Phát triển nông nghiệp theo hướng bền vững ở tỉnh nam định - Pdf 49

HC VIN CHNH TR QUC GIA H CH MINH

NGUYN TH MIN

PHáT TRIểN NÔNG NGHIệP THEO HƯớNG BềN VữNG
ở TỉNH NAM ĐịNH

LUN N TIN S
CHUYấN NGNH : KINH T PHT TRIN Mó s:
62.31.01.05

Ngi hng dn khoa hc: PGS. TS. NGUYN TH THM

H NI - 2017


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của
riêng tôi. Các số liệu, kết quả nêu trong luận án là trung thực,
có nguồn gốc rõ ràng và được trích dẫn đầy đủ theo quy định.

Tác giả


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU......................................................................................................................1
Chƣơng 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN
ĐỀ TÀI LUẬN ÁN.....................................................................................6
1.1. Những công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến đề tài
luận án..................................................................................................................6
1.2. Đánh giá chung về những công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài


DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
ATVSTP

: An toàn vệ sinh thực phẩm

BĐKH

: Biến đổi khí hậu BVMT

: Bảo vệ môi trường BVTV
vệ thực vật CCKT
tế CĐLK

: Bảo

: Cơ cấu kinh

: Cánh đồng liên kết

CĐML

: Cánh đồng mẫu lớn

CMKT

: Chuyên môn kỹ thuật CNCB

Công nghiệp chế biến CNH,HĐH
hóa, hiện đại hóa ĐBSH


: Khoa học và công nghệ

KHCN

: Khoa học công nghệ KHKT

: Khoa học kỹ thuật
NN&PTNT : Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
NSLĐ

: Năng suất lao động NTM

: Nông thôn mới NTTS

: Nuôi

trồng thủy sản ONMT

: Ô nhiễm

môi trường PTBV

: Phát triển

bền vững
PTNN

: Phát triển nông nghiệp


Bảng 3.6: Tốc độ tăng lượng thuốc BVTV sử dụng qua các vụ (2013-2014) ..........89
Bảng 3.7: Tổng hợp đánh giá PTNN theo hướng bền vững ở tỉnh Nam Định
giai đoạn 2006-2016.................................................................................98
Bảng 3.8: Trình độ CMKT của lao động nông, lâm nghiệp và thủy sản Nam
Định trong độ tuổi lao động ...................................................................104


101

Biểu đồ 3.1: Tốc độ tăng trưởng nông nghiệp Nam Định theo giá so sánh
2010 giai đoạn 2006-2016 .................................................................68
Biểu đồ 3.2: Động thái tăng trưởng nông nghiệp Nam Định, Thái Bình và cả
nước theo giá so sánh 2010 giai đoạn 2006-2016 ..............................69
Biểu đồ 3.3: Năng suất lao động nông nghiệp Nam Định và cả nước theo giá
hiện hành giai đoạn 2006-2016 ..........................................................70
Biểu đồ 3.4: Hiệu quả đầu tư nông nghiệp Nam Định và cả nước theo giá
hiện hành giai đoạn 2007 - 2016 ........................................................71
Biểu đồ 3.5: Tỷ lệ VAnn/GOnn Nam Định, Thái Bình và cả nước theo giá so
sánh năm 2010 giai đoạn 2006-2016 ..................................................72
Biểu đồ 3.6: Tỷ trọng thủy sản trong GTSX ngành nông nghiệp tỉnh Nam
Định theo giá hiện hành giai đoạn 2006-2016....................................73
Biểu đồ 3.7: Chuyển dịch cơ cấu sản phẩm ngành nông nghiệp thuần Nam
Định theo giá hiện hành giai đoạn 2006-2016....................................74
Biều đồ 3.8: Cơ cấu GTSX (%) ngành chăn nuôi Nam Định giai đoạn 2006-2016 .......76
Biểu đồ 3.9: Chuyển dịch cơ cấu GTSX ngành thủy sản Nam Định giai đoạn
2006-2016 ...........................................................................................77
Biểu đồ 3.10: TNBQ/người/năm của nhân khẩu nông nghiệp Nam Định theo
giá hiện hành giai đoạn 2006-2016.....................................................83
Biểu đồ 3.11: TNBQ/người/năm theo giá hiện hành giữa nông nghiệp, phi
nông nghiệp và thành thị Nam Định giai đoạn 2006-2016 ................85

ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của người SXNN. Nhằm khắc phục tình trạng này, trong
những năm gần đây Đảng và Nhà nước đã nhấn mạnh mục tiêu phát triển ngành nông
nghiệp theo hướng bền vững.
Nam Định là tỉnh ven biển nằm ở phía Nam đồng bằng sông Hồng (ĐBSH), có
nhiều tiềm năng để phát triển SXNN toàn diện cả trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng
thủy sản (NTTS) và trồng rừng ngập mặn. Mặc dù là địa phương có công


8
nghiệp, làng nghề tương đối phát triển, song đến nay nông nghiệp vẫn là ngành sản xuất
quan trọng, đóng góp lớn vào kết quả phát triển kinh tế - xã hội của Tỉnh. Năm
2016, ngành nông nghiệp Nam Định tạo việc làm cho gần 60% lao động xã hội và cung cấp
sinh kế cho khoảng 80% dân số, đóng góp 22,99% vào giá trị gia tăng của Tỉnh [25, tr.47].
Tuy nhiên, ngành nông nghiệp Nam Định vẫn còn nhiều hạn chế, yếu kém như chất lượng
tăng trưởng nông nghiệp thấp; chuyển dịch cơ cấu ngành nông nghiệp diễn ra một cách
chậm chạp; thu nhập và đời sống của người SXNN thấp, tình trạng ONMT gia tăng. Đặc
biệt, SXNN của tỉnh đang chịu tác động của BĐKH ngày càng gia tăng. Hàng năm, Nam
Định phải hứng chịu từ 2 đến 4 cơn bão với cường độ lớn, bất thường, khó dự đoán; tình
trạng sâu bệnh, ngập úng, khô hạn làm thoái hóa đất nông nghiệp ngày càng gia tăng, xâm
nhập mặn ngày càng lấn sâu nội đồng, đa dạng sinh thái ngày càng suy giảm nên SXNN của
Tỉnh không hiệu quả, kém bền vững, chưa đảm bảo cuộc sống cho nông dân. Những bất
cập đó khiến cho một bộ phận nông dân không thiết tha với đồng ruộng, tình trạng ruộng
đất bị bỏ hoang ngày càng tăng và đến vụ xuân năm 2016 có 83 xã, thị trấn với 950 ha tập
trung ở các huyện Ý Yên, Trực Ninh, Nam Trực, Mỹ Lộc [3]. Vì vậy, cần phải tìm ra cách
thức sản xuất mới để ngành nông nghiệp của Tỉnh khai thác được tiềm năng, lợi thế phát
triển hiệu quả và bền vững.
Nhận thức được tình hình trên, Nam Định đã ban hành chính sách khuyến khích
doanh nghiệp (DN) đầu tư vào nông nghiệp; hỗ trợ tổn thất trong sản xuất nông, thủy sản;
khuyến khích ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ (KHCN) vào SXNN; thực hiện tái cơ
cấu ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững

gồm nông, lâm, thủy sản, không nghiên cứu diêm nghiệp do Nam Định chưa có số liệu
thống kê về nghề muối. PTNN theo hướng bền vững được tiếp cận dưới góc độ kinh tế
phát triển, tức là xem xét, phân tích, đánh giá thực trạng phát triển của ngành nông
nghiệp tỉnh Nam Định trên ba trụ cột: bền vững về kinh tế, tức là tăng trưởng nông nghiệp
ổn định trong thời gian dài và sử dụng hiệu quả các nguồn lực; bền vững về xã hội được
xem xét trên giác độ tăng trưởng nông nghiệp gắn với giải quyết các vấn đề xã hội nảy
sinh trong SXNN như: việc làm, xóa đói giảm nghèo, thu nhập và nâng cao chất lượng
cuộc sống người SXNN; bền vững về môi trường được xem xét tăng trưởng nông nghiệp
gắn với sử dụng hiệu quả tài nguyên, BVMT và ứng phó BĐKH.


