MỞ BÀI
Tín dụng ngân hàng là kênh huy động nhanh nhất, hiệu quả nhất. Các tổ chức tín
dụng (TCTD) càng đa dạng hóa các hình thức cho vay bao nhiêu thì càng tạo ra
các điều kiện cho các tổ chức, cá nhâ có nhu cầu sử dụng có thể dễ dàng tìm
được cho mình một hình thức phù hợp với khả năng kinh doanh của mình. Qua
đó, ta rất dễ nhận thấy mỗi hình thức cho vay trong hoạt động tín dụng của
TCTD đều chứa đựng trong mình những ý nghĩa cơ bản, không chỉ riêng đối với
từng doanh nghiệp mà còn tạo ra nền tảng để ổn định nền tài chính quốc gia, và
đồng thời thiết lập được một hệ thống pháp luật về Tài chính_ Tiền tệ của Việt
Nam trọng giai đoạn hiện nay.
Hoạt động cho vay là một hình thức cấp tín dụng quan trọng và phổ biến của các
tổ chức tín dụng. Việc nghiên cức nó có ý nghãi rất quan trọng về mặt pháp lý và
thực tiễn. Bởi vậy, em xin chọn đề tài: “Phân tích quy định pháp luật về hoạt
động cho vay của tổ chức tín dụng và thực tiễn áp dụng thông qua hoạt
động cho vay của một ngân hàng thương mại đối với cá nhân trong năm
2013”.
I. KHÁI QUÁT HOẠT ĐỘNG CHO VAY CỦA TỔ CHỨC TÍN DỤNG
1. Khái niệm cho vay của tổ chức tín dụng
Cho vay là một trong những hình thức cấp tín dụng của tổ chức tín dụng, theo
đó tổ chức tín dụng sẽ chuyển giao cho bên vay (khách hàng) một khoản vốn tiền
tệ, bên vay sẽ sử dụng khoản vốn tiền tệ đó trong một khoảng thời gian nhất
định, sau đó sẽ hoàn trả cho tổ chức tín dụng cả gốc và lãi theo hoả thuận.
1
2. Đặc điểm hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng :
Ngoài những dấu hiệu chung của quan hệ cho vay, hoạt động cho vay của tổ
chức tín dụng còn thể hiện ở những dấu hiệu có tính đặc thù sau:
điều kiện hoạt động (conditions), tài sản chung (collectability) và tài sản thế chấp
(collateral).
Nguyên tắc phải sử dụng vốn vay đúng mục đích: nguyên tắc này đảm bảo cho
các tổ chức tín dụng tránh được những rủi ro từ bên vay, đồng thời đảm bảo được
tính thực hiện hợp đồng, nếu bên vay vi phạm nguyên tắc này thì bên cho vay có
quyền huỷ bỏ hợp đồng và bên vay phải chịu sự điều chỉnh theo pháp luật.
Nguyên tắc hoàn trả khoản tín dụng đúng hạn cả gốc và lãi theo thoả thuận: Bên
vay phải đảm bảo thực hiện đúng nguyên tắc này. Trường hợp bên vay có thể trả
chậm hơn thời han quy định nếu có sự gia hạn và được bên cho vay chấp thuận,
nhưng vẫn phải đảm bảo nguyên tắc này, thanh toán cả gốc và lãi theo đúng thời
gian đã gia hạn.
4. Phân loại cho vay của tổ chức tín dụng:
- Căn cứ vào thời hạn sử dụng vốn vay:
+ Cho vay ngắn hạn
+ Cho vay trung và dài hạn
- Căn cứ vào tính chất có bảo đảm của khoản vay:gồm
+ Cho vay có bảo đảm bằng tài sản
+ Cho vay không có bảo đảm bằng tài sản
- Căn cứ vào mục đích sử dụng vốn:
+ Cho vay kinh doanh
+ Cho vay tiêu dung
II. PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH HOẠT ĐỘNG CHO VAY CỦA TỔ CHỨC
TÍN DỤNG
1. Khái niệm và đặc điểm của hợp đồng tín dụng:
Khái niệm:
3
Về cơ chế thực hiện quyền và nghĩa vụ: nghĩa vụ chuyển giao tiền vay của
bên cho vay bao giờ cũng phải được thực hiện trước để làm cơ sở và tiền đề
cho việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của bên vay.
- 2. Chủ thể của hợp đồng tín dụng:
a. Bên cho vay:
Theo quy định của pháp luật hiện hành, một tổ chức tín dụng muốn trở
thành chủ thể cho vay trong hợp đồng tín dụng phải thoả mãn các điều kiện sau:
4
Có giấy phép thành lập và hoạt động do Ngân hàng Nhà nước cấp.
Có điều lệ do Ngân hàng Nhà nước chuẩn y.
