Nhà văn tiền chiến và quá trình hiện đại hoá trong văn học Việt
Nam từ đầu thế kỷ XX cho tới 1945 - Kì 2: Tìm nghĩa khái niệm
hiện đại
Xem danh sách bài viết (475 bài)
Tác giả: Vương Trí Nhàn
Từ khoá: văn học tiền chiến , văn học Việt Nam
Đã được xem 266 lần
Đăng bởi endlesslove vào 24/06/2007 05:27
Nhà văn tiền chiến và quá trình hiện đại hoá
(NXB Đại học Quốc gia Hà Nội 2005)
Vương Trí Nhàn
--------------------------------------------------------------------------------
Chương 1
TÌM NGHĨA KHÁI NIỆM HIỆN ĐẠI
Vương Trí Nhàn
Những cách hiểu khác nhau trong những hoàn cảnh khác nhau
Hàng ngày chúng ta vẫn thường nghe nói đến hai tiếng hiện đại. Trên báo chí thời sự, trong
các văn kiện chính trị cụm từ “quá trình công nghiệp hoá hiện đại hoá” hoặc “sự nghiệp
công nghiệp hoá hiện đại hoá” thường được nhắc lại với một nội dung xác định. Hiện đại ở
đây được hiểu là trình độ của những nước tiên tiến trên thế giới, và hiện đại hoá là đưa sự
phát triển của xã hội ta lên một bước làm cho chúng ta không thua kém những nước đó.
Đây chính là nghĩa thông thường nhất của hai chữ hiện đại.
Một nghĩa khác của từ là nghĩa được dùng trong khoa sử học. Ở các trường cấp ba (nay gọi
là phổ thông trung học) học sinh được giảng như sau: Không kể thời cổ đại thì từ Cách mạng
tư sản Anh trở về trước là lịch sử trung đại; từ Cách mạng Anh tới Công xã Paris (1871) là lịch
Đình Hượu và Lê Chí Dũng (bản in lần đầu 1988), hoặc công trình nghiên cứu Quá trình hiện
đại hoá văn học Việt Nam 1900-1945 của nhóm Mã Giang Lân (in ra năm 2000). Cách phân
chia này, cũng đã được áp dụng với bộ sách giáo khoa văn học dùng cho các trường Phổ
thông trung học in ra năm 2000 (mới được chỉnh lý).
Theo ý chúng tôi trong nghiên cứu văn học đây là cách hiểu nên được thống nhất sử dụng.
Nó hợp lý bởi lẽ nó không đặt văn học trong sự phụ thuộc một cách máy móc vào các sự
kiện lịch sử mà có chú ý tới tính độc lập tương đối của văn học. Nói cách khác nó xem xét
văn học dưới góc độ văn hoá, tức là những yếu tố có tính chất lặp đi lặp lại trong sáng tác và
phổ biến bao gồm môi trường hoạt động, chủ thể, nguyên tắc chỉ đạo sáng tác (thi pháp),
thể loại... - đây là những đặc điểm chúng tôi sẽ trở lại ở đoạn dưới. Và bởi lẽ, những đặc
điểm của văn học Việt Nam từ đầu thế kỷ XX đã tồn tại liên tục, nên hai chữ hiện đại với nội
dung xác định của nó đến nay vẫn dùng được. Đặt bên cạnh hàng chục thế kỷ của văn học
trung đại, thì thời gian của văn học hiện đại chưa phải là dài, những quy luật chủ yếu của nó
đang phát huy tác dụng.
Nhân đây xin giới thiệu một cách giải quyết tương tự. Trên tạp chí Thế giới mới số ra 8-31999 có đăng bài Vài thông tin mới về Hán tự và văn hoá Trung quốc. Bài báo cho biết trong
nghiên cứu và giảng dạy văn học hiện đại Trung Quốc đang thấy có sự điều chỉnh. Về thời
gian, trước đây lấy mấy cái mốc 1840-1919-1949, nay các công trình nghiên cứu thường
nhìn chung cả văn học thế kỷ XX. Về không gian, trước chỉ khoanh tròn trong văn học đại
lục, nay đưa vào cả văn học Hồng Công, văn học Đài Loan. Về quan niệm, coi văn học là
một thành tố của văn hoá, muốn hiểu văn học, phải hiểu cả lịch sử phong tục, tôn giáo...