- Về không gian: Đề tài luận án nghiên cứu PTNN theo hướng bền vững trên địa
bàn tỉnh Nam Định.
- Về thời gian: Đề tài luận án nghiên cứu thực trạng PTNN theo hướng bền vững
trên địa bàn tỉnh Nam Định giai đoạn 2006 - 2016, đề xuất giải pháp phát triển ngành nông
nghiệp theo hướng bền vững của tỉnh đến năm 2030.
4. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu
4.1. Cơ sở lý luận
Luận án được tiến hành dựa trên cơ sở lý luận về PTBV đã được Hội nghị thượng
đỉnh Trái đất về Môi trường và Phát triển tổ chức ở Rio de Janeiro (Brazin) năm 1992 và
Hội nghị thượng đỉnh thế giới về PTBV tổ chức ở Johannesburg (Cộng hòa Nam Phi) năm
2002 đã xác định: PTBV là quá trình phát triển có sự kết hợp chặt chẽ, hợp lý và hài hòa
giữa ba mặt phát triển kinh tế, xã hội và môi trường. Dựa trên cơ sở đó, luận án nghiên
cứu PTNN theo hướng bền vững dưới ba góc độ kinh tế, xã hội và môi trường. Ngoài ra,
luận án dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác
- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật
của Nhà nước Việt Nam về PTBV nói chung, PTNN theo hướng bền vững nói riêng; chủ
trương phát triển kinh tế - xã hội, PTNN của tỉnh Nam Định. Đồng thời, luận án kế thừa
những lý thuyết kinh tế hiện đại như PTNN trong điều kiện BĐKH, hội nhập quốc tế, chuỗi
giá trị và giá trị gia tăng, quan hệ giữa nông nghiệp với công nghiệp và dịch vụ v.v..

tỉnh Nam Định giai đoạn 2006 – 2016, chỉ ra những thành tựu, hạn chế và nguyên nhân
của hạn chế đó;
- Đưa ra quan điểm và đề xuất có căn cứ khoa học các định hướng, giải pháp nhằm
PTNN theo hướng bền vững ở tỉnh Nam Định đến năm 2030.
6. Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung của luận
án gồm 4 chương và 11 tiết.


Chƣơng 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
LUẬN ÁN
Cho đến nay, đã có một số công trình nghiên cứu trong và ngoài nước được công
bố liên quan đến chủ đề nghiên cứu của luận án. Các công trình đã đạt được những kết
quả nhất định, là cơ sở để định hướng cho nghiên cứu tiếp theo của luận án.
1.1. NHỮNG CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU TRONG VÀ NGOÀI NƢỚC LIÊN QUAN ĐẾN
ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
1.1.1. Những công trình nghiên cứu lý luận về phát triển nông nghiệp theo hƣớng
bền vững
1.1.1.1. Các công trình nghiên cứu về khái niệm, nội dung và chỉ têu đánh giá
phát triển nông nghiệp theo hướng bền vững
Tùy từng giai đoạn phát triển, tùy từng góc độ tiếp cận, các nhà nghiên cứu
có quan niệm khác nhau về PTNN theo hướng bền vững, theo đó, khái niệm PTNN theo
hướng bền vững cũng có nội dung và chỉ tiêu đánh giá khác nhau. Có thể kể đến một số
công trình tiêu biểu sau:
Những năm 90 của thế kỷ XX, SXNN ở các quốc gia đang phát triển tiêu tốn nhiều
nguồn lực (đất đai, nguồn nước, lao động), gây ONMT song năng suất thấp, chưa đảm
bảo cuộc sống của dân cư nông nghiệp. Trước vấn đề đặt ra của PTNN thời kì đó, các công
trình nghiên cứu về PTNN đã hướng vào vấn đề BVMT đất, nước và khởi xướng PTNN theo
hướng bền vững. Mục đích của PTNN theo hướng bền vững là nhằm kết hợp hài hòa giữa

tr.32]. Quan niệm này có tính tổng hợp và khái quát cao: phát triển nông nghiệp theo
hướng bền vững nghĩa là nền nông nghiệp không chỉ cho phép các thế hệ hiện nay khai
thác TNTN vì lợi ích của họ mà còn duy trì được khả năng ấy cho thế hệ mai sau.
Tác giả Nguyễn Văn Mẫn và Trịnh Văn Thịnh (2002) trong công trình “Nông nghiệp
bền vững cơ sở và ứng dụng” [68, tr.8] đã chỉ ra: “Nông nghiệp bền vững
không chỉ bảo vệ những hệ sinh thái đã có trong tự nhiên mà còn tìm cách khôi phục
những hệ sinh thái đã bị suy thoái”. Quan niệm này chỉ ra, PTNN theo hướng bền vững,
ngoài việc bảo vệ hệ sinh thái hiện có còn phải phục hồi, tái tạo những hệ sinh thái trong
tự nhiên đã bị suy thoái.


