ĐIỀU TRA THÀNH PHẦN LOÀI THÚ MÓNG GUỐC TẠI VƯỜN QUỐC GIA YOK ĐÔN, TỈNH ĐẮK LẮK - Pdf 49

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP. HỒ CHÍ MINH

******************

ĐỖ THỊ PHƯƠNG LIÊN

ĐIỀU TRA THÀNH PHẦN LOÀI THÚ MÓNG GUỐC TẠI
VƯỜN QUỐC GIA YOK ĐÔN, TỈNH ĐẮK LẮK

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNH LÂM NGHIỆP

Thành phố Hồ Chí Minh
Tháng 6 /2012


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP. HỒ CHÍ MINH

******************

ĐỖ THỊ PHƯƠNG LIÊN

ĐIỀU TRA THÀNH PHẦN LOÀI THÚ MÓNG GUỐC TẠI
VƯỜN QUỐC GIA YOK ĐÔN, TỈNH ĐẮK LẮK

Ngành: Lâm nghiệp
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Giáo viên hướng dẫn: TS. Vũ Thị Nga

TÓM TẮT ĐỀ TÀI
Đề tài nghiên cứu: Điều tra thành phần loài thú Móng guốc tại Vườn Quốc Gia
(VQG) Yok Đôn, Đắk Lắk. Đề tài được tiến hành tại VQG Yok Đôn, tỉnh Đắk Lắk.
Thời gian thực hiện đề tài từ tháng 3 năm 2012 đến tháng 6 năm 2012.
Các phương pháp nghiên cứu: Phương pháp phỏng vấn kiểm lâm và người dân
địa phương; phân tích mẫu vật; phương pháp quan sát theo tuyến điều tra. Xử lý số
liệu bằng phần mềm Excel.
Những kết quả đạt được trong quá trình điều tra: Qua việc điều tra bằng phương
pháp phỏng vấn, phân tích mẫu vật và quan sát thực địa theo tuyến điều tra ở VQG
Yok Đôn, đã ghi nhận được 10 loài thú Móng guốc thuộc 5 họ của 2 bộ.
Qua phỏng vấn ghi nhận được 10 loài.
Qua phân tích mẫu vật, ghi nhận được 6 loài thuộc 4 họ của 2 bộ. Trong đó các
loài Heo rừng, Nai, Hoẵng Nam bộ, Mang lớn, Bò rừng thì người ta lấy sừng và sọ đầu
để trưng trong nhà và bán. Ngà Voi, lông đuôi Voi cũng được rao bán khá nhiều.
Trên tuyến điều tra ghi nhận được 6 loài thuộc 5 họ của 2 bộ. Trong số 6 loài có
3 loài xuất hiện nhiều là Hoẵng Nam bộ, Heo rừng, Nai. Loài xuất hiện trung bình là
Cheo cheo Nam dương. 1 loài ít xuất hiện là Bò rừng và 1 loài hiếm xuất hiện là Voi.
Trong số 10 loài đã điều tra được thì có 7 loài nằm trong danh sách động vật
Móng guốc quý hiếm, được ghi vào sách đỏ, cần được bảo tồn là: Voi, Cheo cheo
Nam dương, Nai cà tông, Mang lớn, Bò tót, Bò rừng, Trâu rừng.
Trong một số tài liệu của VQG, có viết về các loài: Bò xám (Bos sauveli); Sơn
dương (Capricornis sumatraensis); Hươu vàng (Cervus porcinus) nhưng trong suốt
quá trình điều tra thực địa, cũng như phỏng vấn người dân địa phương và kiểm lâm,
phân tích mẫu vật, không thấy sự xuất hiện của các loài này cũng như dấu vết của
chúng, có thể các loài này đã không còn tồn tại ở VQG Yok Đôn.
Hiện trạng bảo tồn động vật Móng guốc ở VQG Yok Đôn đã được quan tâm
nhưng vẫn chưa triệt để. Tình hình phá rừng, săn bắn trái phép các loài thú quý hiếm
(Voi, Bò tót, Bò rừng….) vẫn xảy ra thường xuyên.

iii

annamensis, S. crofa, C. unicolor. The species which appear regularly was Tragulus
javanicus. The species appears to be little was B. javanicus and rarely appear is
Elephas maximus.
There are 7 species in the list of valuable and rare hoof Animals, were written
in the red book and need to be preserved, including: E. maximus, T. javanicus, Cervus
eldi, M. vuquangensis, Bos gaurus, B. javanicus, Bos bubalis.
Some documents of the Yok Don National Park mentioned about: Bos sauveli,
Capricornis sumatraensis, Cervus porcinus. However, during our reality investigation
as well as interview of the forester and the local people, analysis of specimen, there
was no appearance of these species as well as it’s signs. These species may be
disappeared in Yok Don National Park.
The conservation of hoofed animals at Yok Don National Park has been
concerned but it is not strict. Deforestation situation, illegally hunting of rare animals
species (E. maximus, B. gaurus, B. javanicus, B. bubalis, C. eldi…) usually occur.
iv


MỤC LỤC
Trang
TRANG TỰA ............................................................................................................... i
LỜI CẢM ƠN .............................................................................................................. ii 
TÓM TẮT ĐỀ TÀI ..................................................................................................... iii 
ABSTRACT ................................................................................................................ iv 
MỤC LỤC .................................................................................................................... v 
DANH SÁCH CÁC CHỮ VIẾT TẮT .................................................................... viii 
DANH SÁCH CÁC BẢNG ........................................................................................ ix 
DANH SÁCH CÁC HÌNH VÀ BIỂU ĐỒ ................................................................. x 
Chương 1 MỞ ĐẦU..................................................................................................... 1 
Chương 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU .......................................................................... 3 
2.1 Thành phần loài thú Móng guốc thế giới và Việt Nam ....................................... 3 