Có giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh hợp pháp.
Có người đại diện đủ năng lực và thẩm quyền để giao kết hợp đồng tín
dụng với khách hàng.
b. Bên vay:
Bên vay là tổ chức, cá nhân phải thoả mãn các điều kiện sau (về nguyên
Bên vay có tài sản cầm cố, thế chấp hoặc có bảo lãnh bằng tài sản của
người thứ ba trên cơ sở hợp đồng cầm cố, hợp đồng thế chấp, hợp đồng bảo
lãnh.
3. Giao kết hợp đồng tín dụng:
Giao kết hợp đồng tín dụng là một quá trình mang tính chất kỹ thuật nghiệp
vụ – pháp lý do các bên thực hiện theo một trình tự luật định. Việc giao kết hợp
đồng tín dụng bao gồm các giai đoạn chủ yếu sau đây:
- Đề nghị giao kết hợp đồng tín dụng: là hành vi pháp lý do một bên thực
hiện dưới hình thức văn bản chính thức gửi cho bên kia, với nội dung thể hiện ý
chí mong muốn được giao kết hợp đồng tín dụng.
- Thẩm định hồ sơ tín dụng và chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng tín dụng:
Thẩm định hồ sơ tín dụng: là tất cả những hành vi mang tính nghiệp vụ – pháp lý
do tổ chức tín dụng thực hiện nhằm xác định các điều kiện vay vốn đối với bên
vay, trên cơ sở đó mà quyết định cho vay hay không.
Chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng tín dụng: là hành vi pháp lý do bên nhận
đề nghị thực hiện dưới hình thức một văn bản chính thức gửi cho bên kia với nội
dung thể hiện sự đồng ý giao kết hợp đồng tín dụng.
- Đàm phán các điều khoản của hợp đồng tín dụng: Đây là giai đoạn cuối cùng,
cũng là giai đoạn trọng tâm của quá trình giao kết hợp đồng tín dụng. Trong giai
đoạn này, các bên gặp nhau để đàm phán các điều khoản của hợp đồng tín dụng.
Giai đoạn này được coi là kết thúc khi đại diện của các bên đã chính thức ký tên
vào văn bản hợp đồng tín dụng.
6
4. Hình thức của hợp đồng tín dụng:
-
với pháp luật. Các điều khoản này vừa thể hiện ý chí của các bên, đồng thời cũng
làm phát sinh những quyền và nghĩa vụ pháp lý cơ bản của mỗi bên tham gia hợp
đồng tín dụng.
7
Theo quy định tại điều 51 Luật các tổ chức tín dụng, nội dung của hợp đồng
tín dụng bao gồm các điều khoản cơ bản sau đây:
-
Điều khoản về điều kiện vay vốn. Khi thỏa thuận điều khoản này, các bên
cần ghi rõ trong hợp đồng tín dụng những tiêu chuẩn cụ thể mà bên vay phải
thỏa mãn thì hợp đồng tín dụng mới có hiệu lực.
-
Điều khoản về đối tượng hợp đồng. Trong điều khoản này, các bên phải
thỏa thuận về số tiền vay, lãi suất cho vay, tổng số tiền phải trả khi hợp đồng tín
dụng đáo hạn.
-
Điều khoản về thời hạn sử dụng vốn vay. Các bên phải ghi rõ trong hợp
đồng tín dụng về ngày, tháng, năm trả tiền, hoặc phải trả tiền sau bao lâu kể từ
ngày ký hợp đồng. Nếu có thể gia hạn hợp đồng thì các bên cũng dự liệu trước
về khả năng này trong hợp đồng tín dụng, còn thời gian gia hạn sẽ tiến hành thỏa
thuận sau trong quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng.
-
dụng không ghi điều khoản này, có nghĩa là các bên không thỏa thuận thì việc
xác định thẩm quyền, thủ tục giải quyết tranh chấp phát sinh từ hợp đồng tín
dụng đó sẽ được thực hiện theo quy định của pháp luật.
Ngoài ra, nếu hợp đồng tín dụng được giao kết có điều kiện bảo đảm bằng tài sản
như cầm cố, thế chấp, bảo lãnh thì các bên có thể thỏa thuận một điều khoản
riêng rẽ nằm trong hợp đồng tín dụng (hợp đồng chính), hoặc lập thành một hợp
đồng phụ đính kèm theo hợp đồng chính.
6. Quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia hợp đồng tín d ụng:
6.1.. Quyền và nghĩa vụ của bên cho vay:
-
Nghĩa vụ chuyển giao tiền vay đầy đủ, đúng hạn và địa điểm cho khách
hàng vay sử dụng (nghĩa vụ giải ngân).
