Mục lục
Nội dung
Trang
1. Mở đầu.
2
- Lí do chọn đề tài.
2
- Mục đích nghiên cứu.
2
- Đối tượng nghiên cứu
3
- Phương pháp nghiên cứu
3
2. Nội dung sáng kiến kinh nghiệm.
3
2.1. Cơ sở lý luận của sáng kiến kinh nghiệm
3. Kết luận, kiến nghị.
19
- Kết luận
19
- Kiến nghị
19
1. Mở đầu.
1
- Lí do chọn đề tài
Bước vào giai đoạn mới của cách mạng, giai đoạn đẩy mạnh sự nghiệp công
nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, để đáp ứng nhu cầu hội nhập quốc tế, đòi hỏi sự
nghiệp giáo dục Việt Nam cũng ngày càng phát triển. Để phát triển giáo dục trước
hết phải nâng cao chất lượng giáo dục, trong đó đổi mới phương pháp dạy và
phương pháp học là một trong những con đường quan trọng và công cụ thiết yếu.
Bên cạnh các phương pháp dạy học truyền thống được sử dụng ở các nhà trường
trung học cơ sở , có nhiều trường đã và đang kết hợp sử dụng các phương pháp dạy
học tích cực.
Môn Công nghệ là một trong những môn học quan trọng trong hệ thống kiến
thức của học sinh THCS, và là môn học đặc thù có thể sử dụng kết hợp các phương
pháp để nâng cao chất lượng dạy của giáo viên và chất lượng học của học sinh.
Những năm qua, thực hiện chỉ đạo của Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Thanh
Hóa, đội ngũ giáo viên Trường THCS Nga Trường Huyện Nga Sơn đã từng
- Đối tượng nghiên cứu
Hoạt động dạy, học môn Công nghệ 8 bằng sơ đồ tư duy của Trường THCS
Nga Trường, Huyện Nga Sơn.
- Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí
Minh, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam; sáng kiến được nghiên cứu và vận
dụng các phương pháp sau:
- Phương pháp hệ thống - cấu trúc: được sử dụng trong quá trình hệ thống hóa
kiến thức các tác phẩm và thể hiện bằng SĐTD.
- Phương pháp thực nghiệm: Được sử dụng trong quá trình áp dụng đề tài đối
với các lớp được chọn làm đối tượng thực nghiệm.
- Phương pháp so sánh: Được sử dụng trong quá trình so sánh đối chiếu kết
quả bài kiểm tra giữa lớp thực nghiệm và lớp đối chứng.
- Phương pháp phân tích - tổng hợp: Được sử dụng trong quá trình khảo sát,
phân tích kết quả thực nghiệm và tổng hợp kết quả thực nghiệm.
2. Nội dung sáng kiến kinh nghiệm
2.1. Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm
Sơ đồ tư duy là hình thức ghi chép nhằm tìm tòi, đào sâu, mở rộng một ý
tưởng, hệ thống hóa một chủ đề hay một mạch kiến thức… bằng cách kết hợp
việc sử dụng đồng thời hình ảnh, đường nét, màu sắc, chữ viết với sự tư duy
tích cực. Tác giả của SĐTD là Tony Buzan, ông là người đã thúc đẩy làn sóng
cách mạng học tập bùng nổ tại nhiều nước trên thế giới và khu vực, trong đó
có Việt Nam. Có thể nói, SĐTD là con đường dẫn học sinh đến với phương
pháp “học cách học”.
Ở Việt Nam, từ năm 2010, phương pháp dạy học tích cực bằng SĐTD đã
được triển khai thí điểm tại 355 trường trên toàn quốc. Trong dịp hè 2011, để
chuẩn bị các điều kiện cần thiết cho việc tiến hành giảm tải nội dung dạy học
ở các nhà trường bậc phổ thông từ năm học 2011 -2012, phương pháp dạy học
bằng SĐTD là 1 trong 5 chuyên đề dạy học tích cực đã được tập huấn cho
hơn 4.000 giáo viên cốt cán bậc THCS cả nước. Đây là một trong những
trong tiết học là rất cần thiết.
