Thực trạng và công tác chăm sóc tật khúc xạ của học sinh trung học cơ sở quận hồng bàng thành phố hải phòng năm 2014 - Pdf 34

1

ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong những năm gần đây, cùng với sự phát triển của xã hội, các tật
khúc xạ- đặc biệt là cận thị ở các lứa tuổi học sinh cũng tăng lên. Đây không
chỉ là nỗi lo của các bậc phụ huynh, mà còn của cả nhà trường và xã hội, đồng
thời cũng tăng thêm gánh nặng trách nhiệm cho ngành y tế.
Tại Việt Nam, hiện có tới 3 triệu học sinh (độ tuổi 6- 15) bị mắc các tật
khúc xạ cần được chỉnh kính, trong đó 2/3 là bị cận thị. Tỷ lệ tật khúc xạ ngày
càng tăng nhanh, chủ yếu tập trung ở khu vực đô thị[46]. Do tính chất phổ
biến của tật khúc xạ, đã có rất nhiều đề tài nghiên cứu về vấn đề này. Tật khúc
xạ nói chung, đặc biệt là tật cận thị ở trẻ em tuổi học đường nói riêng đã được
nhiều tác giả trong và ngoài nước quan tâm nghiên cứu về nhiều mặt như: tỷ
lệ mắc bệnh trong cộng đồng, những yếu tố liên quan đến sự hình thành và
phát triển của tật khúc xạ[20]. Tật khúc xạ có xu hướng xảy ra ở giai đoạn
sớm của cuộc đời so với các bệnh gây mù lòa phổ biến khác như bệnh đục
thủy tinh thể và bệnh glocome[53]; bên cạnh đó, mắt có tật khúc xạ nặng có
nguy cơ biến chứng thoái hóa võng mạc, bong võng mạc làm tổn hại thị giác
vĩnh viễn càng làm ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống, tăng thêm gánh
nặng cho gia đình và xã hội.
Theo nghiên cứu của Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam (2008), tỷ lệ
mắc cận thị học đường trong các trường học rất cao với tỉ lệ trung bình là
26,14% trên tổng số học sinh[31]. Còn theo báo cáo của Bệnh viện Mắt TW
(2012) tại Hội nghị Nhãn khoa toàn quốc cho thấy, tỷ lệ mắc cận thị học
đường chiếm khoảng 40- 50% ở học sinh thành phố và 10- 15% ở học sinh
nông thôn[19]. Do đó, trong chương trình “Thị giác năm 2020” Tổ chức Y tế
thế giới đã xếp cận thị học đường là một trong năm nguyên nhân hàng đầu
được ưu tiên trong chương trình phòng chống mù lòa toàn cầu[7].


2



3

Chương 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Thực trạng mắc tật khúc xạ trong trường học hiện nay:
1.1.1. Khái niệm, nguyên nhân và cách đánh giá tật khúc xạ học đường:
1.1.1.1. Khái niệm:
- Mắt chính thị: là mắt bình thường, khi mắt chính thị ở trạng thái không điều
tiết thì các tia sáng phản chiếu từ các vật ở xa sẽ được hội tụ trên võng
mạc[2].

Hình 1.1. Mắt chính thị
Các tia sáng song song đi vào mắt được hội tụ trên võng mạc
khi mắt ở trạng thái nghỉ không điều tiết
- Tật khúc xạ (TKX): là từ chung chỉ các tật cận thị, viễn thị và loạn thị của
mắt, trong đó chủ yếu là cận thị chiếm tỷ lệ khá cao trong cộng đồng. TKX
đang ngày càng trở nên phổ biến và gây ra nhiều gánh nặng cho gia đình và
xã hội.
+ Cận thị: là mắt có công suất quang học quá cao so với độ dài trục nhãn cầu.
Ở mắt cận thị không điều tiết, các tia sáng song song đi từ một vật ở xa được
hội tụ ở phía trước võng mạc.