Tác giả Vũ Đình Thắng và cộng sự (2006) trong “Giáo trình Kinh tế nông nghiệp”
cho rằng, phát triển nông nghiệp theo hướng bền vững là khả năng duy trì hay tăng thêm
năng suất và sản lượng nông sản trong một thời gian dài mà không ảnh hưởng xấu đến
điều kiện sinh thái. Đồng thời, các tác giả cũng cho rằng, nông nghiệp bền vững chỉ có ý
nghĩa tương đối, con người cần phải điều chỉnh để lập nên một thế bền vững mới [93,
tr.32].
Ngoài ra, các công trình nghiên cứu của một số tổ chức và cá nhân trong các hội
nghị, hội thảo cũng đưa ra quan niệm về PTNN theo hướng bền vững, như: “Phát triển
nông nghiệp theo hướng bền vững phải bao hàm quản lý thành công TNTN nhằm thỏa
mãn nhu cầu của con người đồng thời cải tiến chất lượng môi trường và gìn giữ được
TNTN” [70, tr.12]; hoặc: sản xuất nông nghiệp bền vững là chúng ta cần chọn một biện
pháp sản xuất để cây trồng, vật nuôi của chúng ta tiếp tục cho mỗi năm một lãi, chất
lượng nguồn nước và đất đai hàng năm vẫn được duy trì tốt để thế hệ con cháu chúng ta
tiếp tục được hưởng cái lợi từ đất và môi trường nước v.v... [55]. Quan niệm về SXNN theo
hướng bền vững như trên cũng đã đề cập đến vấn đề kinh tế, môi trường và xã hội trong
quá trình phát triển.
Như vậy có thể thấy, trong từng giai đoạn, trước yêu cầu thực tiễn phát triển của
ngành nông nghiệp đặt ra, quan niệm về PTNN theo hướng bền vững có sự khác nhau
nhất định, song về cơ bản đã nhấn mạnh đến giải quyết hợp lý, chặt chẽ, hài hòa mối

nghiệp và từng ngành riêng biệt; (iv) Tốc độ tăng của SXNN nói chung, của từng ngành
riêng biệt, hoặc của từng sản phẩm cụ thể; (v) Giá trị sản xuất tnh trên 1 ha đất nông
nghiệp; (vi) Giá trị sản xuất do 1 lao động tạo ra; (vi) Cơ cấu giữa các ngành của SXNN. Các
chỉ tiêu phản ánh cấu trúc và hiệu quả tăng trưởng của ngành nông nghiệp chưa được bàn
đến. Còn bền vững về xã hội đó là nâng cao thu nhập cho người dân và đảm bảo tính công
bằng trong việc hưởng thụ các thành quả do phát triển mang lại. Tiêu chí đánh giá, gồm có:
(i) Thu nhập bình quân một nhân khẩu/tháng; (ii) Tỷ lệ người nghèo; (iii) Trình độ dân trí
của nông dân; (iv) kết cấu hạ tầng (KCHT) kinh tế - xã hội trên địa bàn. Bền vững về môi
trường là bảo vệ và không ngừng nâng cao độ phì của đất, bảo vệ và nâng cao chất lượng
nguồn nước và bảo vệ rừng. Tiêu chí phản ánh, gồm có: (i) Diện tch đất bị hoang hóa; (ii)
Diện tích đất không được tưới tiêu hợp lý; (iii) Lượng phân hóa học, lượng thuốc trừ sâu,
thuốc BVTV và các loại hóa chất sử dụng trong nông nghiệp; (iv) Tỷ lệ đất được bảo vệ, duy
trì đa dạng sinh học; (v) Diện tích rừng và tỷ lệ che phủ rừng; (vi) Số vụ và diện tích rừng bị
cháy,


