Yếu tố kì ảo trong tiểu thuyết Trăm năm cô đơn của G.
Marquez
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Văn học Mỹ Latinh là một nền văn học có sức sống mạnh mẽ và đạt rất nhiều thành tựu rực rỡ.
Từ giữa thế kỉ XX đã có tiếng vang trên thế giới, thu hút nhiều nhà nghiên cứu và phê bình văn
học đặc biệt quan tâm. Với sự xuất hiện nhiều tên tuổi nổi tiếng như Miguel Angel Asturias,
Jorge Luis Borges, Alejo Carpentier, Carlos Fuen- tes, Pablo Neruda, Otavio Paz…. Và không
thể không nói đến Gabriel Garcia Marquez, một đại diện tiêu biểu xuất sắc của nền văn học dân
tộc Côlômbia nói riêng và Mỹ Latinh nói chung.
G. Marquez xuất hiện trên văn đàn thế giới và được mọi người biết đến là một “bậc thầy của chủ
nghĩa hiện thực huyền ảo”. Với tài năng và tấm lòng nhiệt huyết của mình ông đã sáng tạo nên
nhiều tác phẩm rất xuất sắc và được độc giả yêu mến. Tiêu biểu nhất, là tiểu thuyết Trăm năm cô
đơn – một kiệt tác xuất sắc của ông.
Trăm năm cô đơn là cuốn tiểu thuyết nổi tiếng nhất của G.Marquez. Tác phẩm được nhà xuất bản
Subamerica xuất bản lần đầu bằng tiếng Tây Ban Nha vào năm 1967 tại Buenos Aires
(Argentina). Vào năm 1970, truyện đã được in bằng tiếng Tây Ban Nha hơn nửa triệu bản. Cho
đến nay, tác phẩm đã chuyển dịch qua hơn 30 ngôn ngữ trên thế giới trong đó có Việt Nam. Tác
phẩm được tặng giải Chianchiano của Ý, được Pháp công nhận là cuốn sách hay nhất trong năm
và được giới phê bình văn học Mỹ đánh giá là một trong 12 cuốn sách hay nhất trong thập niên
1960. Và chính tác phẩm này đã mang đến cho tác giả vinh dự đoạt giải Nobel Văn học vào năm
1982.
Cho đến nay tác phẩm vẫn còn sức hút đặc biệt với nhiều thế hệ độc giả. Rõ ràng Trăm năm cô
đơn là cuốn sách ăn khách, mặc dù tác giả viết không phải mục đích câu khách. Người đọc tìm
đến với Trăm năm cô đơn bởi đó là cuốn sách văn học thực sự mang hơi thở đời sống hiện đại Trăm Năm Cô Đơn của niềm tin và số phận con người.
Sự thành công của cuốn tiểu thuyết không chỉ dừng lại ở mức độ đó, mà nó còn thành công trên
rất nhiều phương diện… Và cuốn tiểu thuyết này chính là tất cả tâm huyết của tác giả. Có thể nói
cuốn tiểu thuyết này là cả một quá trình lao động sáng tạo miệt mài không ngừng nghỉ của tác
giả.
Vì lẽ lý do trên và ước muốn nên người viết đã chọn đề tài “Yếu tố kỳ ảo trong tiểu thuyết Trăm
năm cô đơn của G.Marquez” làm đề tài nghiên cứu của mình. Việc nghiên cứu đề tài này giúp
Đinh Công Bắc, Đinh Quang Trung … từ các bài viết của các tác gia nước ngoài. Cuốn sách đã
giới thiệu cho ta một cách rõ nét về tình hình phát triển của nền văn học Mỹ Latin, trong đó cũng
giới thiệu một cách khái quát về tác giả G. Marquez và tiểu thuyết Trăm năm cô đơn.
Đào Thị Thu Hằng trong bài viết Yếu tố huyền ảo trong tác phẩm Kawabata và Marquez trong
cuốn Văn học so sánh – nghiên cứu và triển vọng, Trần Đình Sử, Lã Nhâm Thìn, Lê Lưu Oanh
(tuyển chọn), Nxb ĐHSP, 2005. Tác giả đã so sánh Chủ nghĩa hiện thực huyền ảo trong sáng tác
của hai nhà văn nói trên và qua đó đã khám phá đặc sắc về không gian và thời gian trong tiểu
thuyết Trăm năm cô đơn. Tuy nhiên bài viết vẫn chưa đi sâu vào nghiên cứu cụ thể về cuốn tiểu
thuyết Trăm năm cô đơn.
Đỗ Xuân Hà trong bài viết tiểu thuyết hiện thực huyền ảo: Trăm năm cô đơn của Gabriel Garcia
Marquez trong cuốn Văn học thế giới thế kỉ XX, Nxb ĐHQGHN, 2006. Trong bài viết này, Đỗ
Xuân Hà thông qua những nét tiêu biểu nhất về con người cũng như những sáng tác của
G.Marquez, nêu lên một số thành tựu của G.Maquez trong Trăm năm cô đơn trên các mặt nội
dung và nghệ thuật và chỉ ra phương pháp sáng tác trong Trăm năm cô đơn là Chủ nghĩa huyền
ảo kết hợp với Chủ nghĩa hiện thực tỉnh táo và các yếu tố hoang đường. Bên cạnh những cái có
thực trong đời sống xã hội của Mỹ Latin thời bấy giờ, tác giả cũng đã phân tích những yếu tố kì
ảo trong tác phẩm và chỉ ra những đặc điểm nghệ thuật tiêu biểu như: sự kết hợp nhiều loại thời
gian trong quá trình kể chuyện của tác giả, nghệ thuật cá tính hóa nhân vật làm cho người đọc
không bị nhầm lẫn giữa các nhân vật trùng tên nhau, thông qua đó ông chỉ những thành công của
Maquez trong việc thể hiện nội dung và nghệ thuật của tác phẩm.
Và phải kể đến cuốn chuyên luận về Chủ nghĩa hiện thực huyền ảo và Gabrile Garcia Marquez
của Lê Huy Bắc, Nxb Giáo dục Việt Nam, 2009. Tác giả đã tóm lượt được nội dung của tiểu
thuyết Trăm năm cô đơn một cách cụ thể và khái quát nhất qua từng chương để người đọc có thể
hình dung được, Ngoài ra còn đi sâu vào nghiên cứu tác phẩm ở một số mặt nội dung cũng như
nghệ thuật để cho người đọc có thể hình dung và hiểu một cách sâu sắc nhất nhất.