4

Hình 1.2. Mắt cận thị
Các tia sáng song song đi vào mắt được hội tụ trước võng mạc
khi mắt ở trạng thái nghỉ không điều tiết

tinh hình cầu trong các hội chứng bẩm sinh[2].
+ Viễn thị: Viễn thị là mắt có công suất giác mạc và thủy tinh thể quá yếu, do
đó ảnh của vật rơi ở sau võng mạc làm cho hình ảnh bị mờ.
Viễn thị
Viễn thị là mắt có công suất giác mạc và
thủy tinh thể quá yếu, do đó ảnh của vật
rơi ở sau võng mạc làm cho hình ảnh bị
mờ.

+ Loạn thị: Loạn thị là một tật khúc xạ thường gặp, xảy ra khi hình dạng và
độ cong của giác mạc không đều. Người loạn thị nhìn vật bị nhòe. Điều chỉnh
loạn thị bằng kính trụ.


6

Loạn thị
Loạn thị là một tật khúc xạ thường gặp, xảy ra
khi hình dạng và độ cong của giác mạc không
đều. Người loạn thị nhìn vật bị nhòe.Điều chỉnh
loạn thị bằng kính trụ.

- Thị lực: thị lực là khả năng của mắt phân biệt rõ các chi tiết của vật. Hay nói
cách khác, thị lực là khả năng của mắt phân biệt được hai điểm ở gần nhau[2].
Phân loại mức độ thị lực của tổ chức Y tế Thế giới[2],[7]:
- Thị lực > 7/10: Bình thường
- Thị lực > 3/10 - 7/10: Giảm thị lực trung bình
- Thị lực ĐNT 3m - 3/10: Giảm thị lực nặng
- Thị lực < ĐNT 3m: Mù
1.1.1.2. Nguyên nhân gây tật khúc xạ học đường:

Nếu thị lực với kính lỗ không tăng có thể do mắt bị nhược thị hoặc có bệnh lý
tại mắt.
+ Đo khúc xạ với kính cầu tối ưu:
Kính cầu tối ưu là công suất kính cầu cộng tối đa (cao nhất) và công
suất kính cầu trừ tối thiểu (thấp nhất) cho thị lực xa tốt nhất. Kính cầu tối ưu
được xác định bằng cách tăng công suất dương đến khi thị lực giảm đi hoặc
giảm công suất âm đến khi thị lực ngừng tốt hơn, để xác định một công suất
kính cầu cho phép nhìn xa rõ nhất và dễ chịu nhất.
Phương pháp chủ quan đơn giản, dễ làm, chi phí thấp, có thể áp dụng
mọi lúc, mọi nơi, có độ tin cậy cao ở người lớn và những trẻ em đã đi học.
Nhược điểm lớn nhất của phương pháp này là không loại trừ hết điều tiết của
mắt, nhất là trong những trường hợp điều tiết quá mức gây giả cận thị.
 Phương pháp khách quan:


8

+ Máy đo khúc xạ tự động.
Ưu điểm lớn nhất của máy là cho kết quả rất nhanh và thuận tiện. Ở trẻ
lớn phối hợp tốt thì cho kết quả đo khúc xạ tự động sau liệt điều tiết khá chính
xác. Ngoài ra đo khúc xạ tự động còn xác định trục loạn thị giúp định hướng
trong chỉnh kính cho bệnh nhân. Tuy nhiên máy ít tác dụng nếu bệnh nhân
định thị kém, các môi trường trong suốt của mắt bị vẩn đục, hoặc trẻ bé không
hợp tác.
+ Soi bóng đồng tử:
Soi bóng đồng tử là phương pháp đo khúc xạ rất chính xác, nhất là đối
với trẻ em và người có khuyết tật về ngôn ngữ, thính giác, thần kinh là những
đối tượng khó hợp tác nếu sử dụng các phương pháp chủ quan hay máy đo
khúc xạ tự động.
1.1.2. Tình hình mắc tật khúc xạ trên thế giới và ở Việt Nam:

Đài Loan: Lin (2001) công bố tỷ lệ cận thị ở 6- 7 tuổi là 21%, 11- 12
tuổi là 61%, 15 tuổi là 81% và 84% ở độ tuổi 16- 18[64].
Hồng Kông: Edwards (2004) công bố tỷ lệ cận thị ở trẻ em 7 tuổi là
12%, còn tỷ lệ cận thị ở tuổi 17 chiếm tới 70%[57].
Australia: Ip J. M. (2008) nghiên cứu trên 2353 học sinh từ 11– 15 tuổi
trong 21 trường trung học ở Sydney cho thấy tỷ lệ cận thị là 11,9%[60].
Jordan: Bataineh H.A. (2008) công bố 25,32% số học sinh đã được tìm
thấy có tật khúc xạ, trong đó cận thị chiếm 63,5%[52].
- Châu Mỹ:
Tại Mỹ: kết quả điều tra trên toàn nước Mỹ (1973) cho thấy tỷ lệ cận thị
là 25% trong lứa tuổi từ 12– 54 tuổi[17]. Carty M. (2000) điều tra một số
lượng lớn dân cư tại Mỹ cho biết tỷ lệ cận thị là 43%[66].
Kleinstein (2003) công bố tỷ lệ cận thị là 9,2% ở học sinh lớp 1 đến lớp
8 tại Mỹ, trong đó học sinh gốc châu Á có tỷ lệ cận thị cao nhất (18,5%), học
sinh gốc Tây Ban Nha (13,2%), học sinh người da trắng có tỷ lệ cận thị thấp
nhất (4,4%), còn tỷ lệ cận thị của người Mỹ gốc Phi là (6,6%)[63].


10

Morgan (2005) khám 14075 trẻ em tuổi từ nhà trẻ đến học sinh lớp 4
của 70 trường trong 5 bang phía Tây Nam nước Mỹ thấy tỷ lệ cận thị là
4,5%[68].
Tại Mexico: Villarreal (2003) công bố tỷ lệ cận thị ở trẻ từ 12- 13 tuổi
ở miền bắc Mexico là 44%[78].
- Châu Âu:
Tại Hy Lạp: Mavracanas (2000) công bố tỷ lệ cận thị ở trẻ từ 15- 18
tuổi là 36,8 %[65].
Thụy Điển: Villarreal (2000) công bố tỷ lệ cận thị ở học sinh từ 12– 13
tuổi là 49,7 %[79].

nói riêng đã được tiến hành và công bố. Theo số liệu điều tra của các nhà
nghiên cứu tại nhiều tỉnh, thành phố thì trong những năm gần đây tỷ lệ cận thị
gia tăng rất nhanh. Năm 1999, Bộ Y tế đã công bố chính thức tỷ lệ cận thị
chung toàn quốc ở cấp tiểu học là 0,65%, cấp trung học cơ sở là 1,6% và cấp
trung học phổ thông là 8,12%[5].
* Tại Thành phố Hà Nội:
Năm 1964, Ngô Như Hòa nghiên cứu 10823 học sinh Việt Nam, kết
quả cho thấy tỷ lệ cận thị chung là 4,2%, tỷ lệ cận thị ở học sinh ở thành phố
là 5,1%, ở nông thôn là 1,0%[16].
Năm 1999, Trung tâm mắt Hà Nội đã tiến hành khảo sát trên 3038 học
sinh ở 7 trường nội thành thấy tỷ lệ TKX là 1,85% tăng gần gấp 4 lần so với 5
năm trước, đặc biệt tăng nhiều ở cấp tiểu học[46].
Hà Nội (2000), theo điều tra của Hà Huy Tiến, tỷ lệ cận thị của học
sinh nội thành Hà Nội là 31,95%, ngoại thành là 11,75% [43].
Hà Nội (2009), nghiên cứu của Trịnh Thị Bích Ngọc cho thấy tỷ lệ cận
thị ở học sinh tiểu học là 18%; trung học cơ sở là 25,5% và trung học phổ
thông là 49,7%[36].


