Thực trạng và công tác chăm sóc phục hồi chức năng cho người khuyết tật trong các gia đình nạn nhân da cam dioxin tại huyện tiền hải, tỉnh thái bình - Pdf 49

1

ĐẶT VẤN ĐỀ
Khuyết tật là tình trạng một người do khiếm khuyết hoặc do các vấn đề
về sức khỏe mà bị giảm chức năng dẫn tới hạn chế sự tham gia trong các lĩnh
vực sinh hoạt, lao động, học tập và đời sống xã hội [48].
Năm 2010 ước tính cả nước có khoảng 5,1 triệu người khuyết tật, chiếm
6% dân số. Trong đó có 1,1 triệu khuyết tật nặng (chiếm 21,5% tổng số người
khuyết tật); bao gồm 42% khuyết tật vận động, khó khăn về học chiếm 23%,
khó khăn nghe nói chiếm 22%, khó khăn về nhìn chiếm 7%, hành vi xa lạ
chiếm 4%, động kinh chiếm 1%, mất cảm giác chiếm 1%. Tỷ lệ người có nhu
cầu PHCN là 47% [2],[3].
Các nguyên nhân gây khuyết tật thường gặp là do bệnh, do dị tật bẩm
sinh, tai nạn và do nhiễm độc bởi các yếu tố độc hại như hóa chất, chất phóng
xạ, khí thải công nghiệp... Một yếu tố đã và đang được xã hội quan tâm nhiều
đó là các chất độc hóa học trong chiến tranh. Trên thế giới, các nghiên cứu
tiến hành ở Thụy Điển, Nhật Bản, Triều Tiên cho thấy rằng các chất diệt cỏ,
rụng lá có tác dụng gây dị tật bẩm sinh và gây những biến cố sinh sản như sảy
thai, đẻ non. Đặc biệt trong cuộc chiến tranh xâm lược của Mỹ tại Việt Nam
hàng triệu lít chất diệt cỏ rụng lá (trong đó có khoảng 170 kg dioxin) đã được
rải xuống nhiều địa phương ở miền nam Việt Nam [37].
Mặc dù chiến tranh đã qua hơn 40 năm nhưng nỗi đau do chất độc da
cam/Dioxin đã và đang gây nhiều tác hại đến môi trường sinh thái, ảnh hưởng
đến sức khỏe cho hàng triệu người dân Việt Nam và để lại di chứng lâu dài
cho các thế hệ con, cháu của những quân nhân và những người dân bị phơi
nhiễm với chất độc da cam/Dioxin.
Hiện nay ước tính có khoảng 4,8 triệu người Việt Nam bị nhiễm chất độc
da cam/dioxin. Hàng triệu người trong đó có cả con, cháu của họ đang phải
sống trong cảnh bệnh tật nghèo khó do di chứng chất độc da cam/Dioxin.



Chƣơng 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Khuyết tật
1.1.1. Khái niệm khuyết tật
Theo Luật người khuyết tật của Quốc hội Việt Nam 17/6/2010:
Khuyết tật (KT) là tình trạng một người do khiếm khuyết hoặc do các
vấn đề về sức khỏe mà bị giảm chức năng dẫn tới hạn chế sự tham gia trong
các lĩnh vực sinh hoạt, lao động, học tập và đời sống xã hội.
Như vậy khuyết tật là một hiện tượng phức tạp phản ánh sự tương tác
giữa các tính năng cơ thể và các tính năng trong xã hội mà người khuyết tật
sống [48].
1.1.2. Các mức độ khuyết tật
+ Theo WHO (ICD – 10, 1992):
Năm 1992 Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đưa ra Phân loại Quốc tế về
bệnh tật (International Classification of Disease, Tenth revision viết tắt là
ICD – 10) [65]. Theo phân loại này, quá trình khuyết tật gồm:
- Khiếm khuyết: Là sự mất mát, thiếu hụt hoặc bất thường về cấu trúc
hoặc chức năng của cơ thể.
- Giảm chức năng: Là sự hạn chế hoặc thiếu hụt một hoặc nhiều chức
năng của cơ thể do khiếm khuyết tạo nên.
- Khuyết tật: Là tình trạng một người do khiếm khuyết, do giảm chức
năng cản trở người đó thực hiện vai trò của mình để sống như một người bình
thường trong xã hội.
+ Theo Luật người khuyết tật của Quốc hội Việt Nam [48].
- Người khuyết tật đặc biệt nặng:


4

Là những người do khuyết tật dẫn đến mất hoàn toàn chức năng, không

(1) Khuyết tật về tâm thần kể cả trẻ chậm phát triển trí tuệ
(2) Khuyết tật về thể chất bao gồm:
- Khuyết tật do bệnh và tổn thương các cơ quan vận động:
+ Các bệnh và tổn thương thần kinh trung ương
+ Các bệnh và tổn thương thần kinh ngoại biên
+ Các bệnh và các tổn thương về cơ
+ Các bệnh và tổn thương hệ thống xương, khớp
- Khuyết tật do bệnh và tổn thương các cơ quan giác quan:
+ Các bệnh và tổn thương cơ quan thị giác
+ Các bệnh và tổn thương cơ quan thính giác
+ Các bệnh và tổn thương ảnh hưởng đến ngôn ngữ giao tiếp
- Khuyết tật do bệnh và tổn thương các cơ quan nội tạng
+ Các bệnh và tổn thương hệ tim mạch
+ Các bệnh và tổn thương bộ máy hô hấp
+ Các bệnh và tổn thương bộ máy tiêu hoá
+ Các bệnh và tổn thương hệ thống nội tiết
+ Các bệnh và tổn thương bộ máy sinh dục, tiết niệu.
(3) Đa khuyết tật: Người có từ hai loại khuyết tật trở lên
1.1.3.3. Phân loại trong phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng.
Để dễ nhận biết, phát hiện và tránh thái độ phân biệt, coi thường người
KT đồng thời tạo điều kiện cho họ dễ chấp nhận tình trạng của mình, Tổ chức
Y tế Thế Giới đã phân loại KT thành 7 nhóm [14],[58], gồm:


6

Nhóm 1: Khó khăn về vận động:
Là tình trạng giảm hoặc mất chức năng cử động đầu, cổ, chân, tay, thân
mình dẫn đến hạn chế trong vận động, di chuyển.
Nhóm 2: Khó khăn về nhìn.

dưới hai hình thức lệch bội thể hoặc đa bội thể. Nguyên nhân chính của lệch
bội thể là sự không phân tách trong qua trình phân chia tế bào dẫn đến một tế
bào có 2 NST và một tế bào kia không có cặp.
* Đột biến gen:
Đột biến gen thường liên quan đến mất hoặc thay đổi chức năng của gen.
Tỷ lệ đột biến gen có thể tăng do các yếu tố môi trường như một liều lượng
lớn của phóng xạ hoặc các yếu tố phóng xạ đặc biệt là các chất gây ung thư.
Người ta cho rằng đột biến gen làm rối loạn sự tổng hợp các protein được mã
hóa bởi các gen đột biến dẫn đến những đột biến cấu trúc phân tử của các
protein ấy. Những protein có cấu trúc phân tử bị đột biến có thể là những
protein chức năng (tham gia vào nhiều quá trình quan trọng đối với sự phát
triển cá thể như truyền các tín hiệu cảm ứng liên bào hay nội bào, tăng sinh, di
cư) hoặc là các protein cấu trúc (tham gia vào sự cấu tạo tạo hình các phôi
bào, các mô và cơ quan.
1.1.4.2. Nguyên nhân bên ngoài
Các nguyên nhân bên ngoài ảnh hưởng đến KT bao gồm:
* Phóng xạ: Thống kê số trẻ em được sinh ra trong thời gian nổ bom
nguyên tử tại Hiroshima và Nagazaki cho thấy: Trong số những phụ nữ sống
sót có 28% bị sảy thai; 25% con của họ có dị tật bẩm sinh như tật đầu nhỏ,
chậm phát triển tinh thần.


8

* Các yếu tố hóa học: Một số loại thuốc như trimethadione,
thalidomide… đã được chứng minh là một trong những nguyên nhân gây dị
tật bẩm sinh cho thai nhi.
- Phenytoin (Dilantin) là chất gây dị tật. Hội chứng thai bị phenytoin
gồm các tật sau: chậm phát triển trước sinh, đầu nhỏ, thiểu năng tinh thần,
rãnh xương trán ụ lên, có nếp quạt trong, sụp mi mắt, sống mũi tẹt, thiểu sản