Nhìn chung những công trình trên đã phần nào khái quát lên được những đặc điểm về nội dung
cũng như hình thức nghệ thuật…. của tiểu thuyết Trăm năm cô đơn và đã giúp chúng tôi rất
nhiều trong việc tìm hiểu, nghiên cứu. Trên cơ sở đó cộng với sự kết hợp một số nguồn tư liệu
1.1.2. Khái niệm cái kì ảo
Cái kì ảo trong văn học nghệ thuật là đối tượng hấp dẫn giới nghiên cứu phê bình văn học
phương Tây. Năm 1963, Hiệp hội “Những người nghiên cứu văn học đã được thành lập tại
Bruxenlles (thủ đô Bỉ)”, với mục đích hợp tác nghiên cứu và công bố các phát hiện liên quan đến
vấn đề này. Vì thế các công trình nghiên cứu về cái kì ảo cũng đã ra đời. Việc chuyển dịch thuật
ngữ “Le Fantastique” (tiếng Pháp) sang tiếng Việt có nhiều cách gọi khác nhau, điều này cũng
cho thấy sự đa dạng và phong phú trong cách nhìn nhận một vấn đề. Lê Nguyên Cẩn dịch là “cái
kì ảo”, GS Hoàng Trinh dịch là “Kì dị, quái dị”, Trọng Đức dịch là “quái dị”, Tạp chí văn học
nước ngoài dịch là “kinh dị”. Trong đề tài này chúng tôi dựa trên cách gọi và dịch của Lê
Nguyên Cẩn là “cái kì ảo”.
Định nghĩa về cái kì ảo là một vấn đề, có nhiều ý kiến đưa ra khác nhau:
Adrian Mario trong Từ điển các ý kiến văn học thì cái kì ảo chỉ là “những cái không tồn tại trong
hiện thực, những cái không có thực và được tạo ra do tưởng tượng”. Tiếp theo đó thuật ngữ này
tiếp nhận ý nghĩa là “hình ảnh cảm giác (trong tâm lí học cổ điển) và hình ảnh trí tuệ (tâm lý học
hiện đại). Ông xác định “cái kì ảo là sản phẩm của trí tưởng tượng, hư cấu”, “trong thực tế, cái kì
ảo chỉ có thể ra đời từ bản thân cái tưởng tượng (Fantaisie) – cái duy nhất sinh ra nó, hợp pháp
hóa nó và xác định nó như một sản phẩm mĩ học đặc thù”, “cái kì ảo tạo ra khả năng thường trực
về suy luận, một sự thâm nhập của cái không có khả năng hoặc không thể nhìn thấy được trong
lĩnh vực của những điều giải thích được” [2, tr.28].
George Munteanu trong Từ điển thuật ngữ văn học có xác định: “Cái kì ảo bao hàm mọi cái ngẫu
nhiên không quen thuộc, nhưng giải thích được bằng hàng loạt nghiên nhân có thực” [2, tr.28].
Trong Văn học Kì ảo Pháp, M.Schneider cũng đưa ra nhận xét: “Cái kì ảo khai thác không gian
nội tâm, nó gắn liền với sự sợ hãi trong cuộc sống và trong hi vọng thay đổi” [2, tr.18].
P.G.Castex cũng có cho rằng: “Cái kì ảo trong văn học là hình thức thuần túy (…) nó được tạo ra
từ giấc mơ, từ sự mơ tín, sợ hãi, hối hận, từ sự kích thích quá độ của trí não hay tâm linh, từ sự
mê đắm và từ tất cả mọi hiện tượng mang tính chất bệnh lí. Nó được nuôi dưỡng bằng ảo giác,
bằng sự khủng khiếp điên cuồn” [2, tr.20].
Theo các Từ điển giải nghĩa của Pháp, Từ điển thuật ngữ văn học của Rumani, Từ điển Pháp –
Việt của các soạn giả khác nhau, thì nội hàm thuật ngữ được xác định như sau: “Cái kì ảo là sản
phẩm của trí tưởng tượng, được tạo ra nhờ khả năng suy tưởng; ở đó cái siêu nhiên chiếm ưu thế.
Magdalena. Đến trường, ông vẫn giữ tính rụt rè nhưng nổi tiếng với những vần thơ trào phúng và
tranh biếm họa. Sự nghiêm túc và ít say mê thể thao đã khiến các bạn đặt cho ông biệt danh ông
cụ.
Năm 1940, tại trường trung học cơ sở, ông nhận phần thưởng đầu tiên trong đời. Phần thưởng
của các giáo sĩ Dòng Tên (thuộc Giáo hội Thiên Chúa giáo La Mã) trao cho các học sinh tài
năng. Ngôi trường ông theo học có tên là Liceo Nacional, nằm ở Zipaquira, thành phố cách
Bogota khoảng 60 cây số về phía bắc. Hành trình đi học phải mất cả tuần lễ và vào ngay lúc đó
ông đã cảm thấy không thích thành phố thủ đô Bogota theo ông là ảm đạm và khắc nghiệt. Ông
quyết tâm thành nghệ sĩ lãng du.
Ở trường, ông gắn bó với bạn bè. Buổi tối ông thường đọc sách cho các bạn kí túc cùng nghe. Là
người có khiếu hài đặc biệt, tuy chưa viết được tác phẩm nào to tác nhưng tình yêu văn học,
tranh biếm họa đã mang lại cho ông biệt hiệu nhà văn. Có lẽ danh tiếng này đã góp phần định
hướng cho văn nghiệp đồ sộ sau này của ông. Như vậy, cuộc phưu lưu văn chương của Marquez
bắt đầu khá sớm, ông viết truyện ngắn và viết báo chí khi còn là sinh viên.
Năm 1946, chàng trai 18 tuổi, theo ước nguyện của bố mẹ đã vào nghành luật tại Đại học Quốc
gia Bogota. Trong thời gian này, Ông gặp và yêu Mercedes Barcha Pardo khi cô 13 tuổi, ông
tuyên bố cô là người thú vị nhất mà mình từng gặp và đã cầu hôn cô một cách nồng nàn. Nhưng
mãi đến mười bốn năm sau họ mới làm lễ cưới.
Năm 1959, khi cách mạng Cuba thành công – một sự kiện làm chấn động Mỹ Latinh và toàn bộ
Châu Âu đã tác động không nhỏ đến G.Marquez. Ông nhiệt liệt chào mừng sự kiện đó và nhận
làm phóng viên cho hãng thông tấn thường trú Cuba và Mỹ.
Từ năm 1961 đến 1967, ông sống ở Mêhicô và tiếp tục sáng tác. Năm 1967 tiểu thuyết Trăm
năm cô đơn ra đời đã gây được tiếng vang lớn trong lòng độc giả và được dư luận trong và ngoài
nước đánh giá rất cao.