2.2.Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm ở Trường
THCS Nga Trường Huyện Nga Sơn
* Thuận lợi:
- Trường THCS Nga Trường Huyện Nga Sơn luôn nhận được sự quan
tâm của các cấp lãnh đạo:
- Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Thanh Hóa, Phòng Giáo dục và đào tạo
huyện Nga Sơn, Đảng ủy, UBND xã Nga Trường. Nhà trường có một cơ sở
dạy và học đáp ứng được nhu cầu của một trường chuẩn quốc gia giai đoạn I,
việc tiến hành sáng kiến kinh nghiệm này có những thuận lợi đáng kể.
Học sinh của Trường đa số là con em nông thôn nên rất ngoan ngoãn biết
nghe lời và chịu khó học tập. Bản thân tôi là giáo viên người địa phương nên
việc tìm hiểu hoàn cảnh, nắm bắt được khả năng tiếp thu bài của học sinh
cũng như phát hiện ra những học sinh có năng khiếu rất thuận tiện.. Bên cạnh
4
đó Ban Giám hiệu luôn quan tâm, chỉ đạo kịp thời nên giáo viên có những ý
tưởng mới hay những biện pháp dạy học mới mang tính sáng tạo sẽ được ủng
hộ và triển khai vào thực tế.
* Khó khăn:
Bên cạnh những thuận lợi nói trên, khi thực hiện sáng kiến kinh nghiệm
này tôi cũng gặp không ít những khó khăn ví dụ như phòng thí nghiệm và đồ
dùng dạy học của môn Công nghệ còn thiếu thốn; học sinh là con em nông
thôn, hay một số học sinh cá biệt; mặt bằng kiến thức không đồng đều, các em
quen với lối học thụ động, một số gia đình Bố mẹ đi làm ăn xa, đi làm công
ty nên việc quan tâm tới con cái chưa được thường xuyên… Chính những khó
khăn trên đã khiến tôi luôn mong muốn tìm ra biện pháp tốt nhất để giúp các
em bù lấp những khoảng trống kiến thức ở lớp dưới, hỗ trợ để các em tiếp thu
tốt chương trình đang học, từng bước nâng cao chất lượng đào tạo của
Kết quả đạt được như sau:
Lớp
Trả lời đầy
đủ kiến thức
Trả lời được
nội dung
chính
SL
%
SL
%
8A (28HS)
0
0
15
8B(24HS)
15
62.5
15
28.9
Ghi chú
Đến hết năm học 2014-2015 kết quả học tập của hai lớp có sự khác biệt
rõ rệt.
Giỏi
Khá
Trung bình
Yếu, kém
Lớp
8A (28HS)
8B(24HS)
SL
3
12
%
10.7
50
SL
10
7
%
mức độ từ dễ đến khó bằng một số hình thức tổ chức như sau:
a. Giáo viên cùng học sinh khai thác nội dung bài học mới bằng Sơ đồ tư
duy:
+ Hướng dẫn học sinh hiểu khái niệm, ý nghĩa của sơ đồ tư duy và tìm từ
chìa khóa.
Để áp dụng được phương pháp sử dụng sơ đồ tư duy giáo viên cần có tiết
ngoại khóa hoặc phụ đạo để giúp các em hiểu khái niệm sơ đồ tư duy là gì, bài
6
phỏng vấn với tác giả của sơ đồ tư duy, các hình ảnh thực tế, thông qua hoạt
động này giúp các em say mê hứng thú trong việc tiếp cận với phương pháp
học mới.
+ Giáo viên cho học sinh tập “ Đọc hiểu” và tự vẽ sau từng bài học.
Ban đầu để học sinh làm quen dần với phương pháp mới này ngoài việc
giới thiệu về SĐTD giáo viên nên hướng dẫn học sinh cách phân tích nội
dung bài học và thể hiện nó bằng SĐTD thông qua một số tiết học có thể bằng
hình thức vẽ trực tiếp hoặc sử dụng giáo án powerpoint để tiết kiệm thời gian.