12

Nghiên cứu của Phạm Thị Vượng năm 2007 tại trường THCS Chu Văn
An, Tây Hồ, Hà Nội cho thấy tỷ lệ cận thị là 56,3%, và tỷ lệ cận thị ở nữ cao
gấp 2,36 lần so với tỷ lệ cận thị ở nam giới với p
13,3%. Tỷ lệ cận thị ở học sinh Tiểu học là 3,9%, THCS là 16,2%, THPT là
15,4%, và các trường chuyên cao hơn hẳn là 24,4%.
Năm 2001, Vũ Quang Dũng nghiên cứu thực trạng cận thị học đường
và một số yếu tố nguy cơ ở một số trường ở phổ thông tại Thái nguyên. Kết
quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ cận thị là 7,16%, trong đó tỷ lệ cận thị ở học
sinh nữ là 10,555, nam là 4,2%; tỷ lệ cận thị ở Thành phố Thái Nguyên là
10,78%, ở huyện Đồng Hỷ là 3,53%; tỷ lệ cận thị ở học sinh Tiểu học là
3,09%, THCS là 7,35% và THPT là 10,96%[8].
Phú Thọ (2004), nghiên cứu của Bùi Thị Kim Oanh trên 6181 học sinh
ở 10 trường trung học cơ sở tại Việt Trì cho thấy tỷ lệ cận thị là 17,42%[50].
Hưng yên (2004), nghiên cứu của Ngô Thị Chút trên 9952 học sinh trung học
cơ sở và trung học phổ thông đã công bố tỷ lệ cận thị là 8,06%[6].
Đặng Thị Huế và cộng sự nghiên cứu điều kiện học tập của học sinh 4
trường tiểu học và THCS thành phố Hưng Yên năm 2012 thấy tỷ lệ cận thị
chung là 20,7% trong đó tiểu học là 18,1%, THCS là 23,2%[20].
* Hải Phòng:
Năm 2002, Dương Thị Hương và cộng sự nghiên cứu tại bốn trường
Tiểu học và THCS của thành phố Hải Phòng cho thấy học sinh có thị lực hai
mắt dưới 10/10 là 12,5%; tỷ lệ cận thị tăng theo tuổi, ở khối học sinh lớp 9 là
33,9%[22].


14

Hải Phòng (2004), nghiên cứu của Nguyễn Thị Minh Hằng và Trần
Mạnh Đô trên 1450 học sinh các cấp bằng máy đo khúc xạ tự động có liệt
điều tiết cho thấy tỷ lệ cận thị chung là 23,4%, tỷ lệ cận thị ở nội thành là
43,7%; ngoại thành là 13,3%, tỷ lệ mắc cận thị học đường cao nhất ở cấp
trung học cơ sở[13].
Năm 2005, Đồng Trung Kiên nghiên cứu tại bốn trường Tiểu học và

điều kiện thiếu ánh sáng thì thể thuỷ tinh của mắt luôn luôn ở trong tình trạng
phải điều tiết, luôn bị căng phồng gây nên tình trạng mệt mỏi, căng cứng điều
tiết[40].
Nếu mắt phải nhìn gần kéo dài không có thời gian nghỉ ngơi thư giãn,
đến một lúc nào đó thể thuỷ tinh bị căng cứng sẽ không thể xẹp xuống được
nữa, lực điều tiết của con mắt luôn duy trì ở mức quá mạnh. Hiện tượng mắt
phải điều tiết kéo dài khi nhìn gần có thể làm cho trục nhãn cầu dài ra và gây
cận thị. Đó chính là tật cận thị mắc phải hay ta thường gọi là cận thị học
đường[7]. Theo báo cáo của cơ quan Y tế Quốc gia Mỹ (1983) về tình hình
cận thị của người dân Mỹ ở độ tuổi từ 12 đến 54, các tác giả đã nhận thấy tỷ
lệ mắc cận thị có sự kết hợp với việc mắt phải thường xuyên nhìn gần, một
yếu tố liên quan tới sự phát sinh và phát triển của cận thị[75].
Một nghiên cứu gần đây tại Australia (2008) về mối liên quan giữa nhìn
gần với cận thị học đường trên 2353 học sinh 12 tuổi tại Sydney cho thấy việc
sử dụng mắt nhìn gần nhiều có liên quan chặt chẽ với cận thị và cường độ làm
việc nhìn gần bằng mắt liên tục có mối liên quan chặt chẽ hơn là tính tổng
thời gian mắt phải làm việc gần[60].
Nghiên cứu của Saw S. M. ở Singapore (2002) trên 1005 học sinh từ 7
đến 9 tuổi và Saw S. M., M. Z. Zhang (2002) trên 957 học sinh từ 7 đến 9 tuổi
ở Trung Quốc đều công bố kết quả nhóm có học thêm có nguy cơ bị cận cao
hơn nhiều so với nhóm không học thêm, nhóm học sinh có thời gian nhìn gần
nhiều và thời gian hoạt động ngoài trời ít có tỷ lệ cận thị cao hơn rõ rệt nhóm