Năm 1969 Q.Marquaz nhận giải thưởng Rômugô Gazêrô của Vênêzuêla. Năm 1971, trường Đại
học Côlômbia (Mĩ) tặng ông bằng tiến sĩ danh dự văn học và giải Nôxtat dành cho người nước
ngoài.
Năm 1981, G.Marquez bị chính phủ Côlômbia trục xuất vì bị nghi là có liên hệ với phong trào du
kích ở miền núi nước này và phải sống lưu vong ở Mêhicô. Cũng trong năm này ông được chính
phủ Pháp tặng huân chương bắc đẩu bội tinh. Năm 1982, ông nhận giải thưởng Nôbel về văn
huyền ảo.
Trong sáng tác của Marquez, ta bắt gặp những câu chuyện ông đưa vào những hiện tượng thuộc
đời sống ý thức ở trình độ trực quan và cả những hiện tượng thần giao cách cảm mà theo ông đó
là những điều có thực ở Mỹ Latinh. Ông luôn vận dụng vào trong tác phẩm của mình kiểu kiến
trúc nhiều tầng, phương thức kỹ thuật tự sự nhiều người kể chuyện trên cơ sở thời gian đa chiều,
sử dụng phép loại hình hóa nhân vật và nghệ thuật dân gian. Đó chính là những đặc trưng của
chủ nghĩa hiện thực huyền ảo. G.Marquez đã khẳng định mình bằng việc cách tân trong sáng tác
viết tiểu thuyết và được độc giả hoan nghênh rất nhiều
1.3. Trăm năm cô đơn – một cuốn tiểu thuyết xuất sắc của thế kỷ XX, một đại diện xuất sắc
của thể loại văn học kì ảo
Gabriel Garcia Marquez bắt đầu viết Trăm năm cô đơn vào đầu năm 1965. Trước đó, trong
khoảng thời gian từ 1961 tới 1965, với văn học, ông không sáng tác một dòng nào do tâm lý sợ
thất bại từ các tác phẩm trước. Tháng 1 năm 1965, khi đang lái xe từ thành phố Mexico tới khu
nghỉ mát Acapulco, Garcia Marquez bỗng dừng xe và nói với vợ, bà Mercedes Barcha: "Anh đã
tìm được giọng điệu rồi! Anh sẽ kể lại câu chuyện này với gương mặt khô cứng như gỗ của bà
ngoại khi kể cho anh nghe những câu chuyện lạ, bắt đầu từ cái buổi chiều nọ khi đứa bé được bố
đưa đi xem nước đá."
Garcia Marquez gom được 5000 USD tiếp kiệm và bạn bè giúp đỡ để đưa cho vợ lo chi tiêu
trong gia đình, còn ông đóng cửa viết trong 18 tháng. Khi cuốn sách hoàn thành cũng là lúc vợ
ông cho biết gia đình đã nợ lên tới 10.000 USD. Để có tiền gửi bản thảo, Garcia Marquez phải
bán nốt một số vật dụng giá trị trong nhà. Được xuất bản vào năm 1967, Trăm năm cô đơn ngay
lập tức gây được tiếng vang lớn.
Câu chuyện kể về một dòng họ và ngôi làng họ sống, Macondo qua một trăm năm, tựa như một
phần lịch sử của Colombia. Macondo là ngôi làng do Gabriel Garcia Marquez tưởng tượng ra,
dựa trên những ký ức của ông về ngôi làng thời niên thiếu của mình, điều này đã được ông kể lại
trong cuốn hồi ký Sống để kể lại ( Vivir para contarla). Dòng họ Buendia bao gồm 7 thế hệ.
Người đầu tiên trong dòng họ là Jose Acardio Buendia và người cuối cùng của dòng họ là
Aureliano đã bị kiến ăn khi vừa mới được sinh ra. Dòng họ này đã tự lưu đày vào cõi cô đơn để
luận và phê bình gọi là Chủ nghĩa hiện thực huyền ảo – một sản phẩm đặc thù của Mỹ Latinh
hiện đại. Về mặt ý nghĩa, Trăm năm cô đơn như là một lời cảnh báo, một lời kêu gọi đoàn kết đối
với nhân loại ngày nay: tai họa sẽ đến nếu như sự cô đơn, sự tha hóa sẽ thắng thế trong đời sống
con người. Chỉ có đoàn kết con người trong tình yêu thương, lòng nhân ái và nỗ lực diệt trừ cái
ác, những dòng họ bị kết án vĩnh viễn trăm năm cô đơn mới có thể có cơ hội được hồi sinh trên
trái đất này.
Chương hai: Trăm năm cô đơn của G.Marquez – một cuốn tiểu thuyết mang nhiều yếu tố kì
ảo
2.1. Biểu hiện các yếu tố kì ảo trong tiểu thuyết Trăm năm cô đơn của G.Marquez
2.1.1. Những lời dự báo, tiên tri
Trong tiểu thuyết Trăm năm cô đơn, chúng ta bắt gặp những hiện tượng thuộc đời sống tiền logic
của những nhân vật. Đó là khả năng tuyệt vời của đại tá Aurêlianô Buênđya, là một người trầm
tính nhưng chàng luôn làm cả nhà ngạc nhiên bởi những tiên đoán hết sức chính xác của mình.
“Một ngày nọ, cậu bé Aurêlianô mới lên ba, bước vào phòng bếp giữa lúc Ucsula nhắc nồi canh
ra khỏi bếp và đặt nó lên bàn, chính trong ngày này bà mới nhận ra sức nặng của cái nhìn ấy.
Cậu bé thập thò ngoài của sổ nói “nó sẽ đổ đấy”, cái nồi đã được đặt chắc chắn trên bàn,
nhưng bỗng nhiên đúng như lời cậu bé báo trước, nó bắt đầu rung lên bần bật rồi lăn ra mép
bàn như có sức đẩy từ bên trong và nó vỡ toang từng mảnh trên sàn nhà”
Đó là dự báo trước của Aurêlianô cho cả nhà biết sẽ có người lạ đến ở nhà mình khi Rêbêca trên
đường đến làng Macônđô cùng với những người Digan “có người đến nhà mình đấy (…) quả
nhiên Rêbêca đến vào một ngày chủ nhật”. Hay là khả năng ngoại cảm của ông về cái chết của
Hôsê Accadiô Buênđya đã làm Usula hoảng hốt. Dù ở xa nhưng Aurêlianô vẫn cảm nhận được
cái chết của Hôsê Accadiô Buênđya đang đến gần khi ông cho sứ giả mang bức thư báo cho gia
đình biết trước hãy trông nom cha cẩn thận vì cha sẽ mất.