-
Nghĩa vụ kiểm tra, giám sát việc sử dụng tiền vay và trả nợ của khách
hàng.
-
Quyền yêu cầu bên vay hoàn trả tiền vay đúng thỏa thuận, kể cả tiền phạt,
tiền bồi thường thiệt hại (nếu có).
6.2. Quyền và nghĩa vụ của bên vay:
9
-
có hiệu lực của giao dịch và các nguyên tắc xác định hiệu lực của giao dịch đó.
Ở nước ta, các điều kiện này được quy định tại Điều 122 Bộ luật Dân sự 2005 và
đương nhiên chúng được áp dụng chung cho mọi giao dịch, trong đó HĐTD với
tư cách là một loại hình giao dịch dân sự đặc thù chỉ có hiệu lực khi thỏa mãn
đầy đủ các điều kiện sau:
Thứ nhất, “chủ thể tham gia HĐTD có năng lực hành vi dân sự”.
10
Bên vay gồm cá nhân, tổ chức phải thỏa mãn điều kiện có đủ năng lực
pháp luật và năng lực hành vi dân sự.
Bên cho vay: do tính chất đặc thù của hoạt động ngân hàng nên TCTD
phải thỏa mãn 2 điều kiện:-
ü
Tư cách pháp nhân: được xác định dựa trên hai bằng chứng có ý nghĩa
quyết định là giấy phép thành lập – hoạt động ngân hàng và giấy chứng nhận
đăng kí kinh doanh do các cơ quan có thẩm quyền của nhà nước cấp.
ü
Năng lực và thẩm quyền đại diện của người đại diện hợp pháp cho ngân
dân sự của chủ thể tham gia giao dịch. Chỉ khi nào xác định rõ chủ thể giao dịch
có đầy đủ năng lực hành vi dân sự thì việc xác định tính tự nguyện và tự do ý chí
của chủ thể đó mới chính xác và khoa học. Đối với chủ thể giao dịch là pháp
nhân ngân hàng thương mại, việc xác định tính tự nguyện và tự do ý chí có phần
khác biệt và phức tạp hơn so với chủ thể giao dịch là thể nhân.
Thứ tư, “hình thức của giao dịch”.
Đối với các giao dịch dân sự mang tính đặc thù như giao dịch thương
mại của ngân hàng thương mại, vấn đề hình thức của giao dịch có ý nghĩa đặc
biệt quan trọng, bởi lẽ loại giao dịch này cần được pháp luật quy định chặt chẽ
về mặt hình thức nhằm ngăn ngừa các rủi ro pháp lí cho các bên trong quá trình
xác lập và thực hiện giao dịch nên pháp luật ngân hàng đòi hỏi hình thức của
HĐTD phải được xem là một trong những điều kiện có hiệu lực của hợp đồng.
Xuất phát từ yêu cầu này của thực tiễn giao dịch ngân hàng, pháp luật đòi hỏi
hầu hết các giao dịch loại này phải được xác lập dưới hình thức văn bản hay tài
12
liệu giao dịch hợp thức và có giá trị chứng cứ chứng minh nội dung cam kết của
các bên
7.2. Thời điểm phát sinh hiệu lực của HĐTD:
Thời điểm phát sinh hiệu lực của HĐTD là điểm mốc thời gian mà kể từ đó
quyền và nghĩa vụ pháp lý của các bên tham gia HĐTD bắt đầu phát sinh. Trên
thực tế, pháp luật của từng nước có những quy định rất khác nhau về thời điểm
phát sinh hiệu lực của HĐTD. Còn ở Việt Nam, theo Đ405 BLDS 2005 ta có thể
lý giải rằng thời điểm phát sinh hiệu lực của HĐTD là thời điểm các bên đã thỏa
thuận xong các điều khoản của hợp đồng và bên sau cùng đã ký tên vào văn bản
HĐTD.
7.3. Sự vô hiệu của HĐTD và các nguyên tắc xử lí hậu quả vô hiệu:
Trên nguyên tắc, khi một HĐTD không thoả mãn một trong số các điều kiện
có hiệu lực do pháp luật quy định thì giao dịch đó bị coi là vô hiệu và sự vô hiệu
thiệt hại vật chất thực tế và xác định được chứng minh bởi bên bị vi phạm. Số
tiền bồi thường thiệt hại do các bên thỏa thuận hoặc thông qua phán quyết của cơ
quan tài phán có thẩm quyền.
9. Tranh chấp và cơ chế giải quyết tranh chấp phát sinh từ
HĐTD:
Một HĐTD chỉ được coi là có tranh chấp khi sự xung đột, bất đồng về
phương diện quyền lợi giữa các bên đã được thể hiện ra bên ngoài. Vì thế không
phải cứ khi nào có vi phạm hợp đồng thì có tranh chấp hợp đồng mà tuy vào
hoàn cảnh cụ thể để xác định đúng đắn và chính xác thời điểm phát sinh tranh
chấp.