Quả thật là những bước đột phá mà chúng ta nên tham khảo.
Nội dung của hiện đại hoá
Sau khi qui định thời gian tồn tại của văn học hiện đại như trên, điều quan trọng là cùng
nhau xác định nội dung khái niệm hiện đại, và đi liền với nó là quá trình hiện đại hoá.
Thoạt nghe, ai cũng hiểu ngay rằng hiện đại là lối làm nghệ thuật một cách mới mẻ, khác
hẳn so với lối cũ của ngày hôm qua. Nhưng trong thực tế nghiên cứu, từ này không có nghĩa
chung chung như thế mà có nội dung cụ thể của nó. Chúng tôi không đủ trình độ để tìm
hiểu hai chữ hiện đại dưới góc độ từ nguyên học, nhất là xác định được khởi điểm mà từ này
thành phần tiến bộ cái tinh hoa có thể áp dụng vào trong tình thế Trung Quốc ngày nay".6
Trong cách hiểu của tác giả, hai quá trình Âu hoá và hiện đại hoá gần như đã được đồng
nhất.
Thế còn cách hiểu về hiện đại hoá ở Trung Quốc hôm nay thì sao? May mắn là trong tay
chúng tôi có cuốn Sử học Trung Quốc trước gạch nối của hai thế kỷ (mới in ra quý III-2000)
trong đó có bài Sự hưng khởi và phát triển của hiện đại hoá ở Trung Quốc.7 Dưới đây là một
số đoạn trích từ bài viết kèm theo số trang ở cuối sách trên.
- Những biến cách trong sự phát triển của Trung Quốc cũng như của thế giới, sự chuyển biến
của xã hội từ chỗ lấy nông nghiệp truyền thống là chủ đạo, chuyển hướng tới một xã hội có
nền công nghiệp hiện đại (...) xu thế lịch sử và tiến trình lịch sử này được gọi với một cái tên
thông thường, đó là hiện đại hoá (tr.321)
- Khái niệm “hiện đại hoá” và “phương Tây hoá” được coi ngang nhau và điều này đã phản
ánh trình độ nhận thức chung của trí thức Trung Quốc... (tr.325).
- Tuy việc hiện đại hoá của Trung Quốc lúc đầu là học tập phương Tây, song thực tế lại là giới
thiệu và học tập Nhật Bản (tr.327).
- Từ sau chiến tranh Nha phiến 1840, người Trung Quốc đã có nhiều nỗ lực trong việc thực
hiện hiện đại hoá... (tr.347)
Với các học giả Trung Quốc vậy là hiện đại hoá bắt đầu ngay từ thời kỳ mà lâu nay, theo sự
quy định của môn lịch sử, vẫn gọi là thời cận đại.
Bây giờ, chúng ta hãy cùng trở lại với một số định nghĩa trong các từ điển. Như trên đã lưu
ý, cách phân chia ở đây là dựa nhiều vào các yếu tố văn hoá, nên nguồn sách vở mà chúng
tôi hướng tới cũng là các từ điển văn hoá học. Một cuốn từ điển loại ấy, bản tiếng Nga có
viết như sau:
- Hiện đại hoá (tiếng Pháp moderniser). Thuật ngữ văn hoá học dùng để xác định quá trình
vận động từ xã hội tiền công nghiệp dựa trên truyền thống tới một hệ thống kinh tế và chính
trị, cũng như văn hoá tiêu biểu cho sự phát triển của các nước tư bản (...) Những yếu tố cơ
bản của quá trình này là: khả năng sử dụng những kỹ thuật hiện đại trong những ngành then
chốt của sản xuất được đẩy mạnh; hình thức tiêu thụ được mở rộng, những điều kiện mới (về
Cách mạng tháng Tám mang lại cho lịch sử Việt Nam một bước ngoặt rõ rệt. Sau gần nửa
thế kỷ xây dựng, nền văn học Việt Nam lúc này đã cứng cáp trưởng thành. Giờ đây, nền văn
học ấy tự đặt cho mình một mục đích khác trước, cách tác động tới xã hội khác trước. Riêng
với những người cầm bút, thì từ chỗ là những người lao động tự do, nay các nhà văn đã trở
thành “những chiến sĩ trên mặt trận văn nghệ”, và hoạt động theo một định hướng tư tưởng
thống nhất do Đảng Cộng sản lãnh đạo.