Với cách này giáo viên vẽ SĐTD ở trung tâm bảng – là nội dung chính
của bài học sau đó giới thiệu các nội dung tiếp theo của bài học qua các nhánh
cấp 1, cấp 2, cấp 3… kết hợp phương pháp đàm thoại, vấn đáp gợi mở, thuyết
trình của giáo viên và học sinh hoàn thiện dần SĐTD. Cuối cùng khi sơ đồ
hoàn thiện chính là nội dung bài học mà học sinh cần phải nắm được .
Ví dụ: Khi dạy bài “Hình chiếu” theo các bước như sau:
+ Bước 1: Giáo viên đặt vấn đề vào bài và vẽ (hoặc trình chiếu) chủ đề
trung tâm của bài học “ Hình chiều”
+ Bước 2: Giáo viên đặt câu hỏi để học sinh tự tìm hiểu những nội dung
chính của bài ( nhánh cấp 1)
xoay, …
Bản vẽ các khối đa diện
8
Bản vẽ các khối tròn xoay
b- Phối hợp hoạt động nhóm, thảo luận, báo cáo của cá nhân trong dạy,
học môn công nghệ 8
Sau khi các em đã hình thành được khả năng tự vẽ sơ đồ tư duy chúng ta
sẽ sử dụng sơ đồ tư duy để tìm chiến lược giải quyết một vấn đề bằng phương
pháp hoạt động nhóm theo các bước tiến hành như sau:
+ Đánh giá tình tình cụ thể của đối tượng dạy để phân nhóm
Trước tiên cần kiểm tra học lực và kết quả môn Công nghệ của học sinh
thông qua bảng điểm của những năm học trước, tiếp theo giáo viên đưa ra
những câu hỏi có cấp độ khó nâng cao dần để chọn lọc và đánh giá đúng thực
chất của học sinh.
Sau đó giáo viên tiến hành phân nhóm để các em hoạt động cố định trong
các tiết học. Thông thường với sĩ số học sinh trung bình của trường tôi là 25
học sinh/lớp, tôi chia mỗi lớp thành 5 nhóm, trong đó có cả học sinh giỏi, khá,
trung bình và yếu xen lẫn nhau. Kết quả hoạt động của mỗi thành viên chính
là kết quả hoạt động chung của cả nhóm. Trong đó thành viên nào của nhóm
sẽ báo cáo không được biết trước để tránh trường hợp ỷ lại.
Việc chia nhóm ngay từ những ngày đầu rất quan trọng vì nó sẽ ảnh
hưởng tới kết quả hoạt động và điểm số của các em sau này.
+ Tiến trình phối hợp hoạt động nhóm, thảo luận, báo cáo của cá
nhân trong việc sử dụng sơ đồ tư duy
*Chuẩn bị của giáo viên và học sinh:
Đối với giáo viên: soạn bài và thiết kế bài học theo SĐTD. Dựa vào nội
dung bài mới để đưa ra hệ thống câu hỏi. Phần câu hỏi này có thể được ghi
chức và thiết kế bài học cần có năng khiếu và thời gian làm quen làm. Qua
hoạt động kiểm tra bài soạn ở nhà giáo viên sẽ khởi động tiết học, gây hứng
thú cho học sinh ngay khi mới vào giờ học.
10
Bài chuẩn bị tốt
Bước 2: Hoạt động nhóm.
Bài chuẩn bị chưa tốt
Kết thúc phần kiểm tra việc chuẩn bị bài ở nhà của học sinh, giáo viên
yêu cầu học sinh cả lớp nhìn bao quát bài mới và đọc rõ tiêu đề bài học, dẫn
dắt học sinh vào bài mới.
Giáo viên đưa ra hệ thống câu hỏi liên quan tới nội dung bài học, khi trả
lời các câu hỏi này, học sinh sẽ nắm được nội dung bài mới. Các câu hỏi này
có thể được chuẩn bị trước bằng bảng phụ hay giáo viên sẽ viết lên bảng trong
khi học sinh hoạt động nhóm.