- Người KT thường là gánh nặng của cộng đồng
- Người KT bị phân biệt đối xử, không được tôn trọng
- Người KT không có vai trò và vị trí ở cộng đồng
- Người KT thường bị xã hội dèm pha, xa lánh, coi thường, thất thế.
1.2. Khuyết tật do chất độc da cam/dioxin
1.2.1. Chất độc da cam/dioxin
Trong chiến tranh tại Việt Nam, ngoài bom đạn, một cuộc chiến tranh
hóa học đã được quân đội Mỹ sử dụng trong đó chủ yếu là các chất làm diệt
cỏ, rụng lá, trong đó có 7 loại chính: Chất da cam, chất cam II, chất tím, chất
hồng, chất trắng, chất xanh lam và chất xanh lá cây. Các nhà khoa học chú ý
hơn đến dioxin, một tạp chất sinh ra trong quá trình sản xuất 2,4-D và 2,4,5-T.
Người ta cho rằng đây là một chất hóa học độc nhất, bền vững nhất mà loài
người đã tìm ra [7]. Dioxin là tên chung để chỉ một nhóm các hydrocarbon
thơm được halogen hóa gọi là dibenzo-p-dioxin với các nguyên tử clo gắn với
một hoặc hơn trong số 8 vị trí được đánh số. Như vậy hình thành nhiều đồng
phân khác nhau với độc tính khác nhau. Riêng các dioxin với 4 nguyên tử clo
(dibenzo-dioxin-tetraclorin) gồm 22 đồng phân khác nhau. Tuy nhiên chất
độc và nguy hiểm nhất là 2,3,7,8-TCDD (2,3,7,8-tetra clorodibenzo para
dioxin) thường gọi là TCDD hoặc gọi tắt là dioxin.


10
Dioxin là những tinh thể không màu, với điểm nóng chảy 295 – 3060c,
không tan trong nước nhưng tan được trong các dung mội hữu cơ như aceton,
benzen, dầu. Đối với các nước công nghiệp nguồn dioxin chính xuất phát từ
các quá trình xử lý và đốt cháy trong công nghiệp. Ngoài ra nó có thể hình
thành một cách trực tiếp do quá trình quang hóa từ các chất diệt cỏ. Dioxin
xâm nhập vào môi trường Miền nam Việt Nam là tạp chất có trong chất cam.
Nó được dùng ở dạng không pha loãng có độ đậm độ cao gấp 6 – 25 lần so
với dùng trong công nghiệp. Dioxin có thời gian bán hủy trong đất kéo dài

1.3.1. Định nghĩa phục hồi chức năng
Phục hồi chức năng (PHCN) bao gồm các biện pháp y học, kinh tế xã
hội, giáo dục hướng nghiệp và kỹ thuật phục hồi để làm giảm tác động của
giảm khả năng và khuyết tật, đảm bảo cho người khuyết tật có cơ hội bình
đẳng để hòa nhập hoặc tái hòa nhập xã hội.
Phục hồi chức năng không chỉ huấn luyện người khuyết tật thích nghi
với môi trường sống mà còn tác động vào môi trường và xã hội tạo nên khối
thống nhất cho quá trình hòa nhập của người khuyết tật.
Phục hồi chức năng là trả lại các khả năng đã bị giảm hoặc mất cho
người khuyết tật hoặc là giúp họ xử trí tốt hơn với tình trạng khuyết tật của
mình trong khi ở nhà và ở cộng đồng [12],[52].
1.3.2. Vị trí của phục hồi chức năng trong hệ thống Y tế
Phục hồi chức năng là một trong bốn lĩnh vực hoạt động không thể thiếu
trong chăm sóc sức khỏe toàn diện của ngành Y tế, đó là: Phòng bệnh - Chữa
bệnh - Phục hồi chức năng - Nâng cao sức khỏe. Phục hồi chức năng là hoạt
động của “nhóm phục hồi” gồm các chuyên khoa khác nhau, độc lập, hỗ trợ,
hợp tác và không thể tách rời.


12

1.3.3. Mục đích của phục hồi chức năng
- Tăng cường khả năng còn lại của cá nhân để giảm hậu quả của giảm
khả năng và khuyết tật.
- Tác động để làm thay đổi thái độ của xã hội, tạo nên sự chấp nhận của
xã hội đối với người khuyết tật như một thành viên bình đẳng.
- Cải thiện các điều kiện nhà ở, trường học, giao thông, công sở để người
khuyết tật có thể dễ dàng hòa nhập hoặc tái hòa nhập cộng đồng.
- Tạo việc học hành vui chơi và công ăn việc làm cho người khuyết tật,
lôi kéo bản thân người khuyết tật, gia đình và cộng đồng tham gia.