Đó là một đặc điểm cơ bản mà khi nghiên cứu văn học Việt Nam nửa sau thế kỷ XX không
thể bỏ qua.
Tuy nhiên, xét trên nhiều mặt, giữa văn học Việt Nam trước và sau 1945 vẫn có một sự liên
tục, đến mức hoàn toàn có lý do chính đáng để xếp cả hai nằm trong một phạm trù chung là
văn học hiện đại. Trong ngôn ngữ học, hai chữ đối lập được dùng với nghĩa thuần tuý hình
thức, tức là lấy cái này đặt bên cái kia để làm nổi bật sự khác nhau. Mượn thuật ngữ đó của
ngôn ngữ học, ở đây chúng tôi muốn nói chúng tôi không đối lập văn học Việt Nam trước và
sau 1945 (đó là một việc khác ai đó sẽ làm trong một dịp khác), mà tìm cách đối lập toàn bộ
văn học Việt Nam thế kỷ XX với nền văn học từ thế kỷ XIX trở về trước, đối lập văn học hiện
đại với văn học trung đại. Đây cũng là một hướng nghiên cứu cần thiết và có thể nói là có
hứa hẹn.
Thử áp dụng cái nhìn văn hoá học vào nghiên cứu văn học, sơ bộ có thể nhận ra những đặc
trưng nhất quán sau đây của văn học Việt Nam hiện đại, chính nó cũng là những nhân tố tạo
nên sự liên tục của thế kỷ.
1. Sự hình thành một môi trường văn học thống nhất trong cả nước. Sự sáng tác ở nước Việt
Nam qua các triều đại phong kiến có trồi sụt khác nhau, nhưng nói chung có tính chất tự cấp
tự túc, tác phẩm viết ra không trở thành một sản phẩm được lưu thông trong xã hội. Xuất
bản lúc ấy mang tính cách một thứ hoạt động tiểu thủ công, manh mún, lặt vặt. Báo chí lại
hoàn toàn không có. Tác phẩm sau khi viết ra sống âm thầm như trong bóng tối, may thì
gặp người tri kỷ, không may thì xếp xó một chỗ. Bước sang thế kỷ XX, cả xã hội là một mặt
bằng liền lặn, sự sáng tạo được đặt trong mặt bằng đó để luôn luôn lưu thông vận chuyển, từ
người viết tới người đọc. Nhờ có máy in, sách được in ra rồi nhờ có hệ thống phát hành, sách
thời xưa. Chúng có một mục đích chung là cốt để giúp tác giả nói chí mình (ngôn chí) nói
tình cảm mình (mạn hứng), chuyên chở tư tưởng (tải đạo). Điều đó phù hợp với thi pháp
sùng cổ ước lệ như trên vừa nói. Còn trong văn chương thời nay, người ta thấy nổi lên những
thể tài mới. Kịch nói là thể hoàn toàn ngoại nhập. Tiểu thuyết thì ngày xưa thấp thoáng
cũng có, nhưng theo một quy phạm riêng và ngày nay ngả hẳn sang quy phạm của tiểu
thuyết phương Tây. Nói chung, trong hệ thống thể loại mới, văn xuôi đóng vai trò chủ đạo,
chính nó, với khả năng phong phú vốn có, sẽ diễn tả đầy đủ các sắc thái đa dạng của thực
tại, kể cả cái “chất văn xuôi” tức là cái chất phàm tục của đời sống đương thời. Đây chính là
một đặc điểm quán xuyến trong toàn bộ đời sống văn học thế kỷ XX, nó làm cho hệ thống
thể loại có một trọng tâm khác hẳn trước.10
5. Ngôn ngữ văn học. Một bộ phận lớn của văn học từ thế kỷ XIX trở về trước được viết
bằng chữ Hán. Việc sử dụng một thứ văn tự xa lạ với tiếng nói thông thường khiến cho các
sáng tác lúc ấy chưa đóng góp được nhiều cho sự phát triển ngôn ngữ dân tộc như lễ ra có
thể có. Đến các tác phẩm viết bằng chữ nôm cũng bị hạn chế, ngày nay đọc lại các tuyện
nôm, chúng ta thấy ngoại trừ những kiệt tác như Truyện Kiều, Chinh phụ ngâm v.v... thì ở
phần lớn trường hợp còn lại, ngôn ngữ văn học thường có phần thô thiển, khi nôm na, dông
dài, khi lúng túng học đòi và không tiêu hoá tốt những ảnh hưởng của tiếng Hán. Bước sang
thế kỷ XX, ngôn ngữ văn học nhờ tiếp thu được sự trong sáng và khúc chiết của tiếng Pháp,
nên trở thành thanh thoát và linh hoạt hơn hẳn. Điều quan trọng nhất là từ đây, nó hướng
về đời thực, muốn có được cái vẻ tự nhiên và đa dạng của ngôn ngữ hàng ngày. Xu hướng
này của sự tìm tòi vốn đã có từ nửa đầu thế kỷ XX, đến thời kỳ kháng chiến chống Pháp,
càng được thúc đẩy mạnh mẽ, nó làm cho tiếng Việt trở nên chắc khoẻ, mà cũng linh hoạt
hơn bao giờ hết và đây chính là đóng góp của ngôn ngữ văn học đối với ngôn ngữ dân tộc
nói chung.