Học sinh cùng thảo luận với nhau theo nhóm đã chia trước (hai dãy dọc
mỗi dãy 2 nhóm và dãy ngang 1 nhóm), các em sẽ đưa SĐTD đã thiết kế ở nhà,
đối chiếu với bài của các bạn khác trong nhóm, kiểm tra lại các mục và nội
dung chính, bổ sung các thông tin còn thiếu trong bài của mình, trả lời các câu
hỏi trong sách giáo khoa và giải thích hình vẽ hay sơ đồ trong bài học. Trong
quá trình chuẩn bị SĐTD ở nhà các em có thể vẽ vào giấy A4 hay vở học, có
chừa ra những khoảng trống để bổ sung thêm khi giáo viên giảng bài, toàn bộ
SĐTD sau giờ học sẽ được lưu giữ lại như vở ghi chép của các em.
Trong khi học sinh hoạt động nhóm, giáo viên hỗ trợ các em khi gặp các
câu hỏi khó, sau đó giáo viên vẽ phần trung tâm với tiêu đề bài mới để trong
hoạt động tiếp theo các em sẽ tiếp tục thiết kế SĐTD.
điểm miệng sẽ được gọi lên bảng.
Học sinh được chỉ định báo cáo sẽ lên đứng trên bục giảng giữa lớp học,
nói to, rõ, giới thiệu họ tên của mình, nhóm hoạt động và nội dung cần báo
cáo, giải thích hình vẽ trong mục nếu có. Giáo viên và cả lớp sẽ theo dõi bài
báo cáo này.
12
Học sinh đang hoàn thành sơ đồ và báo cáo
Bước 4: Giáo viên hướng dẫn thảo luận chung.
Kết thúc phần báo cáo của học sinh, giáo viên sẽ điều khiển hoạt động
của cả lớp với tư cách người dẫn chương trình. Trước tiên giáo viên nhận xét
về học sinh lên báo cáo bao gồm nội dung kiến thức và hình thức báo cáo
được chưa, tiếp theo là nhận xét về các ý kiến đóng góp, có ý kiến đúng có ý
kiến chưa hợp lý, giáo viên cần phân tích để cả lớp thấy được mặt ưu điểm và
mặt tồn tại của cả người lên báo cáo và người đưa ra ý kiến đóng góp. Cuối
cùng giáo viên sẽ giải thích lại và bổ sung kiến thức cần mở rộng trong nội
dung mục này.
Kết thúc phần này giáo viên sẽ kiểm tra luôn phần thiết kế của mục tương
ứng với mục vừa báo cáo trên bảng. Giáo viên cần căn thời gian làm sao để
khi học sinh thứ nhất báo cáo xong thì các em thiết kế trên bảng cũng đã hoàn
thành nhiệm vụ của mình và về chỗ để cùng hoạt động chung với cả lớp. Giáo
viên nhận xét phần nhánh thiết kế và bổ xung thêm kiến thức nếu cần, sử
dụng đồ dùng dạy học để minh họa cho nội dung của mục. Sau đó yêu cầu
học sinh kiểm tra lại bài thiết kế ở nhà của mình, bổ sung kiến thức nếu các
em còn thiếu. Cứ như thế, giáo viên tiếp tục chỉ định học sinh khác lên báo
cáo, các em khác đưa ra ý kiến nhận xét, giáo viên nhận xét và hoàn chỉnh
kiến thúc và SĐTD của từng nhóm trên bảng.
Thời lượng tiến hành hoạt động này chiếm gần 2/3 hoạt động của tiết học.
“ Bản vẽ các khối hình học” như đã trình bày ở giải pháp (a) thì lúc này giáo
viên yêu cầu học sinh sắp xếp lại tập bản đồ đã vẽ của từng bài học và xem
lại là các em đã nhanh chóng ôn lại kiến thức một cách dễ dàng, và mất rất ít
thời gian (vì chương này sau khi học xong không có tiết ôn tập chương)
Đối với các chương không sử dụng sơ đồ tư duy ở các bài thì trước tiên
giáo viên nên định hướng cho học sinh lập bản đồ tư duy bằng việc trả lời các
câu hỏi để: Xác định chủ đề trung tâm (đặt trên mặt giấy nằm ngang), tiếp
theo là các tiêu đề phụ, trong từng tiêu đề phụ vẽ thêm các ý chính và các chi
tiết hỗ trợ (ở bước này giáo viên cần lưu ý cho HS có thể thêm nhiều hình ảnh
nhằm giúp các ý quan trọng thêm nổi bật, cũng như giúp lưu chúng vào trí
nhớ của các em tốt hơn)
Ví dụ: Tiết 34 ôn tập phần II “ Cơ Khí”
Trước hết giáo viên yêu cầu học sinh trả lời một số câu hỏi như sau:
Chủ đề trọng tâm của chương II là gì?