bị chặt phá. Nhìn chung, mặc dù chưa đầy đủ, song nghiên cứu đã đưa ra hệ thống chỉ tiêu
đánh giá PTNN theo hướng bền vững tương đối khá toàn diện.
Phí Văn Hạnh (2016) trong “Phát triển nông nghiệp theo hướng bền vững ở vùng
ĐBSH” [37] đưa ra 4 nội dung, gồm có: (1) Chuyển dịch kinh tế (CCKT) nông nghiệp theo
hướng bền vững; (2) Nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả SXNN theo hướng bền
vững; (3) Tăng trưởng nông nghiệp toàn diện gắn với đảm bảo công bằng xã hội, xóa đói
giảm nghèo nâng cao đời sống nhân dân; (4) Tăng trưởng nông nghiệp gắn với bảo vệ môi
trường (BVMT) bền vững. Từ 4 nội dung trên, tác giả đã đưa ra 4 nhóm tiêu chí đánh giá
PTNN theo hướng bền vững. Tuy nhiên, dưới góc độ kinh tế chính trị, các chỉ tiêu mới
được xem xét dưới góc độ định tính. Cụ thể, về chuyển dịch CCKT nông nghiệp theo hướng
bền vững, tác giả đưa ra các tiêu chí phản ánh CCKT nông nghiệp trong nội bộ ngành (tnh
hợp lý trong chuyển dịch cơ cấu toàn ngành nông nghiệp dưới sự tác động của phát triển
lực lượng sản xuất; tính hợp lý và hiệu quả trong chuyển dịch của các phân ngành trồng
trọt, chăn nuôi; phân ngành khai thác, trồng, chăm sóc và bảo vệ rừng; phân ngành khai

gián tiếp thông qua đất đai, cây trồng, vật nuôi hay phương tiện kỹ thuật… Sự gia tăng vốn
đầu tư PTNN làm tăng năng lực sản xuất, thúc đẩy gia tăng năng suất, sản lượng và nâng
cao chất lượng nông sản phẩm hàng hóa. Bởi vì, vốn là tiền để phát triển kết cấu hạ tầng
(KCHT), ứng dụng tiến bộ kỹ thuật, phát triển các ngành công nghiệp, dịch vụ phục vụ
SXNN, chuyển dịch CCKT và nâng cao chất lượng lao động nông nghiệp.
Nguyễn Thị Tố Quyên (2012) trong “Nông nghiệp, nông dân, nông thôn trong
mô hình tăng trưởng kinh tế mới” [80] cho rằng, các nguồn lực đầu vào, như: vốn, đất đai,
chất lượng lao động, KCHT có ảnh hưởng đến PTNN theo hướng bền vững vì đây là điều
kiện để phát triển SXNN.
Đào Duy Khuê (2012) trong “ Khoa học và công nghệ thúc đẩy sản xuất nông
nghiệp hàng hóa - giảm nghèo nhanh cho nông dân” [59] đã chỉ ra, KHCN phát triển và
được ứng dụng mạnh mẽ vào lĩnh vực nông nghiệp đã tạo ra sản phẩm hàng hóa có giá trị
cao và đây là cơ sở hàng đầu để PTNN theo hướng bền vững.
Vũ Trọng Bình (2013) trong “Phát triển nông nghiệp bền vững: Lý luận và thực
tiễn” [8] chỉ ra có sáu yếu tố chính ảnh hưởng tới PTNN theo hướng bền vững, đó là: (i)
Hội nhập quốc tế; (ii) Phát triển công nghiệp, đô thị; (iii) Quy hoạch không gian giữa công
nghiệp, dịch vụ và nông nghiệp; (iv) Quá trình hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn; (v)
Vai trò của nông dân; (vi) Chính sách PTNN. Qua phân


tch, luận giải của tác giả cho thấy sáu yếu tố trên có ảnh hưởng rất lớn đến PTNN
theo hướng bền vững trong điều kiện hiện nay.
Trong điều kiện hội nhập và BĐKH đang trực tiếp tác động đến ngành nông nghiệp,
các công trình gần đây đã tập trung nghiên cứu chỉ ra ảnh hưởng to lớn của hội nhập quốc
tế và BĐKH đến ngành nông nghiệp.
Về ảnh hưởng của hội nhập đến ngành nông nghiệp, tác giả Nguyễn Từ và các
cộng sự (2010) trong công trình nghiên cứu “Tác động của hội nhập kinh tế quốc tế
đối với phát triển nông nghiệp Việt Nam” [110] cho rằng, ảnh hưởng của hội nhập kinh tế
quốc tế đến ngành nông nghiệp Việt Nam có cả hai mặt: tch cực và tiêu cực. Do đó, cần
phải biết tận dụng ảnh hưởng tch cực, hạn chế ảnh hưởng tiêu cực để nông nghiệp phát