16

học sinh có thời gian nhìn gần ít hơn và thời gian hoạt động ngoài trời nhiều
hơn[72].
Sử dụng máy vi tính có ảnh hưởng rất lớn đến thị lực của người sử
dụng. Theo một nghiên cứu của James E. Sheedy qua điều tra 1307 đối tượng

 Các yếu tố nguy cơ do mắt phải nhìn gần kéo dài
Nếu mắt phải nhìn gần kéo dài không có thời gian nghỉ ngơi thư giãn,
đến một lúc nào đó thể thuỷ tinh bị căng cứng sẽ không thể xẹp xuống được
nữa, lực điều tiết của con mắt luôn duy trì ở mức quá mạnh. Hiện tượng mắt
phải điều tiết kéo dài khi nhìn gần có thể làm cho trục nhãn cầu dài ra và gây
cận thị. Đó chính là tật cận thị mắc phải hay ta thường gọi là cận thị học
đường [7].
- Một số nguyên nhân mắt phải nhìn gần kéo dài như :
+ Cường độ học tập, áp lực học tập.
+ Tiếp xúc nhiều với các trò chơi, giải trí.
+ Ít hoạt động nhìn xa và hoạt động ngoài trời.
+ Tầm nhìn xa hạn chế.
Nhiều nghiên cứu đã cho thấy mối liên quan giữa những yếu tố trên với
cận thị học đường. Theo nghiên cứu của Đặng Thị Huế các yếu tố nguy cơ như
học thêm, chơi điên tử, xem tivi đều có mối liên quan với cận thị học
đường[20]. Nghiên cứu khác của Nguyễn Thị Minh Tâm cũng cho kết quả
tương tự[39].
 Do công tác phòng chống cận thị chưa tốt
Mạng lưới cán bộ y tế trong các trường học thiếu về số lượng, chưa bảo
đảm chất lượng: hiện trên 80% số trường học trong cả nước chưa có cán bộ y
tế chuyên trách; điều kiện giáo dục và chăm sóc sức khoẻ cho học sinh chưa
bảo đảm do thiếu cơ sở vật chất, trang thiết bị và kinh phí hoạt động. Nhiều
trường không có bộ phận y tế học đường chuyên trách mà thường kết hợp
giáo viên tổng phụ trách kiêm nhiệm làm y tế học đường. Vì vậy nên trình độ
chuyên môn không thể đáp ứng với đòi hỏi ngày càng cao của việc chăm sóc sức
khỏe cho học sinh[9],[31].