Ở chương này có mấy tiêu đề phụ?
Các tiêu đề phụ gồm những nội dung nào?
Từ đó HS vẽ sơ đồ tư duy để hệ thống hóa những kiến thức đã học của
phần II: Cơ khí.
Kết quả đạt được như sau:
14
Bước 2: HS trình bày.
Sau khi các nhóm đã hoàn thành sơ đồ tư duy của mình. Giáo viên cho
HS trình bày kết quả của mình trước lớp theo hình thức báo cáo như đã trình
bày ở giải pháp (3.1b). Các nhóm khác lắng nghe, đối chiếu với kết quả nhóm
mình.
Bước 3: Chỉnh sửa, bổ sung và hoàn thiện.
Ở bước này giáo viên yêu cầu các nhóm chuyển kết quả cho nhau theo
bảng phụ (nếu bài dạy không sử dụng CNTT), hoặc bằng cách trình chiếu.
Sơ đồ chưa hoàn thành bài Thiết bị đóng-cắt và lấy điện của mạng điện trong nhà
Giáo viên chia lớp thành 3 đội ( 3 dãy) trong đó 2 đội chơi và một đội
làm giám khảo. Yêu cầu mỗi đội chơi hoàn thành một nội dung của bài theo
sơ đồ tư duy. Đội giám khảo sẽ có nhiệm vụ nghiên cứu nội dung bài học,
nhận xét kết quả của 2 đội chơi theo tiêu chí giáo viên đã đưa ra.
+ Những bài có nội dung kiến thức ngắn chúng ta nên cho học sinh làm
việc theo nhóm và hoàn chỉnh nội dung toàn bộ bài bằng một sơ đồ tư duy.
Ví dụ ở những tiết học chúng ta sử dụng các phương pháp khác như bài “
Đặc điểm và cấu tạo của mạng điện trong nhà” để kiểm tra việc tiếp thu kiến
thức của HS giáo viên đặt câu hỏi để củng cố bài như sau: Em hãy nêu những
đặc điểm và cấu tạo của mạng điện trong nhà bằng một sơ đồ tư duy? GV sẽ
dành thời gian cho HS thảo luận nhóm trong 5 phút vào khổ giấy A 3 và sau đó
cho học sinh nhận xét chéo kết quả.
- Kiểm tra 15 phút
Sử dụng sơ đồ tư duy để kiểm tra 15 phút sẽ giúp GV dễ ra đề- dễ đánh
giá năng lực sáng tạo của HS và GV dễ chấm bài hơn. Thông thường việc
kiểm tra 15 phút sẽ được đưa ra bằng một vài câu hỏi tự luận như vậy sẽ
không đánh giá được học sinh có ghi nhớ được các nội dung của bài hay
không và cũng không thể phát huy được tính sáng tạo của học sinh, thay vào
đó chúng ta nên sử dụng sơ đồ tư duy để kiểm tra được sự phản hồi của học
sinh.
16
Ví dụ sau khi học xong tiết 41 Chúng ta tiến hành kiểm tra 15 phút để
xác định được mức độ đạt được về nội dung sau khi kết thúc của chương đồ
mình và được giáo viên cùng các bạn ghi nhận. Điều này đã khuyến khích
học sinh say mê môn học này hơn.
+ Đối với giáo viên: Với cách dạy này GV đóng vài trò người hướng dẫn,
chỉ đạo và kiểm tra, hoàn toàn không phải giảng giải quá nhiều, mất thời gian
và gây nhàm chán. Trong việc kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh
cũng đơn giản hơn rất nhiều.