Đó có thể là những điềm báo trước những sự việc sắp xảy ra mà những người thuộc dòng họ
Buênđya cảm nhận được. Linh tính đã báo trước cho Usula trước buổi hành hình đại tá Aurêlianô
khi bên tai bà bỗng nghe tiếng nói của anh. Hay là là điềm báo trước cho bà về việc đại tá
Aurêlianô sẽ tự tử “Usula mở vung nồi sữa đang nấu trên bếp, ngạc nhiên thấy rằng sao nó lâu
niềm tôn giáo, các huyền thoại và truyền thuyết”. Và hiện thực trong tác phẩm qua cảm quan của
G.Marquez là những hư cấu tạo nên một thủ pháp nghệ thuật.
Khi đọc tác phẩm Trăm năm cô đơn, chúng ta bắt gặp những hình ảnh kì diệu, dị thường, phi
thường qua ngoài bút khoa trương của tác giả nhằm thể hiện quan niệm, tư tưởng của mình trước
cuộc sống của con người, xã hội Mỹ Latinh thời bấy giờ.
Đó là những hình ảnh về nột trời mưa hoa trong đám ma của Hôsê Accađiô Buêđya, một đám ma
chưa từng có trong lịch sử của làng Môcônđô “Cả đem ấy những bông hoa li ti màu vàng rơi
xuống một cái làng đang trong nỗi âm thầm đau khổ. Hoa phủ kín các nóc nhà và hoa lấp kín
các lối ra vào. Bầu trời sực nức mùi hoa khiến cho các con vật ngủ ngoài trời phải ngột thở.
Hoa rơi xuống không biết cơ man nào mà kể, đến mức khi trời sáng các con đường phủ đầy hoa
phẳng lì như một tấm chăn. Người ta phải dùng gậy mà hất hoa đi để lấy lối cho đám tang đi
qua”. Trận mưa hoa thể hiện cảm quan thương xót của G.Marquez trước con người đầy nghị lực,
thông minh, luôn đam mê hiểu biết. Hôsê Accađiô Buênđya là người khai sinh ra làng Macônđô,
người có nhiều công lao trong việc xây dựng và dẫn dắt dân làng phát triển theo mô hình phong
kiến. Ông là người được toàn bộ những người dân trong làng kính trọng, mọi quyết định của ông
trong việc xây dựng và phát triển ngôi làng đều được mọi người đồng tình ủng hộ. Cái chết của
ông không chỉ làm cho cả làng chìm trong nỗi âm thầm đau khổ mà còn khiến trời phải động
lòng rơi những giọt mưa hoa đau xót tiến đưa.
Khi đọc hết tác phẩm Trăm năm cô đơn, có lẽ người đọc khó có thể quên ngay được những hình
ảnh về trận lụt kéo dài bốn năm mười một tháng hai ngày, trận hạn hán mười một năm và một
trận cuồng phong xóa sạch mọi dấu vết về làng Macônđô. Đó là những chi tiết được tác giả sử
dụng ngòi bút phóng đại khoa trương, nhằm thể hiện cảm quan của mình trước thực tại Mỹ
Latinh. Đó là những chi tiết được tác giả sử dụng ngòi bút phóng đại khoa trương, nhằm thể hiện
cảm quan của mình trước thực tại Mỹ Latinh. Bọn tư sản Bắc Mỹ, ở đây là công ty chuối của
ngài Brao khi tới làng Macônđô đã mang đến đây nhiều phát minh mới nhưng cũng đưa đến
không biết bao nhiêu là tệ nạ, nhiều thứ văn hóa đồ trụy, làm cho ngôi làng hiền hòa năm nào giờ
thay đổi một cách chống mặt. Người Mỹ, ở đây là Brao rất xảo quyệt và tráo trở tìm mọi cách
thoái thác những yêu cầu chính đáng của công nhân đòi hỏi cho quyền lợi của họ, buộc họ phải
đứng lên đấu tranh. Khi cuộc đấu tranh lên đến cao trào, người Mỹ thẳng tay tắm máu công nhân
bằng một vụ thảm sát tất cả những ai có mặt ở sân ga và sau đó dùng đoàn tàu dài trăm toa chở
uống nước, đã nhìn thấy Prudenxiô Aghila đứng ngay bên cạnh chum. Anh ta đứng đấy da xanh
tái, vẻ rầu rĩ đang dùng nắm rơm bát để nhét vào lỗ thủng nơi cổ họng”. Ucsula và Hôsê
Accađiô Buênđya luôn thấy bóng ma của Prudenxiô hiện về vì “anh bị dằn vặt bởi chính nỗi
mênh mang của người chết từ trong mưa nhìn anh, bởi chính nỗi thương cảm sâu sắc của người
chết đối với người sống, bởi chính cơn khát của người chết lục khắp nhà để tìm nước dấp bã
lau”. Sự dằn vặt lương tâm ấy đã ăn sâu vào dòng học Buênđya, cái chết của Prudenxiô đã tạo
nên nỗi hoài nhớ do lương tri bị dằn vặt đến với các đời con cháu trong dòng họ Buênđya.
Pruđenxiô Aghila, người đến từ cõi âm là ám ảnh trạng thái tâm lí thường gặp ở conn người
mang tội lỗi. Dù họ cố gắng gạt bỏ đi tất cả sự dằn vặt, ân hận vì tội lỗi, nỗi lo sợ bị trả thù, cố tỏ
ra là người “duy vật” thì những bóng ma vẫn bám lấy họ. Đó là trạng thái hằng nhớ, dằn vặt vặt
lương tâm đã khiến cuộc sống của họ trở thành địa ngục trần gian, bị dày vò bởi những cơn mơ
va những cơn khắc khỏi đỏ màu máu.
2.1.4. Hình tượng nhân vật khác thường, dị thường, quái dị
Tiểu thuyết Trăm năm cô đơn có khoảng sáu mươi nhân vật cả chính lẫn phụ, nhưng độc giả vẫn
dễ dàng phân biệt các nhân vật với nhau mặc dù có rất nhiều nhân vật trùng tên giữa hệ thống
nhân vật có quan hệ mật thiết với nhau. Họ được miêu tả như những con người sống trong thực
tại cùng sinh sống và tồn tại trong ngôi nhà yên bình, hẻo lánh, họ cố mối quan hệ yêu thương
lẫn nhau như vợ chồng, anh chị, mẹ con, tình nhân,… và cũng có những mối quan hệ đối địch
với nhau như quan hệ giữa phái bảo hoàng và phái tự do. Tuy nhiên, bên cạnh những nhân vật
bình thường, thì trong thế giới nhân vật đó, tác giả dùng những biện pháp miêu tả, cường điệu,
phóng đại với phong cách quái dị pha trộn với phong cách kỳ diệu, huyền thoại và đời thường
kết hợp với hiện thực và huyền ảo để tạo nên những con ngươi phi thường, quái dị.
