ năng lĩnh hội tác phẩm cho học sinh, còn là người phải biết cách tổ
chức định hướng hoạt động cho các em. Từ đó giúp các em nắm được nội dung kiến
thức mới, nắm được kĩ năng, phương pháp đi tới kiến thức đó và tự mình khám phá.

chất, thiết bị đồ dùng trong lớp, ánh sáng, nhiệt độ, vị trí lớp học,… và những nhân
tố bên trong như: Thái độ học tập, sự nhận thức tích cực về việc học tập của học
sinh. Nhân tố này ảnh hưởng đến tinh thần, tâm lí của học sinh và phụ thuộc rất
nhiều ở thái độ của giáo viên. Người giáo viên phải thể hiện được sự quan tâm của
mình đối với lớp học và từng thành viên trong lớp bằng nhiều cách: giáo viên có thể
di chuyển thường xuyên về phía học sinh, nhìn vào mắt học sinh khi giảng bài hoặc
lúc phát vấn,… Học sinh sẽ cảm thấy thoái mái, dễ chịu nếu được quan tâm, tôn
trọng của giáo viên và bạn bè trong lớp. Tiết học sẽ sinh động, hứng thú hơn nếu
giáo viên có cách vào bài hoặc mở ra vấn đề mới mang tính sư phạm, bất ngờ, thu
hút sự chú ý của người học. Vì thế, để tạo ra bầu không khí tâm lí thoải mái, tích cực,
giáo viên phải chú ý tạo sự thoải mái trong lớp học bằng thái độ vui vẻ, hài hước,
những lời động viên, khích lệ,… Điều quan trọng là người giáo viên phải biết tạo cho
mình phong cách vừa mang tính sư phạm, vừa tạo được sự thoải mái cho học sinh.
Trong quá trình giảng dạy, giáo viên cũng cần tạo điều kiện để học sinh thể hiện tinh


thần hợp tác trong học tập thông qua những bài tập thảo luận nhóm, cho học sinh có
sự tự do nhất định trong việc chọn cách trình bày bài tập và có quyền trao đổi với
giáo viên những vấn đề còn khúc mắc,… Giáo viên chỉ bao quát lớp học, theo dõi,
nhắc nhở, hướng học sinh vào nội dung bài học.
Để duy trì thái độ và sự nhận thức tích cực của học sinh về việc học, giáo viên
cần đưa ra những bài tập hữu ích, có giá trị. Sự hứng thú của học sinh càng được
phát huy khi các em thấy được giá trị của các bài tập được giao, nhận thức được
nhiệm vụ học tập của các em sẽ giúp cho các em thực hiện được mục tiêu cá nhân.
Đồng thời, bài tập giáo viên đưa ra phải rõ ràng và mang tính vừa sức đối với học
sinh. Học sinh sẽ tự tin hơn nếu các em hiểu rõ được yêu cầu, nhiệm vụ được giao và
có đủ khả năng thực hiện được nhiệm vụ đó. Mặt khác, giáo viên cũng cần giúp các
học sinh ý thức được nhiệm vụ học tập của mình, phải tạo được mối liên hệ giữa
nhiệm vụ và mục tiêu người học. Chỉ khi xác định được mục tiêu học để làm gì, có
ứng dụng gì cụ thể trong đời sống, khi đó tự các em sẽ có ý thức, thái độ đúng đắn


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status