phục hồi chức năng cho người KT ngay tại gia đình họ.
Ƣu điểm:
- Số người KT được chăm sóc và phục hồi chức năng tăng nhiều hơn,
(30% đến 40%).
- Kỹ thuật phục hồi đạt trình độ cao, đáp ứng được hầu hết nhu cầu của
người khuyết tật.
- Có sự tham gia tích cực của gia đình người KT trong công tác phục hồi
chức năng.
Nhƣợc điểm:
- Các kỹ thuật PHCN không được thực hiện thường xuyên vì thiếu cán
bộ chuyên khoa ở các tuyến cơ sở.
- Chi phí vẫn tốn kém về phương tiện đi lại, trang thiết bị chuyên khoa,
vẫn còn nhiều phiền hà trong triển khai và duy trì chương trình.
- Chỉ tập trung vào cá nhân người KT mà không quan tâm đến cả cộng
đồng và thiếu sự tham gia của cộng đồng.


14

1.3.4.3. Phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng:
Phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng (PHCNDVCĐ) là biện pháp
chuyển giao kiến thức về khuyết tật và phòng ngừa KT, kỹ năng phục hồi
và thái độ tích cực đến với người KT, gia đình họ và cộng đồng. Biến công
tác phục hồi chức năng thành công việc của cộng đồng, thông qua các tổ
chức ở cộng đồng để xã hội hoá và dân chủ hoá công tác phòng ngừa
khuyết tật và phục hồi chức năng.
Phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng là một biện pháp chiến lược
nằm trong sự phát triển của cộng đồng về phục hồi chức năng, bình đẳng về
mọi cơ hội và hòa nhập xã hội của tất cả những người KT. Phục hồi chức
năng dựa vào cộng đồng được triển khai với sự phối hợp chung của chính bản

được tất cả các nhu cầu cơ bản ở cộng đồng.
- Người khuyết tật dễ có cơ hội để hòa nhập hoặc tái hòa nhập với cuộc
sống của gia đình và cộng đồng.
- Lôi kéo được sự tham gia tích cực của người khuyết tật, gia đình họ và
cả cộng đồng vào chương trình phục hồi chức năng.
- Chi phí cho chương trình phục hồi chức năng ở mức có thể chấp nhận
được, phù hợp với mức kinh phí cho phép của cộng đồng.
- Chương trình phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng được lồng ghép
và gắn kết chặt chẽ vào hệ thống chăm sóc sức khoẻ ban đầu tại các tuyến.
- Phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng có thể giải quyết được tình
trạng thiếu cán bộ chuyên khoa phục hồi chức năng ở tuyến dưới.
Phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng tại Việt Nam
Chương trình PHCN dựa vào cộng đồng đã được triển khai ở Việt Nam
từ năm 1987. Phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng là một chiến lược nằm
trong sự phát triển cộng đồng về PHCN, bình đẳng về mọi cơ hội và hòa nhập
xã hội của tất cả những người khuyết tật. Theo nghiên cứu “Đánh giá thực


16

trạng công tác khám chữa bệnh – phục hồi chức năng tại các bệnh viện điều
dưỡng – phục hồi chức năng” cho thấy nhân lực cho công tác PHCN dựa vào
cộng đồng còn mỏng, kinh phí cho chương trình không đồng đều giữa các
bệnh viện và được đánh giá là thấp gây rất nhiều khó khăn cho các hoạt động
tại cộng đồng [38],[43].
Các tổ chức cho người khuyết tật có vai trò quan trọng trong sự phát
triển chương trình phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng. Các tổ chức cho
người khuyết tật hoạt động như một cầu nối giữa người khuyết tật và xã hội,
cung cấp những nơi mà người khuyết tật cảm thấy bình đẳng, có thể chia sẻ
và học hỏi những người khác, giúp các tổ chức trong cộng đồng có thể cung

hiểu biết về các dịch vụ PHCN tại địa phương ở các trẻ KT sống tại cộng
đồng là rất thấp. Số liệu thu được từ điều tra cộng đồng cho thấy có khoảng
1/3 số trẻ KT sống cùng gia đình chưa bao giờ được gia đình tìm kiếm sự điều
trị cho những tàn tật của chúng. Sự tìm kiếm dịch vụ PHCN cho trẻ KT khác
nhau theo vùng kinh tế và địa bàn cư trú. Khoảng 90% trẻ KT sống ở khu vực
đô thị của Đồng bằng Sông Hồng có tìm kiếm dịch vụ PHCN, nhưng chỉ có
29% trẻ KT sống ở vùng nông thôn có động thái này [21].
Theo kết quả nghiên cứu của Trần Trọng Hải và CS về “Thực trạng hoạt
động PHCN dựa vào cộng đồng tại Việt Nam” năm 2004 [21] cho thấy tình
hình cung cấp dịch vụ PHCN tại những nơi triển khai chương trình PHCN
dựa vào cộng đồng như sau:
- Về dịch vụ hỗ trợ tại nhà: 64% - 71% người lớn và trẻ KT được hưởng
dịch vụ hỗ trợ tại nhà trong đó 45,1% - 52,8% được hướng dẫn tập luyện tại
nhà; 56,5% - 73,6% được gửi đi khám chuyên khoa; 37,7% được hướng dẫn
làm và sử dụng dụng cụ trợ giúp; 25,5% được hướng dẫn sử dụng thuốc.