Đầu tiên phải kể đến nhân vật Menkyađêt – một con người phi thường, ông già thông thái, người
gắn bó với nhiều thế hệ trong gia đình Buênđya. Menkyađêt hiện lên trong tâm trí người đọc với
hình ảnh một người đàn ông đầu đội mũ cách quạ mang nhiều nét huyền bí về lai lịch và thân
thế. “Một người Digan lực lưỡng, hàm râu lởm chởm, bàn tay lông lá, tự giới thiệu mình là
Menkyađêt, làm ngay một thí nghiệm kinh rợn trước công chúng về cái mà ông ta gọi là kỳ quan
thứ tám của các nhà thuật sĩ về luyện đá giả kim uyên bác xứ Masêđoan”. Cùng với những
người trong bộ tộc của mình, ông đã mang những phát minh vĩ đại của thế giới bên ngoài để giới
thiệu cho dân làng Macônđô và đã làm kinh ngạc những người dân sống khép kín đến u mê lạc
được xuất thân và gia đình, cha mẹ cô như thế nào, cô đến với gia đình Buênđya cùng với những
bao tải đựng hài cốt cha mẹ luôn phát ra tiếng kêu lộc cọc khắp mọi nơi. Rêbêca khác hoàn toàn
với những người mang dòng họ Buênđya những thứ mà những Buênđya thiếu là trái tim và tình
yêu sôi nổi thì cô lại có thừa. Cô yêu da diết anh chàng người Ý Piêtrô Crêspi tưởng như không
gì có thể chia cách tình yêu của họ. Nhưng một lần nữa tình yêu lại đến với cô một cách mãnh
liệt khi cô gặp Hôsê Accađiô, cô yêu anh ta say đắm, cùng anh xây dựng gia đình và chia sẻ với
anh nỗi cô đơn truyền kiếp của dòng họ mình. Một đặc điểm ở nhân vật này để lại dấu ấn sâu sắc
trong lòng người đọc không phải ở sắc dẹp, tình yêu mãnh liệt mà đó là cô gái nặng hoài nhớ ăn
đất. Rêbêca “không thích ăn cơm mà trái lại chỉ thích ắn đát ẩm ngoài sân và vách đất do cô
dùng ngón tay cậy ra từ các bức tường”. Đó là đặc điểm khác thường khu biệt dễ nhận thấy giữa
nhân vật này với các nhân vật khác.
Khi đọc tác phẩm, người đọc không khỏi ngạc nhiên và buồn cười trước những đặc điểm dị
thường, quái dị của nhân vật Pêtra Côtêt. Đó là tình dục của cô ta có ảnh hưởng quyết định đến
tính mắn đẻ của bầy gia súc, “Chỉ cần anh mang Pêtra Côtêt đến các chuồng trại, để ả ngồi trên
ngựa, dẫn ả đi chơi các trang trại là đủ cho súc vật của anh phải sinh đẻ rất nhanh”. Aurêlianô
Sêgunđo là tình nhân của ả, sự nồng thắm trong yêu đương của hai người không chỉ giúp họ thỏa
mãn hạnh phúc mà khiến cho đàn gia súc của họ sinh sôi nảy nở một cách nhanh chóng đến mức
kì lạ, mang tính chất hoang đường.
2.1.5. Macôndô - một không gian huyền ảo, thần thoại
Được lấy cảm hứng từ một lần đi tàu hỏa cùng mẹ quay về Aracataca để bán ngôi nhà cũ của ông
ngoại, địa danh Macôndô xuất hiện bất ngờ trước mắt tác giả khi nhìn thấy tên của một đồn điền
chuối. Trong quá trình tìm hiểu sau đó, Marquez biết được rằng Macôndô có thể bắt nguồn từ tên
gọi Makondos của một bộ tộc du mục ở Tanganyika, hoặc cũng có thể là tên của một loài cây
vùng nhiệt đới khá giống với cây gạo. Tuy nhiên, sở dĩ vùng đất Macôndô đã ám ảnh xuyên suốt
sự nghiệp sáng tác của Marquez, không phải bởi sự ngẫu nhiên khi tìm thấy một địa danh, mà
bởi tên gọi này đã phù hợp với dự phóng sáng tạo của người cầm bút. Bởi đó là một tên gọi:
“khiến tôi chú ý ngay từ những chuyến đi đầu tiên với ông ngoại, nhưng chỉ khi trở thành người
lớn, tôi mới phát hiện rằng mình thích nó bởi nó đọc lên nghe rất nên thơ”. Như vậy, vùng đất
cuộc hành trình khám phá ra thế giới mới là một hành trình nhằm trốn chạy khỏi ám ảnh tội lỗi vì
đã giết đồng loại.
Tuy nhiên, nguyên nhân sâu xa cho hành trình đó lại là ám thị về tội loạn luân. Hai vợ chồng
José Arcadio Buendía và Úrsula Iguarán đều lấy nhau với địa vị là những người bà con gần gũi
về huyết thống, trong một dòng họ có truyền thống loạn luân. Chính vì vậy, sự cảnh báo của tổ
tiên về hậu quả sẽ đẻ ra những đứa con kì đà, những đứa con có cái đuôi lợn luôn ám ảnh hai vợ
chồng trẻ, khiến Úrsula luôn đeo chiếc quần trinh tiết mỗi khi gần gũi chồng. Chính cái quần này
làm người ta nghi ngờ bản năng đàn ông của José A.Buendía, và cơn giận giữ đó đã bùng phát
không thể nào cưỡng nổi khi P.Aguilar vô tình nói lỡm. Ngay trong đêm mà cả làng khóc thương
cho cái chết bi thảm của P.Aguilar, José A.Buendía đã quyết tâm xé tan chiếc quần trinh tiết, và
cả hai vợ chồng ái ân trong hoan lạc cho đến sáng.
Chủ thể làng Macônđô trong giai đoạn khai lập là lão trượng José Arcadio Buendía, người điều
hành và cũng là người khai phá ra vùng đất này. Lão trượng José Arcadio Buendía đã điều hành
Macônđô trong sự công bằng của một thị tộc công xã nguyên thủy, và chính đạo đức lẫn sức
mạnh thể chất đã đem lại vị trí thống ngự cho ông, hệt như một tù trưởng thông thái và anh minh.