Đến đây, có thể tóm tắt:
a) Khái niệm văn học hiện đại trong nghiên cứu văn học, theo chúng tôi nên dành để chỉ văn
học Việt Nam thế kỷ XX.
9. Nguyễn Tuân như một con người thời đại
10. Nguyễn Tuân: tên tuổi còn mãi với thể tuỳ bút
11. Vũ Trọng Phụng và một lớp người thành thị, một nền văn chương đô thị
12. Vũ Trọng Phụng: cái nhìn bảo thủ ở một ngòi bút ghi chép lịch sử
13. Lê Văn Trương, một kiểu tồn tại trong văn học
14. Những biến hoá của chất nghịch dị trong truyện ngắn Nam Cao
15. Một bước khai phá của Vũ Bằng trong việc xử lý ngôn ngữ văn xuôi
16. Dương Quảng Hàm và bước đầu hình thành của một nền học thuật
17. Khuôn mặt tinh thần của một trí thức: trường hợp Đinh Gia Trinh
Phụ lục : Chung quanh câu chuyện đổi mới nhận thức lịch sử
--------------------------------------------------------------------------------
LỜI DẪN
Việc tìm hiểu và đánh giá lại văn học Việt Nam từ đầu thế kỷ XX cho tới trước 1945 có thể
tiến hành theo nhiều hướng. Trong tập sách này, chủ yếu chúng tôi muốn xem xét văn học
trong giai đoạn đó như hình ảnh rõ nhất của một cuộc vận động mang ý nghĩa đặc biệt khi
những trang sách văn chương viết bằng quốc ngữ tự nhào nặn để chín dần theo hướng có
thể hội nhập với văn học thế giới và do đó, trở thành một trong những giai đoạn nẩy nở đẹp
đẽ nhất trong đời sống tinh thần của dân tộc.
Mở đầu công trình nổi tiếng Thi nhân Việt nam 1932 -41, Hoài Thanh ghi nhận: “Sự gặp gỡ
phương Tây là cuộc biến thiên lớn nhất trong lịch sử Việt Nam từ mấy mươi thế kỷ (...) Cho
đến những nơi hang cùng ngõ hẻm, cuộc sống cũng không còn giữ nguyên hình như trước
(…) Phương Tây bây giờ đã đi tới chỗ sâu nhất trong hồn ta”
Khi nói về Hoài Thanh, nhiều người chỉ thích cái khả năng rung cảm đặc biệt của ông với thơ
và tài năng của nhà phê bình trong việc gọi ra cái giọng thơ riêng của từng thi sĩ.
Thế nhưng chính cái phần nhận xét tổng quát nói trên cũng là một phần tài năng hơn người
của Hoài Thanh, hơn nữa nó là xuất phát điểm khiến cho bao nhiêu nhận xét lung linh sắc
sảo của ông trở nên có ý nghĩa.
Và đó cũng là điều đáng được coi là nền tảng mà bất cứ ai dù đi vào văn học dù thơ hay văn
đây là một hướng đi có triển vọng, nhất là khi người ta muốn sử dụng văn học như một
phương thức tìm hiểu lịch sử, qua đó gợi ý cho những thích ứng và tìm tòi đang âm thầm
diễn ra trong cuộc sống hôm nay.