18

- Về cung cấp dụng cụ trợ giúp: 36% người KT được cung cấp dụng cụ
trợ giúp trong đó 9% - 34% trẻ em và người lớn KT được cung cấp nạng và
29,8%- 36,8% được cung cấp xe lăn.
- Về dịch vụ giáo dục cho trẻ khuyết tật: 50% trẻ KT được đi học trong
đó 49,6% được cán bộ cộng đồng động viên đi học.
- Về việc làm cho người KT: 27% người lớn KT có việc làm trong đó có
54% nhận được sự hỗ trợ như được dạy nghề, 17% được giới thiệu việc làm
và 24% được vay vốn.
Nghiên cứu cũng cho thấy tỷ lệ nam KT được hưởng dịch vụ PHCN cao
hơn nữ, dân tộc kinh cao hơn các dân tộc thiểu số khác. Tuy nhiên, đây là NC
điều tra ngang được tiến hành chỉ ở những nơi có triển khai chương trình

- Ít nhất có 650 triệu người KT trên toàn thế giới.
- Tỷ lệ KT tại Ý là 6,6%.
- Số người KT tại Cameroon là 1,6 triệu.
Pallab năm 2011 Nghiên cứu dịch tễ học KT về trí tuệ nhận thấy: Tại
Ustralia tỷ lệ KT ở độ tuổi 20 – 50 chiếm 0,33%. Tỷ lệ này ở độ tuổi 14 – 20
tại Canada là 0,7% [60].
Theo số liệu thống kê từ Canada năm 2012 nghiên cứu trên đối tượng từ
15 tuổi trở lên cho tỷ lệ KT về nghe nói là 3,2%; KT về nhìn là 2,7% [50].
Nghiên cứu của Malin Tistad năm 2012 tại Thụy Điển trên 175 bệnh
nhân bị tai biến mạch máu não cho thấy: Có 40% các bệnh nhân sau tai biến
có nhu cầu sử dụng dụng cụ trợ giúp [56].


20

Nghiên cứu của Mariolain năm 2013 trên 537 người cao tuổi về nhu cầu
PHCN trong sinh hoạt hàng ngày cho thấy: Có 57% đối tượng cần hỗ trợ
PHCN hàng ngày tại nhà [57].
Nghiên cứu của Fernada năm 2015 trên 13.040 người KT về tinh thần
cho thấy trong số đó có 12% có rối loạn về nhận thức cần PHCN và hòa nhập
xã hội [54].
1.5.2. Ở Việt Nam
Ở Việt Nam, theo kết quả điều tra bước đầu trong chương trình phục hồi
chức năng dựa vào cộng đồng, tỷ lệ khuyết tật khoảng 5% đến 7% dân số. Trẻ
em khuyết tật chiếm khoảng 40%, người có tuổi cao chiếm 30%, số còn lại
thuộc đối tượng đang trong độ tuổi lao động. Loại khuyết tật phổ biến và hay
gặp nhất là khuyết tật về vận động [21].
Theo ước tính của WHO (2007), Việt Nam có trên 6 triệu người khuyết
tật trong đó khoảng 2 triệu là trẻ em, 42% có nhu cầu PHCN. Tỷ lệ các dạng
khuyết tật: Khó khăn vận động chiếm 42%, khó khăn về học chiếm 23%, khó