18


19

chống và kiểm soát các tật khúc xạ trở thành một trong các lĩnh vực ưu tiên
can thiệp và cam kết của các chính phủ là cần thiết để có biện pháp thích hợp
ở cấp quốc gia. Đại hội kêu gọi tất cả các dân tộc, các tổ chức, các cơ quan và
chính phủ chia sẻ lời kêu gọi hành động của chúng tôi để giải quyết vấn đề tật
khúc xạ như một nhu cầu cấp bách về sức khỏe và phát triển và nỗ lực cùng
nhau thực hiện”[18].
1.3.1.1. Can thiệp vào nguyên nhân gây cận thị học đường:
Nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới đã có các nghiên cứu chuyên sâu về
các nguyên nhân gây cận thị học đường nhằm mục đích tác động vào đó để
ngăn ngừa sự phát sinh và phát triển của cận thị học đường. Nhiều tác giả đã
công bố các kết quả nghiên cứu yếu tố di truyền, về các gen gây cận thị học
đường[81]. Tuy nhiên cho đến nay vẫn chưa có nghiên cứu nào chứng minh
được rõ ràng nguyên nhân nào gây nên và can thiệp vào nguyên nhân đó như
thế nào để ngăn chặn được sự phát sinh của cận thị học đường[8]. Chính vì
vậy, việc lựa chọn các biện pháp can thiệp vào các yếu tố nguy cơ một cách
có hiệu quả đang được nhiều nhà khoa học rất quan tâm nghiên cứu.
1.3.1.2. Truyền thông, giáo dục sức khoẻ học đường:
Công tác truyền thông giáo dục sức khỏe học đường có vai trò rất quan
trọng trong phòng chống cận thị học đường. Tại một số tỉnh thành đi đầu
trong phòng chống cận thị học đường, việc áp dụng truyền thông giáo dục sức
khỏe học đường đến nhiều đối tượng đã bước đầu đem lại hiệu quả trong
phòng chống cận thị học đường[48].
Báo cáo của Bệnh viện Mắt thành phố Hồ Chí Minh (2006) về “Chương
trình mắt học đường tại thành phố Hồ Chí Minh” tại Hội nghị tổng kết công
tác phòng chống mù lòa Ngành Nhãn khoa toàn quốc 2006 đã nhấn mạnh tầm
quan trọng của công tác truyền thông và đúc kết một số nội dung truyền thông
cơ bản đã thực hiện như phổ biến kiến thức cơ bản qua các phương tiện thông
tin (báo, đài, nói chuyện chuyên đề, các buổi chào cờ, họp phụ huynh…). Phổ

Chế độ ăn cần thay đổi đa dạng đảm bảo đầy đủ chất dinh dưỡng, tăng
cường các thức ăn giàu vitamin A, vitamin C như rau xanh, hoa quả có màu


21

vàng đỏ, gan động vật, trứng… Đồng thời bổ sung những thuốc và vi chất cần
thiết cho mắt như vitamin A, vitamin B2, vitamin C, vitamin E, kẽm, selen,
luteine và zeaxanthine …
1.3.2.2. Xoa bóp vùng mắt phòng chống cận thị:
Theo Y học cổ truyền, phương pháp xoa bóp vùng mắt với tác dụng
thông kinh hoạt lạc, thúc đẩy lưu thông khí huyết ở vùng mắt, cải thiện tình
trạng thiếu dinh dưỡng của thần kinh thị giác và võng mạc giúp phòng ngừa
và cải thiện tình trạng mắt của người bị cận thị. Cần tiến hành xoa bóp vùng
mắt đều đặn, mỗi ngày 2 lần sáng và tối.
Hướng dẫn cho học sinh tự xoa bóp và day một số huyệt và vị trí sau:
huyệt Toản trúc, huyệt Tình minh, huyệt Tứ bạch, huyệt Thái dương, huyệt
Phong trì, mi mắt và xoa vòng quanh mắt[44].
1.3.2.3. Nghỉ ngơi, thư giãn cho mắt: không đọc sách hoặc làm việc bằng mắt
ở khoảng cách gần liên tục quá lâu. Sau khoảng 45- 60 phút học bài, đọc sách
hoặc sử dụng máy vi tính cần cho mắt nghỉ ngơi 5- 10 phút bằng cách nhắm
mắt, xoa nhẹ vùng mi mắt và nhìn ra xa với khoảng cách trên 5m.
1.3.2.4. Vật lí trị liệu:
Một số phương pháp điều trị vật lý trị liệu có tác động làm phục hồi
chức năng điều tiết mắt, tăng cường tuần hoàn cơ thể mi, võng mạc, tăng
cường trao đổi chất, tăng cường trương lực cơ như: luyện tập điều tiết trên
máy, thuốc tác động lên điều tiết, dùng sóng siêu âm, lazer năng lượng thấp…
1.3.2.5. Đeo kính:
Khi bị cận thị, thị lực giảm sẽ làm cho các hoạt động học tập, rèn luyện
và sinh hoạt của học sinh gặp nhiều khó khăn. Vì vậy, việc đeo kính phân kỳ