Macônđô do đó được tạo dựng nên với tư cách là một “tân thế giới” thu nhỏ, một vùng đất không
có người chết và không ai quá ba mươi tuổi, được đối xử công bằng và tự do đậm chất văn hóa
châu Mỹ.
Quá trình tìm ra Macônđô là một sự ngẫu nhiên không mong muốn. José Arcadio Buendía trên
hành trình đi tìm một vùng đất hứa có vị trí thuận lợi, nhằm thông thương với toàn thế giới,
nhưng đoàn người đã bị chặn lại bởi bốn bề là đầm lầy, rừng và biển. Trước ý định muốn đi tiếp
để tìm ra vùng đất hứa, Úrsula Iguarán với sự quyết liệt không khoan nhượng của mình đã giữ
mọi người ở lại Macônđô.
Điểm kết thúc và hủy diệt của dòng họ Buendía cũng cùng thời điểm với sự biến mất của
Macônđô. Sau một cơn mưa kéo dài bốn năm, mười một tháng và hai ngày, và tiếp đó là suốt
mười năm hạn hán không có lấy một giọt nước, Macônđô đã bị nhấn chìm và xóa sạch trong một
cơn cuồng phong bão táp của số phận.
Có thể nhận định rằng, nếu “nỗi cô đơn” là chủ đề lớn nhất mà G.G.Marquez dành cả cuộc đời
trong tác phẩm không được tác giả cụ thể hóa trong các hình thức miêu tả hiện thực mà chủ yếu
là lối miêu tả các thời gian phiếm định. Ở đây chúng ta thường bắt gặp những cụm từ miêu tả các
thời gian vô định như trong các truyện cổ tích thần thoại, nhưng nó không mở ra mênh mông
nhằm giúp con người đủ điều kiện mà chỉ gợi nỗi u ám, mặt khác phản ánh tâm lý chán ngán của
nhân vật trước thực tại. trong tác phẩm ta thường bắt gặp các cụm từ thời gian được tác giả miêu
tả trong những mốc thời gian xác định như: “rất nhiều năm sau này, trước đội hình đại tá
Aurêlianô Buêđya đã nhớ lại buổi chiều xã xưa ấy, cái buổi chiều cha chàng dẫn chàng đi xem
nước đá, “cứ vào tháng ba hàng năm, một gia đình Đơgan rách rưới dựng một túp liều bạt ngay
cạnh làng, rồi với tiếng kèn trống om xòm quảng cáo những phát minh mới”…
Cùng với miêu tả thời gian nghệ thuật G. Marquez đã xây dựng một thế giới nghệ thuật mang
màu sắc kì ảo, với sự chối bỏ những quy ước thẩm mỹ cũ, mang đến không gian nghệ thuật màu
sắc phi lịch sử cụ thể. Trong tác phẩm này, tác giả đã tạo ra một không gian nghệ thuật riêng cho
tác phẩm khi sử dụng các chi tiết kì ảo. Đó là không gian mơ hồ mông lung, không có đường
viền xác định, không gian hòa trộn âm dương, xóa nhòa ranh giới giữa thực và hư khiến cho
người đọc như có cảm giác bước vào không gian của một thiên truyện thần thoại, cổ tích. Không
gian trong tác phẩm trước tiên đó là một địa danh hư cấu, làng Macônđô đủ sức dung nạp mọi
chuyện, từ chuyện có thực đến chuyện tưởng tượng theo nguyên tắc thần thoại (được tìm hiểu ở
phần trên)
Khi xây dựng nhân vật trong Trăm năm cô đơn. Tác giả sử dụng thủ pháp chấm phá gợi lên một
vài nét nổi bậc của nhân vật. Như trên đã tìm hiểu, tác phẩm có số lượng nhân vật tương đối
nhiều, cả chính lẫn phụ, nhân vật nào cũng có tính cách riêng sống động nên người đọc dễ dàng
phân biệt được những Aurêlianô, những Hôsê Accađiô, những Amaranta của dòng họ Buênđya.
Những thành công đó là nhờ thủ pháp xây dựng nhân vật của truyện dân gian chỉ chấm phá đôi
nét mà nhường chỗ cho trí tưởng tượng của người đọc. Tùy từng nhân vật cụ thể, ông cần nhấn
mạnh những nét tính cách nào thì ông tập trung mô tả biểu hiện những tính cách ấy…
2.2.2. Sự kết hợp, đan xen giữa yếu tố thực và hư tạo nên cái kì ảo
Khi xây dựng tác phẩm Trăm năm cô đơn, G. Marquez đã sử dụng những phương pháp của chủ
nghĩa hiện thực huyền ảo. Bên cạnh những cái siêu nhiên, kì bí, dị thường khác ông còn kết hợp
giữa hiện thực và bí ẩn, thực và ảo hòa quyện tổng hợp lạ thường. Trong sáng tác của mình, G.
Marquez không dựa vào những điều kì bí, huyền ảo để nâng thành phương pháp huyền thoại hóa
Marquez muốn khái quát lên không gian hiện thực rộng lớn của Mỹ Latinh những năm giữa đầu
thế kỉ XX. Đó là thời kì chứa nhiều biến động dữ dội. cái thực vốn có những sự kiện được tác giả
tái hiện chính xác đến từng chi tiết.
Bên cạnh đó, không gian tác phẩm là một không gian rất hẹp, nó chỉ tồn tại qua những không
gian cụ thể như: sân ga, quán trọ, xưởng kim hoàn… nó cô đơn như chính sự cô đơn của các
nhân vật trong tác phẩm. Đó là một không gian đóng khung khép kín với vẻ ngưng trợ đóng kín
hoàn toàn không có sợi dây liên hệ nào với bên ngoài. Chỉ có nhân vật trong đó giãy giụa một
cách tuyệt vọng, tìm cách giải thoát cho bi kịch số phận của mình nhưng càng giãy giụa lại càng
lún sâu vào một sự khắc khoải tiếp cận cái chết.
Trong Trăm năm cô đơn, chúng ta còn bắt gặp một không gian bất định, trộn giữa cái thực và cái
ảo, dự lắp ghép rời rạc giữa các hiện tượng sự vật làm nên thế giới mộng ảo, phản ánh một cách
trung thực về nỗi cô đơn, kiếp lưu đày, tình trạng bủa vây, nỗi hoang mang của con người trước
thực tại bất thường, biến động dữ dội những cơn ác mộng. Ranh giới giữa thực và hư trở nên mơ
hồ, khó nắm bắt khi chuyện xảy ra hoàn toàn trong thế giới của những người sống và chết, cõi
âm và cõi dương có sự tương thông và ảnh hưởng qua lại lẫn nhau. Tuy không gian là những thế
giới ảo nhưng chúng mang dáng dấp của những người sống, của cõi trần xuyên qua lớp sương
khói huyễn hoặc, những ý nghĩa thực lộ ra.