rằng, BĐKH đã tác động đến các lĩnh vực của ngành nông nghiệp, như: nông nghiệp, lâm
nghiệp, thủy sản; tài nguyên nước và thủy lợi,…; Ngoài ra, một số công trình nghiên cứu
khác chỉ ra, BĐKH đã tác động đến SXNN, như: (1) Làm giảm các đầu vào cơ bản của SXNN
và ảnh hưởng trực tiếp đến sản lượng của các ngành này; (2) Làm thay đổi quy trình sinh
trưởng và mùa vụ, giảm năng suất và hiệu quả của SXNN; (3) Biến đổi khí hậu đã và đang
đe dọa nghiêm trọng đến cơ sở hạ tầng nông nghiệp làm tăng mức độ rủi ro và tổn thất
cho các ngành sản xuất; (4) Biến đổi khí hậu ảnh hưởng đến các ngành nông nghiệp chủ
lực và gây ra tổn thất lớn cho nền kinh tế. Điển hình cho các công trình này có thể kể đến
nghiên của Mai Hạnh Nguyên (2010) [73]; Tô Văn Trường (2011) [107]; Bùi Thị Kim Dung
(2012) [31]; DARA International (2013) [131].
1.1.1.3. Các công trình nghiên cứu về vai trò của nông nghiệp trong phát triển
bền vững
Nông nghiệp là ngành kinh tế quan trọng không chỉ của Việt Nam mà còn
của nhiều nước trên thế giới. Trong điều kiện đẩy nhanh CNH,HĐH, phát triển kinh tế thị
trường, hội nhập và BĐKH, vai trò của nông nghiệp không hề bị mất đi mà ngược lại càng
được coi trọng. Điều này đã được các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước đề cập
đến. Có thể kể ra một số công trình nghiên cứu tiêu biểu sau:
FAO (1990) trong “World Food Dry”[134] chỉ ra rằng, PTNN là điều kiện, phương
tiện để nền kinh tế đạt được sự bền vững. Điều này được thể hiện: (i) Trong các chu kỳ
khủng hoảng kinh tế, tài chính, nông nghiệp ít bị tác động nên nông nghiệp tăng trưởng
cao sẽ giúp nền kinh tế vượt qua khủng hoảng dễ dàng và tạo điều kiện phục hồi kinh tế
nhanh hơn; (ii) Tăng trưởng nông nghiệp cao giúp giảm nghèo nhanh chóng ở nông thôn
và cả thành thị. Tăng trưởng nông nghiệp làm tăng


sản lượng lương thực và tăng thu nhập của người dân ở nông thôn nên sự đói nghèo sẽ
giảm theo. Tăng trưởng trong nông nghiệp làm giảm giá lương thực, thực phẩm ở khu vực
thành thị nên người lao động thành thị sẽ có cơ hội thoát đói, nghèo. Điều này có thể tác
động trên phạm vi toàn cầu khi sản lượng lương thực thế giới tăng, giá nông sản toàn
cầu sẽ giảm theo. Do vậy, PTNN giúp ổn định về mặt xã hội khi đời sống của con người