- Quản lý, tư vấn kiến thức chăm sóc mắt cho học sinh.
- Tuyên truyền phổ biến kiến thức chăm sóc mắt học đường.
- Cấp kính miễn phí.
Năm 2011, dự án phát triển chăm sóc mắt cộng đồng do quỹ Fred
Hollows (FHF-Fred Hollows Foundation) tài trợ đã tiến hành 1 cuộc điều tra,
khám sàng lọc ở 20 trường trung học cơ sở huyện Bắc Quang và 07 trường


23

trung học cơ sở tại thành phố Hà Giang, kết quả cho thấy: Tại Bắc Quang qua
276 học học sinh được khám sàng lọc thì có 103 học sinh được khám xác định
mắc tật khúc xạ (37,3%). Tại TP Hà Giang qua 519 học sinh được khám sàng
lọc thì có 124 học sinh được khám xác định mắc cận thị (24%) và đã có 101
học sinh được cấp và chỉnh kính[38]. Tại Quảng Bình, trong công tác phòng
chống tật khúc xạ học đường, FHF và Trung tâm phòng chống bệnh xã hội
Quảng Bình đã tổ chức thành công các hội thảo về nội dung chăm sóc mắt
học đường với sự tham gia của Phòng Giáo dục- Đào tạo, Trung tâm y tế dự
phòng các trường trung học cơ sở trên địa bàn thành phố Đồng Hới. Qua các
đợt khám, sàng lọc, cán bộ y tế đã tư vấn kiến thức chăm sóc mắt cho hàng
ngàn học sinh, hàng trăm học sinh bị tật khúc xạ được cấp kính miễn phí[46].
Tổ chức HKI Việt Nam đã triển khai khám mắt, cấp kính miễn phí cho
gần 40000 học sinh ở 35 trường tiểu học và THCS. Thông qua các hoạt động
khám sàng lọc cho học sinh, chương trình phát hiện nhiều trường hợp mắc các
tật khúc xạ chưa được chỉnh kính. Đồng thời trên 7000 học sinh đã được cấp
kính miễn phí. Triển khai nhiều hoạt động truyền thông: phát 13000 tờ rơi,
poster cho các trường học lồng ghép kiến thứcvề tật khúc xạ cho học sinh, mở
các khóa tập huấn cho giáo viên, các buổi sinh hoạt chào cờ, sinh hoạt đội,
các buổi học ngoại khóa. Ngoài ra, HKI phối hợp với Bệnh viện Mắt TW hỗ
trợ trang thiết bị nhãn khoa cơ bản, và đào tạo cho 9 khúc xạ viên tại 9 huyện,

2.2. Phương pháp nghiên cứu:
2.2.1. Thiết kế nghiên cứu:
Nghiên cứu mô tả cắt ngang kết hợp định lượng và định tính.
2.2.2. Cỡ mẫu và cách chọn mẫu:
 Nghiên cứu định lượng: nghiên cứu mô tả cắt ngang xác định tỷ lệ mắc
rối loạn thị giác và cận thị của học sinh đồng thời mô tả các yếu tố ảnh hưởng.
* Cỡ mẫu:


25

p.q

n = Z2 1-α/2

(p.ε)²
Trong đó:
n: là cỡ mẫu cần thiết.
Z 1-α/2 : là hệ số tin cậy, lấy giá trị 1,96 (tương ứng với giới hạn độ
tin cậy là 95%)
p= 15% (lấy giá trị p dựa trên kết quả nghiên cứu của tác giả Đặng
Thị Huế 2013)[20].
q = 1- p
ε: Giá trị tương đối, chọn một tỷ lệ của ε là 10%.
Thay vào công thức ta có:
n = (1,96)2.

(0,15.(1-0,15))
(0,15.0,1)2 = 2121


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status