Theo pháp luật Viêt Nam, tranh chấp này sẽ được giải quyết bằng những con
đường sau đây:
14
-
Tự thương lượng giữa các bên tranh chấp: theo quy định của pháp luật,
trước hết các bên có quyền tiến hành thương lượng với nhau nhằm tiến tới dung
hòa lợi ích cho cả 2 bên.
-
Hòa giải giữa các bên tranh chấp thông qua trung gian: giải pháp này có
thể được các bên lựa chọn khi việc thương lượng không đạt kết quả. Việc quy
định cơ chế này nhằm tôn trọng quyền tự định đoạt của các bên và để tránh cho
các bên những khoản chi phí không cần thiết do phải kiện trước Tòa.
-
cận tín dụng nói chung, tín dụng ngân hàng nói riêng của các doanh nghiệp, tổ
chức khác và cá nhân, đồng thời tác động trực tiếp, mạnh mẽ tới quyết định cấp
tín dụng của tổ chức tín dụng.
10.2. HĐTD không có bảo đảm tài sản:
Trên thực tế để đảm bảo an toàn cho hoạt động của TCTD, sự bảo
đảm bằng tài sản cho các khoản vay là cần thiết nhưng đôi khi có những khoản
cho vay kinh doanh hay cho vay tiêu dùng được cung cấp bởi một TCTD lại dựa
trên cơ sở không cần bảo đảm.
Theo quy định của luật các tổ chức tín dụng và các văn bản có liên
quan như các văn bản hướng dẫn thi hành, Thông tư số 07/2003/TT-NHNN ngày
19/5/2003 hướng dẫn thực hiện một số quy định về bảo đảm tiền vay của các tổ
chức tín dụng, Nghị định số 178/1999/NĐ- CP ngày 29 tháng 12 năm 1999 của
Chính phủ về bảo đảm tiền vay của các tổ chức tín dụng; Nghị định số
85/2002/NĐ-CP ngày 25 tháng 10 năm 2002 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung
Nghị định số 178/1999/NĐ-CP ngày 29 tháng 12 năm 1999 về bảo đảm tiền vay
của các tổ chức tín dụng…quy định những điều kiện để TCTD thực hiện quyền
cho vay không có bảo đảm đối với khách hàng căn cứ vào các yếu tố phản ánh
16
năng lực trả nợ của người vay như năng lực chủ thể, uy tín của người vay,
phương án sử dụng vốn và tình hình tài chính của họ trừ những trường hợp hạn
chế cho vay được quy định tại điều 78 Luật các tổ chức tín dụng.
III. HOẠT ĐỘNG CHO VAY CỦA MỘT NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
ĐỐI VỚI CÁ NHÂN NĂM 2013
Theo báo cáo của Ngân hàng Chính sách Xã hội tỉnh, 9 tháng đầu năm hoạt động
của Ban đại diện có chuyển biến tích cực. Các thành viên tăng cường kiểm tra,
giám sát ở cơ sở, chỉ đạo thực hiện tốt công tác nguồn vốn, điều hành kế hoạch,
thực hiện chỉ tiêu tín dụng và kiểm soát nợ quá hạn. Tính đến ngày 30/9/2013,
doanh số cho vay tín dụng toàn tỉnh đạt 453 tỷ đồng (tăng 57 tỷ đồng so với cùng
động của Ban đại diện năm 2014
KẾT LUẬN
Bên cạnh những mặt tích cực trong pháp luật điều chỉnh hoạt động cho vay của
các tổ chức tín dụng thì vẫn còn những hạn chế. Cần phải hoàn thiện hơn hệ
thống pháp luật để đảm bảo an toàn cho hệ thống các TCTD, nói rộng ra là sự an
toàn cho hệ thống tài chính nước nhà. Trước những biến động của nên tài chính
thế giới ít nhiều sẽ ảnh hưởng tới tài chính trong nước và sự điều chỉnh liên tục
mức lãi suất cơ bản của ngân hàng nhà nước sẽ ảnh hưởng mạnh đến chính sách
cho vay của các tổ chức tín dụng thì pháp luật điều chỉnh hoạt động cho vay của
tổ chức tín dụng cần thiết phải hoàn thiện.
18
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.
2.
3.
4.
Giáo trình Luật ngân hàng Việt Nam_ Trường Đại học Luật Hà Nội.
Luật Ngân hàng nhà nước Việt Nam năm 2010.
Luật các tổ chức tín dụng năm 2010.
Quyết định số 1627/2001/QĐ- NHNN ngày 31/12/2001 ban hành
quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với khác hàng.
19