Không gian mơ hồ, hư ảo là một phương tiện nghệ thuật để tác giả phản ánh hiện thực và gửi
gắm tư tưởng, tình cảm của mình về cuộc sống. Vì vậy bên cạnh những khía cạnh những không
gian có thực đã được tác giả phản ánh một cách trung thực, chi tiết trong tác phẩm thì còn có
không gian kì ảo, đó là những cái có thực nhưng được tác giả tưởng tượng theo nguyên tắc huyền
thoại hóa đẩy nó đến mức phi thường, quái dị
Không gian nghệ thuật ở Trăm năm cô đơn bên cạnh những cái bình thường trong cuộc sống
hàng ngày, một không gian thực thì nó còn mang nhiều nét hoang đường, huyền ảo nhưng tất cả
đều góp phần thể hiện những ý nghĩa sâu sắc của dời sống hiện tại. Tác giả dựng lên không gian
huyền ảo nhằm thể hiện cái cô đơn, lạc loài của dòng họ Buênđya sống giữa xã hội loài người,
cuộc sống của họ có nhiều nét rời xa hiện thực như chính không gian mà họ đã tồn tại trng
khoẳng thời gian một trăm năm cô đơn.
2.3. Vai trò các yếu tố kì ảo trong tiểu thuyết Trăm năm cô đơn của G.Marquez
2.3.1. Kì ảo hóa hiện thực để nhằm phản ánh xã hội
công ty chuối mà thực hiện là do tư bản gây ra.
G. Marquez đã khéo léo lồng câu chuyện về dòng họ Buênđya và làng Macônđô tạo nên một câu
chuyện hoàn chỉnh về cái cô đơn. Tác giả đã xây dựng ngôi làng này mang tính chất điển hình,
nó có thể là bất cứ ngôi làng nào, thành phố nào của Côlômbia nói riêng và Mỹ Latinh nói
chung. Nhưng ý nghĩa của nó không bó hẹp trong một ngôi làng, một thành phố mà thông qua đó
tác giả phản ánh khái quát nỗi cô đơn của châu Mỹ Latinh. G.Marquez đã từng nói: Lịch sử của
công ty chuối là hoàn toàn có thực, thế nhưng hiện thực của châu Mỹ Latinh, kể cả những sự
kiện lịch sử của công tuy chuối nặng nề và cay đắng đến mức cuối cùng nó có tính chất hão
huyền, kì ảo... Ở châu Mỹ Latinh, chỉ cần có một sắc lệnh chính thức là có thể buộc người ta
quên mất một sự việc như cái chết của ba nghìn người. Cái điều tường là hoang đường đó được
rút ra rừ những hiện thực khủng khiếp của chúng ta... đó chính là hiện thực của xã hội Mỹ Latinh
trong thời kì đế quốc xâm chiếm.
Hình ảnh công ty chuối cùng đoàn tàu chở xác chết và trận lụt, trận cuồng phong ập đến làng
Macônđô thể hiện dự báo của tác giả về sự sụp đổ không thể tránh khỏi của hình thái tư bản chủ
nghĩa,. Bởi đó là quy luật chung của toàn nhân loại, là một mặt do khách quan tác động, một mặc
sự chuyển biến nội tại của bản thân xã hội Mỹ Latinh. Khi nhân loại đang chuyển sang một hình
thái kinh tế xã hội mới thì khu vực này kịp thời “bùng cháy”. Sự hủy diệt của dòng họ Buênđya
và làng Macônđô, nhường chỗ cho những con người mới, những ngôi làng mới hình thành và
phát triển hơn. Qua đó nhà văn cũng dự báo sự ra đời tất yếu của xã hội mới, con người mới với
đúng tên gọi của nó.
2.3.2. Kì ảo hóa hiện thực để phản ánh cái cô đơn của con người
Xuất phát từ thực tại Mỹ Latinh lúc bấy giờ, thế kỷ của tròa lưu chủ nghĩa hiện thực huyền ảo, nó
đều phản ánh một nét gì cô đơn cảu con người trong sáng tác của các tác giả Mỹ Latinh. Đối với
Marquez, trong toàn bộ sáng tác của ông điều nằm trên trục chủ đề phản ánh cái cô đơn của con
người. Cái cô đơn ấy được ông biểu hiện như là mặt trái của sự đoàn kết, sự tách mình ra khỏi
cộng đồng xã hội loài người.
Trăm năm cô đơn là một khoảng thời gian dằng dặc, đó là một thế kỷ, một đời người và trong tác
phẩm là sự cô đơn của một ngôi làng và dòng họ trải qua bảy thế hệ. Ngay tên nhan đề của tác
khủng khiếp, nỗi cô đơn sâu thẳm trong tâm hồn và nỗi cô đơn không lối thoát.
Cái cô đơn còn là trạng thái của con ngươi khép kín, không giao tiếp, đánh mất xã hội, tính cộng
đồng hay nói khác đi, đó là những biểu hiện khác của chủ nghĩa cá nhân ích kỷ đó trong dòng họ
Buênđya là những thói trái tính trái nết đã đẩy những con người tròn dòng họ này lún sâu vào nỗi
cô đơn và tội loạn luân.
Cũng như Aurêlianô Buênđya, Accađiô Hôsê từ nhỏ đã sống không có bạn bè, không có sự quan
tâm của người thân, không biết được gốc gác của mình. “Accađiô vốn là một đứa trẻ đơn độc và
hoảng sợ trong suốt thời kỳ dịch bện mất ngủ hoành hoành, trong hoàn cảnh Ucsula mãi mê làm
giàu, Hôsê Accađiô Buênđya điên rồ... trường học là nơi cậu ta dốc sức làm việc và được mọi
người kính trọng. Sau đó chức quyền được giao với những mệnh lệnh dứt khoát và bộ quan phục
vinh quang, những thứ đó giải thoát cho cậu ta khỏi nỗi cay đắng trước đây”. Dường như để chạy
trốn cái cô đơn, muốn được mọi người quan tâm chú ý thì cậu ta trở thành một tên độc tài giết
người nghê tay, còn ghê hơn cả những tên bạo chúa thời trung cổ, chỉ có cái chết mới thật sự giải
thớt cho cậu ta.