Thương binh và Xã hội. Tuy nhiên, trong nhóm có khuyết tật mức độ vừa và
nặng thì khuyết tật về vận động lại phổ biến hơn. Đa khuyết tật hay tình trạng
một người có đồng thời nhiều dạng khuyết tật khác nhau khá phổ biến [42].
Năm 2009, Bộ y tế nghiên cứu ”Nhu cầ u và thực tra ̣ng cung cấ p dich
̣ vu ̣
phục hồi chứ c năng cho người khuyế t tâ ̣t tại một số điểm dân cư vùng Đồ ng
bằ ng châu thổ Sông Hồ ng” [22] cho thấy: có 61,4% người khuyết tật mắc một
tật và 28,9% mắc hai tật nâng tỷ lệ người khuyết tật mắc một cho đến hai tật
lên tới 90,6%. Tỷ lệ người khuyết tật mắc từ ba tật trở lên chỉ chiếm 9,4%.
Dạng tật mắc: dạng khuyết tật thường gặp nhất là khó khăn về nhìn chiếm
65,4%, tiếp đến là khó khăn vận động 41,8%, khó khăn về nghe 22,1%, ít gặp
nhất là người động kinh.


22

Theo NC của Vũ Ngọc Dũng (2010) “Nhu cầu và thực trạng phục hồi
chức năng người khuyết tật tại nhà trên địa bàn xã Trung Nghĩa, huyện Yên
Phong, tỉnh Bắc Ninh năm 2010”, cho thấy nhu cầu phục hồi chức năng trong
vận động di chuyển là 38,1%, trong ngôn ngữ giao tiếp là 34,7%, trong sinh
hoạt hàng ngày là 33,9%, trong hòa nhập xã hội là 98,3% [20].
Năm 2011 Trần Văn Hải nghiên cứu “Hoạt động phục hồi chức năng
dựa vào cộng đồng cho người khuyết tật về vận động tại thị xã Tam Điệp tỉnh
Ninh Bình năm 2011” cho thấy: tỷ lệ người khuyết tật chung là 1,4% trong đó
tỷ lệ khuyết tật vận động là 35,1% (nam giới 59,1%, nữ giới 40,9%). Nhu cầu
PHCN của người khuyết tật về vận động chiếm 60,5%, trong đó 77,9% NKT
vận động có nhu cầu tự ăn uống, tự vệ sinh cá nhân là 75,0%, tự mặc quần áo
là 72,8%. 98,6% người KT có nhu cầu hòa nhập cộng đồng [27].
Năm 2011, Phạm Thị Nhuyên nghiên cứu về người khuyết tật tại Hải
Dương cho thấy khuyết tật vận động là thường gặp nhất, chiếm tỷ lệ 34,3%,

và thái độ của gia đình về việc hỗ trợ PHCN cho người KT là 35,9% [32].
Năm 2014, Hồ Thị Kim Ngân nghiên cứu “Tỷ lệ khuyết tật, nhu cầu
phục hồi chức năng và các yếu tố liên quan ở người cao tuổi tại ba xã miền
núi huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định năm 2014” cho thấy: Tỷ lệ khuyết tật của
người cao tuổi trong nghiên cứu là 26,7%. Tỷ lệ khuyết tật nữ chiếm 63%,
khuyết tật nam chiếm 37%; Nhóm tuổi từ 80 trở lên bị khuyết tật chiếm
53,5% [31].
Năm 2014, Phan Thị Thúy Liên nghiên cứu: “Thực trạng thực hành phục
hồi chức năng tại nhà của người chăm sóc chính cho trẻ khuyết tật vận động
đơn thuần từ 6-16 tuổi có nhu cầu tại một số quận huyện của thành phố Đà
Nẵng năm 2014” cho thấy: Nhu cầu của trẻ khuyết tật vận động rất đa dạng,
số trẻ có nhu cầu ở các lĩnh vực là khác nhau. Mức độ cần hỗ trợ cũng có sự
khác nhau tùy từng loại nhu cầu cụ thể, trong đó 83,3% trẻ có nhu cầu trong
vận động, di chuyển, 70,1% trẻ có nhu cầu trong sinh hoạt hàng ngày, 71,6%


24

trẻ có nhu cầu trong tham gia các hoạt động gia đình, xã hội và 20,1% trẻ có
nhu cầu trong giáo dục [29].
Năm 2014, Hoàng Thị Nhâm nghiên cứu “Nâng cao khả năng hòa nhập
cộng đồng cho người khuyết tật tại huyện Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh” cho thấy
số lươ ̣ng người khuyế t tâ ̣t của huyê ̣n đa da ̣ng về các loa ̣i tâ ̣t, trong đó khuyế t tâ ̣t
vâ ̣n đô ̣ng có số lươ ̣ng đông nhấ t với 2.370 người chiế m tỉ lê ̣34,4% người khuyế t
tâ ̣t trong toàn huyện [36].


25

Chƣơng 2


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status