+ Ảnh hưởng của sáng kiến kinh nghiệm đến phong trào giáo dục trong
nhà trường: Học sinh trường THCS Nga Trường đa số là con em nông thôn
nên áp dụng phương pháp dạy – học nêu trên giúp các em tiếp cận một cách
dễ dàng với phương pháp dạy học mới như lấy học sinh làm trung tâm, phát
huy được tính tích cực học tập của học sinh. Các em không chỉ áp dụng cách
học này đối với môn môn Công nghệ, mà còn áp dụng tốt trong quá trình học
các môn học khác như: Toán, Lý, Sinh, Địa, Giáo dục công dân, Văn, tiếng
Anh…
Tuy nhiên việc chỉ sử dụng mỗi SĐTD vào dạy học môn Công nghệ sẽ
gặp một số hạn chế nhất định vì không phải bất cứ tiết học nào cũng có thể áp
dụng SĐTD để dạy và học một cách thành công, chúng ta cần biết cách lồng
ghép kết hợp với các phương pháp khác như thảo luận nhóm, ứng dụng công
nghệ thông tin, trò chơi… để các tiết học thêm phần sinh động và đạt được
hiệu quả tốt nhất.
+ Kết quả thu được qua khảo nghiệm:
Sau gần 2 năm đưa vào áp dụng phương pháp này tại khối 8 trường
THCS Nga Trường tôi đã thu được một số kết quả nhất định đặc biệt năm học
2015-2016 tôi đã thu được kết quả rất khả quan như sau:
Ví dụ: Sau khi học xong bài “ Bản vẽ chi tiết” môn Công nghệ 8 trong
năm học 2015-2016 tôi cũng đặt ra câu hỏi củng cố bài:
Em hãy cho biết nội dung của bản vẽ chi tiết? Trình tự đọc bản vẽ chi
tiết?
Kết quả đạt được như sau:
Trả lời được Trả lời được
64
9
36
0
0
30
60
20
40
0
0
Ngoài ra kết quả kiểm tra giữa học kì II của bộ môn Công nghệ ở các lớp
khối 8 đều rất cao:
Kết quả kiểm tra giữa học kì II năm học 2015-2016 như sau:
Giỏi
Khá
Trung bình
Yếu, kém
Lớp
1
4
8B
11
44
8
32
5
20
1
4
Từ kết quả nói trên, tôi đã góp phần nâng cao chất lượng giáo dục và đào
tạo của trường, góp phần đưa chất lượng đại trà, và tỷ lệ học sinh khá giỏi của
trường luôn đứng thứ hạng cao của huyện Nga Sơn.
3 . Kết luận, kiến nghị
- Kết luận
Bằng việc sử dụng SĐTD vào dạy học phối hợp với các phương pháp dạy học
khác trong tổ chức dạy học môn Công nghệ nói chung và môn Công nghệ 8 nói
riêng, cho thấy SĐTD thật sự là một công cụ hữu ích trong giảng dạy và học
này có hiệu quả ứng dụng cao, cần phổ biến để đồng nghiệp góp ý và hoàn
thiện hơn trước khi áp dụng rộng rãi./.
Tôi xin trân trọng cảm ơn!
XÁC NHẬN CỦA THỦ TRƯỞNG
ĐƠN VỊ
Nga Trường, ngày 13 tháng 4 năm 2016
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của
mình viết, không sao chép nội dung
của người khác.
Phạm Thị Hoa
20
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Dạy tốt – học tốt các môn học bằng bản đồ tư duy, Trần Đình Châu
– Đặng Thị Thu Thủy, NXB Giáo dục Việt Nam, 2011.
2. Bản đồ tư duy trong công việc, Tony Buzan, NXB Lao động- Xã hội.
3. Hướng dẫn thiết kế, sử dụng bản đồ tư duy đổi mới phương pháp dạy
học và hỗ trợ công tác quản lý nhà trường của Thạc sĩ Trần Đình Châu
4. http://www.mind-map.com (trang web chính thức của Tyno Buzan)
5. www.google.com.vn
21