đói giảm nghèo ở tất cả các loại hình quốc gia… (3) Nông nghiệp là nơi cung cấp các dịch
vụ môi trường. Trong khi sử dụng (và thường sử dụng chưa hợp lý) các nguồn TNTN,
nông nghiệp có thể tạo ra tác động môi trường tch cực hoặc tiêu cực. Đến nay, nông
nghiệp là yếu tố chính làm suy kiệt nguồn nước ngầm, ô nhiễm hóa chất nông nghiệp, bạc
màu đất và BĐKH toàn cầu. Song nông nghiệp cũng chính là nơi cung cấp các dịch vụ môi
trường thường không được công nhận và không được trả tiền như cố định carbon, quản
lý lưu vực sông và bảo tồn đa dạng sinh học. Do đó, để nông nghiệp phát triển cần
phải hài hòa mối quan hệ giữa SXNN với bảo tồn TNTN và môi trường.
1.1.2. Những công trình nghiên cứu thực tiễn về phát triển nông nghiệp theo
hƣớng bền vững
1.1.2.1. Các công trình nghiên cứu về kinh nghiệm phát triển nông nghiệp theo
hướng bền vững
Ở hướng nghiên cứu này, từ thực tiễn PTNN bền vững trên thế giới và của
Việt Nam, các công trình nghiên cứu đã chỉ ra, PTNN theo hướng bền vững cần phải
PTNN hữu cơ, tiết kiệm các nguồn lực đầu vào (lao động, đất đai, vốn), thực hiện chính
sách “ưu đãi nông dân”, áp dụng cơ giới hóa, nông nghiệp sinh thái… Tiêu biểu cho hướng
nghiên cứu này, có thể kể đến như:
Tác giả Phạm Thăng (2012) trong công trình “Kinh nghiệm của thế giới về PTNN
nông thôn” [92] trên cơ sở phân tch kinh nghiệm của Nhật Bản, Trung Quốc về PTNN nông
thôn, tác giả đã đưa ra khuyến nghị sau: (i) Cần duy trì lâu dài, ổn định nông hộ là đơn vị
sản xuất cơ bản trong chiến lược PTNN nông thôn. (ii) Thực hiện chính sách “ưu đãi nông
nghiệp nông thôn” để ổn định chính trị, xã hội. (iii) Nhà nước hướng dẫn, hỗ trợ về tổ
chức, tài chính, khoa học kỹ thuật (KHKT), công nghệ cho nông dân. (iii) Đẩy nhanh việc
sửa đổi Luật đất đai và tuyên truyền để nhân dân thực hiện dồn điền đổi thửa, tch tụ
ruộng đất cho sản xuất hàng hóa lớn theo hướng chuyên canh các loại cây trồng có giá trị
kinh tế cao, tạo thuận lợi cho thâm canh, áp dụng cơ giới hóa SXNN.
Tác giả Dinesh Kumar, Sivamohan, Nitin Bassi (2013) trong “Quản lý nước, an ninh
lương thực và nông nghiệp bền vững trong các nền kinh tế đang phát triển”





Tác giả Maureen (1990) trong “Nông nghiệp ứng biến” (Alternatve agriculture)
[133] đã dẫn quan điểm của Hội đồng nghiên cứu quốc gia Mỹ cho rằng: “Nông
nghiệp bền vững” tương ứng với nông nghiệp tùy cơ ứng biến, chứa một phổ đa dạng về
các loại hình canh tác, trong đó mỗi loại hình lại có khả năng thích ứng với một kích cỡ
trang trại cụ thể trong những điều kiện cụ thể về điều kiện tự nhiên, đất đai và con
người. Do vậy, không thể có một khuôn mẫu chung về PTNN bền vững cho các vùng
khác nhau, các trang trại khác nhau.
Tác giả Đặng Kim Sơn (2008), trong “Nông nghiệp, nông dân và nông thôn Việt
Nam hôm nay và mai sau” trên cơ sở nghiên cứu thực trạng nông nghiệp Việt Nam sau 20
năm đổi mới đã chỉ ra, để nông nghiệp PTBV cần phải chú trọng phát triển cả nông dân,
nông nghiệp, nông thôn. Cụ thể, đối với nông dân, tác giả đã phân ra thành 3 nhóm: nông
dân SXNN lâu dài; nông dân chuyển đổi sang sản xuất phi nông nghiệp; nông dân tham
gia vào sản xuất ở đô thị, công nghiệp và từng tùy nhóm nông dân sẽ có các chính sách
tác động khác nhau cho phù hợp. Đối với nông nghiệp, để PTBV cần phải tăng tỷ lệ đầu
tư và đổi mới cơ cấu đầu tư theo hướng đầu tư vào KCHT, phát triển KHCN, thu hút DN;
đẩy mạnh chuyển giao và ứng dụng rộng rãi tiến bộ KHCN từ nước ngoài, kết hợp tăng
cường đầu tư nghiên cứu trong nước; bảo vệ quỹ đất lúa, cân bằng lợi ích giữa các vùng
quy hoạch SXNN; tăng cường đầu tư KCHT phục vụ đời sống nông dân và SXNN; phát triển
sản xuất và chế biến; ưu tiên hỗ trợ xây dựng hệ thống HTX kiểu mới. Đối với nông
thôn, quy hoạch nông thôn; huy động các thành phần kinh tế tập trung xây dựng KCHT
nông thôn, trọng tâm là đường nông thôn và hệ thống thủy lợi, thông tin liên lạc, cấp điện,
cấp thoát nước; xây dựng phong trào nông thôn mới (NTM) dựa vào các tổ chức cộng
đồng; đưa công nghiệp đô thị phân tán về nông thôn [90, tr.199-208].
Tác giả Trần Đại Nghĩa (2012), trong “Liên kết nông dân doanh nghiệp trong sản
xuất nông nghiệp theo hướng hàng hóa quy mô lớn tại Việt Nam” chỉ ra yêu cầu tất yếu
của liên kết nông dân - DN trong SXNN theo quy mô lớn và khẳng định “mối liên kết nông
dân - DN mang lại lợi ích cho cả hai bên. Việc áp dụng đồng bộ các tiến bộ kỹ thuật và sử
dụng dịch vụ phục vụ SXNN chỉ phát huy hiệu quả tối đa khi thực hiện theo thời gian nhất