Amaranta cũng mang dòng họ Buêđya, cũng chịu nỗi cô đơn và dằn vặt lương tâm. Cả cuộc đời
cô phải sống trong nỗi đau khổ và sự cô đơn do chính cô tạo ra, mà nguyên nhân sâu xa của nó
xuất phát từ sự ích kỷ của cá nhân. Tình yêu sôi nổi mà cô dành cho Piêtrô Crêspi thời thiếu nữ
thực chất cũng là một tình yêu mang tính ích kỉ. Vì giành lấy tình yêu của Piêtrô Crêspi từ tây
Rêbêca mà cô đã không từ mọi thủ đoạn, đỉnh điểm của thủ đoạn đó là đã vô tình giết chết
Rêmêđiôt Moscôtê. Và khi có tình yêu của anh rồi thì cô lại cự tuyệt nó, từ chối tình yêu ấy dù
trong lòng biết bao mong nhớ. Cô ta đã trả cái giá trước cái chết của Pietrô Crêpspi và suốt đời
phải chịu sự dằn vặt của lương tâm, “tấm băng đen trên bàn tay bị bỏng và cô đã mang nó cho
đến khi chết”. Và rồi khi một tình yêu mới đến với cô của đại tá Hêrinênđô Macket – một người
đã yêu cô bằng một tình yêu chân thành bền bỉ, cô đã từ chối. Càng sống khép kín, cô lại dấn
thân mình vào tội loạn luân với đứa cháu mà cô đã từng coi như con. Đó là sự thỏa mãn nhục dục
mà cô đã kìm nén bao lâu nay nhưng đó cũng là tự đày mình vào nỗi cô đơn của chính tâm hồn
mình. Cô đã không mở rộng tâm hồn mình để đón nhận tình yêu đích thực của những người đàn
ông bình thường mà tự giam mình vào cái vòng lẩn quẩn, cái cô đơn đã thuộc về bản chất của
sự, và nơi những dòng họ bị kết án Trăm năm cô đơn cuối cùng và mãi mãi sẽ có vận may lần
thứ hai để tái sinh trên mặt đất này".
KẾT LUẬN
G.Marquez là một trong những bậc thầy của nền tiểu thuyết hiện đại. Cuộc đời ông là cả một
ngày dài trên con đường lao động không ngừng nghỉ. Ông đã cống hiến cho đời hết mình và để
lại cho đời những sản phẩm tinh thần thật vô giá.
Tiểu thuyết Trăm năm cô đơn là một kiệt tác của ông, là một tác phẩm có nhiều bình diện, phản
ánh một cách độc đáo cuộc sống mọi mặt của các dân tộc Mỹ Latinh, kể cả những sự kiện lịch sử
quan trọng nhất của họ
Trong tiểu thuyết này có nhiều những chi tiết, yếu tố kì diệu huyền bí. Huyền hoại về một cái
đuôi lợn, những khả năng dự báo tiên tri thần thánh, hình ảnh của ma quỷ hiện về. Trong Trăm
năm cô đơn, ta có thể bắt gặp nhiều hình ảnh cuộc đời của những con người khác lạ, kì quái,
khác người. Cũng đôi lúc ta bắt gặp những hình ảnh của những hình ảnh thiên nhiên thật nhưng
chứa đựng nhiều đều khác thường, kì diệu...
Cái cô đơn là cái bao trùm hết tác phẩm. Trong tác phẩm ta có thể nhìn thấy nhiều hình ảnh của
con người với những cuộc đời khác nhau nhưng bị trói buộc vào một nỗi cô đơn của dòng họ
Buêđya, cái cô đơn ấy đã gặm nhấm tâm hồn của con người, và nếu con người không có lí trí thì
khó mà thoát khỏi nỗi cô đơn ấy. Con người phải cần mở rộng lòng mình để có thể đoán nhận
những âm thanh của cuộc đời.
Với việc sử dụng những yếu tố kì ảo, tác giả đã làm cho câu chuyện cuốn hút, và càng khắc họa
tạo nên một hiện thực huyền ảo, kì diệu. Cái hiện thực được phản ánh qua cái huyền ảo, kì ảo trở
nên kì vĩ, dị thường và quái dị hơn. Sự hòa hợp giữa thực và ảo đã tạo ra một không gian nghệ
thuật đặc sắc cho tác phẩm. Một không gian Macônđô huyền ảo với những số phận của con
người trong một không gian quanh mình bao bọc bởi nỗi cô đơn – ám ảnh truyền kiếp bởi sự
loạn luân với hình ảnh cái đuôi lợn.
Qua việc sử dụng các yếu tố kì ảo, và thông qua cách khai thác chủ đề, xây dựng nhân vật. Qua
bản chất hiện thực được phản ánh mà tập trung nó trong tiểu thuyết Trăm năm cô đơn G.
Marquez muốn kêu gọi hãy sống đúng với bản chất con người – con người trong tổng hòa mối
quan hệ xã hội của mình, hãy vượt lên mọi định kiến, thành kiến cá nhân, hãy lấp bằng mọi hố
MỞ ĐẦU............................................ .................................................. ..........................................
1
1. Lý do chọn đề tài.............................................. .................................................. .........................
1
2. Lịch sử vấn đề nghiên cứu............................................. .................................................. ..........
2
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:............................................ ................................................ 4
4. Phương pháp nghiên cứu:............................................ .................................................. ............
4
5. Cấu trúc đề tài:............................................. .................................................. .............................
5
NỘI DUNG.............................................. .................................................. ....................................
6
Chương một: Những vấn đề chung............................................. ................................................
6
1.1. Giải thích thuật ngữ............................................. .................................................. .................
6
1.2. G.G.Marquez – bóng dáng tài năng của một thiên tài.............................................. ..........
8
1.3. Trăm năm cô đơn – một cuốn tiểu thuyết xuất sắc của thế kỷ XX, một đại diện xuất sắc
của thể loại văn học kì
ảo.............................................. .................................................. ........................................ 11
Chương hai: Trăm năm cô đơn của G.G.Marquez – một cuốn tiểu thuyết mang nhiều yếu
tố kì ảo 13
2.1. Biểu hiện các yếu tố kì ảo trong tiểu thuyết Trăm năm cô đơn của G.G.Marquez....... 13
2.1.1. Những lời dự báo, tiên tri............................................... .................................................. ..
13
2.1.2. Hình ảnh thiên nhiên kì diệu, dị thường......................................... .................................. 15
2.1.3. Hình tượng con người mang đặc điểm huyền thoại, ma quỷ.......................................... 17
2.1.4. Hình tượng nhân vật khác thường, dị thường, quái dị.............................................. ....... 18