cường sự hội nhập vào nền nông nghiệp thế giới; vai trò quan trọng của Chính phủ.
Tác giả Nguyễn Thị Hường (2015) trong công trình “Phát triển nông nghiệp Việt
Nam trong điều kiện biến đổi khí hậu” [54] đã đưa ra hệ thống giải pháp PTNN Việt Nam
trong điều kiện BĐKH, như: (i) Nâng cao chất lượng của chiến lược, quy


hoạch, kế hoạch PTNN của quốc gia, của từng địa phương; (ii) Hoàn thiện chính sách
huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực cho PTNN; (iii) Thực hiện tái cơ cấu các
ngành sản xuất phù hợp với xu hướng BĐKH và nâng cao giá trị gia tăng, sức cạnh
tranh của các sản phẩm nông nghiệp; (iv) Hoàn thiện các chính sách hỗ trợ cho nông dân
và thúc đẩy liên kết trong PTNN để mở rộng thị trường xuất khẩu giảm rủi ro và tăng
hiệu quả cho các ngành SXNN; (v) Nâng cao nhận thức của nông dân và cộng đồng về
BĐKH và tác động của BĐKH đối với PTBV nông nghiệp ở Việt Nam; (vi) Nâng cao hiệu lực
và hiệu quả quản lý nhà nước đối với nông nghiệp và một số tài nguyên quan trọng; (vii)
Đẩy mạnh hợp tác quốc tế trong ứng phó với BĐKH và huy động nguồn lực cho PTNN.
Tác giả Phí Văn Hạnh (2016) trong “phát triển nông nghiệp theo hướng bền vững ở
vùng đồng bằng sông Hồng“ [37] trên cơ sở đánh giá thực trạng PTNN theo hướng bền
vững ở các tỉnh ĐBSH, chỉ ra hạn chế và nguyên nhân của hạn chế cùng những vấn đề đặt
ra đã đưa ra 4 nhóm giải pháp, như: nhóm giải pháp chung; nhóm giải pháp nâng cao
năng suất, chất lượng và hiệu quả PTNN theo hướng bền vững; nhóm giải pháp đảm bảo
môi trường bền vững trong quá trình PTNN; và nhóm giải pháp bảo đảm bền vững về xã
hội trong PTNN ở vùng ĐBSH.
Ngoài ra, còn một số nghiên cứu của các tác giả, như: Phạm Thị Khanh (2005)
[58]; Nguyễn Kế Tuấn (2006) [112]; Hoàng Thị Chỉnh (2010) [13]; Đinh Phi Hổ (2010) [42];
Ngô Sỹ Tiệp (2013) [101]; Vũ Văn Hùng (2013) [52]; Đỗ Kim Chung, Kim Thị Dung (2013)
[18]; Vương Đình Huệ (2014)[51]; Lê Vũ Phong (2016) [77] đã chỉ con đường để PTNN
theo hướng bền vững, như: tối đa hóa lợi ích của sự phát triển kinh tế trên cơ sở duy
trì chất lượng của nguồn lực tự nhiên theo thời gian và tuân thủ các quy luật; can thiệp
vào tự nhiên theo cách nào đó để thực hiện một cân bằng có thể chấp nhận được giữa lợi
ích mang lại từ việc sử dụng, khai thác nguồn lực tự nhiên cho sản xuất với lợi ích từ việc


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status