3.4.2.1 Phương pháp phỏng vấn kiểm lâm và người dân địa phương.............. 18 
3.4.2.2 Phương pháp phân tích mẫu vật ........................................................... 19 
3.4.2.3 Phương pháp điều tra theo tuyến .......................................................... 19 
Chương 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN...................................... 21 
4.1 Thành phần loài thú Móng guốc tại VQG Yok Đôn ......................................... 21 
4.2 Thành phần loài và mức độ xuất hiện các loài thú Móng guốc qua điều tra phỏng
vấn ............................................................................................................................ 22 
4.3 Kết quả phân tích mẫu vật ................................................................................. 24 
4.4 Thành phần loài và mức độ xuất hiện các loài thú Móng guốc qua điều tra thực
địa tại VQG Yok Đôn .............................................................................................. 26 
4.5 Đặc điểm sinh cảnh và tập tính của các loài thú Móng guốc ghi nhận được qua
các phương pháp điều tra ......................................................................................... 27 
4.5.1 Heo rừng (Sus crofa) ................................................................................... 27 
4.5.2 Nai (Cervus unicolor) ................................................................................. 29 
4.5.3 Nai cà tông (Cervus eldi) ............................................................................ 29 
4.5.4 Hoẵng Nam bộ (Muntiacus muntjak annamensis) ...................................... 29 
4.5.5 Mang lớn (Megamuntiacus vuquangensis) ................................................ 30 
4.5.6 Cheo cheo Nam dương (Tragulus javanicus) ............................................. 30 
4.5.7 Bò rừng (Bos javanicus) ............................................................................. 30 
4.5.8 Bò tót (Bos gaurus) ..................................................................................... 32 
vi


4.5.9 Trâu rừng (Bos bubalis ) ............................................................................. 32 
4.5.10 Voi (Elephas maximus) ............................................................................. 32 
4.6 Nguồn thức ăn và hướng di chuyển của các loài thú Móng guốc ..................... 32 
4.7 Danh sách các loài thú Móng guốc quý hiếm ở VQG Yok Đôn ....................... 33 
4.8 Mối đe dọa, hiện trạng bảo tồn thú Móng guốc và đề xuất một số giải pháp bảo
tồn thú Móng guốc ở VQG Yok Đôn ...................................................................... 34 
4.8.1 Mối đe dọa................................................................................................... 34 


viii


DANH SÁCH CÁC BẢNG
Trang
Bảng 4.1: Thành phần loài và mức độ xuất hiện các loài thú qua phỏng vấn ............. 22 
Bảng 4.2: Thành phần loài và mức độ xuất hiện của các loài thú Móng guốc trên tuyến
điều tra ......................................................................................................................... 26 
Bảng 4.3: Danh sách các loài thú Móng guốc quý hiếm ở VQG Yk Đôn .................. 33 

ix


DANH SÁCH CÁC HÌNH VÀ BIỂU ĐỒ
Trang
Biểu đồ 4.1: Tần suất bắt gặp các loài qua phương pháp phỏng vấn. ......................... 23 
Biểu đồ 4.2: Tần suất bắt gặp (%) của các loài qua tuyến điều tra ............................. 27 
Hình 3.1: Một góc sinh cảnh vườn quốc gia Yok Đôn ............................................... 20 
Hình 4.1: Đầu Hoẵng Nam bộ (M. muntja annamensis) ............................................. 24 
Hình 4.2: Sọ đầu Nai (C. unicolor) ............................................................................. 24 
Hình 4.3: Sọ Heo Rừng (S. scrofa).............................................................................. 24 
Hình 4.4: Sừng Nai (C. unicolor) ................................................................................ 24 
Hình 4.5: Mẫu vật Voi (E. maximus) tại phòng trưng bày VQG Yok Đôn ................ 25 
Hình 4.6: Đầu Mang lớn (M. vuquangensis) ............................................................... 25 
Hình 4.7: Nơi heo rừng thường xuất hiện (tuyến 2) .................................................... 38 
Hình 4.8: Dấu heo rừng ủi đất (điều tra tại tuyến 1) ................................................... 28 
Hình 4.9: Điều tra vết chân thú tại tuyến 1 ................................................................. 29 
Hình 4.10: Dấu chân Hoẵng Nam bộ (trên tuyến điều tra 3) ...................................... 30 
Hình 4.11: Dấu chân Hoẵng Nam bộ và Bò rừng (trên tuyến điều tra 3) ................... 31 


1


chủng, trong đó có nhiều loài thuộc bộ Móng guốc, vì thế cần thiết phải có kế hoạch để
bảo tồn chúng.
Với những lý do trên, chúng tôi thực hiện đề tài: “ Điều tra thành phần loài thú
Móng guốc tại Vườn Quốc Gia Yok Đôn”.

2


Chương 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Thành phần loài thú Móng guốc thế giới và Việt Nam
2.1.1 Thành phần thú Móng guốc trên thế giới
Thú Móng guốc trên thế giới: Được phân loại thành 3 bộ:
2.1.1.1 Bộ Guốc lẻ (PERISSODACTYLA):
Số ngón lẻ, có 1 ngón chân giữa phát triển hơn cả, ăn thực vật, không nhai lại.
Có sừng, sống đơn độc (Tê giác); không có sừng, sống đàn (Ngựa).
Có 2 phân bộ:
Phân bộ Hippomorpha: là các động vật Móng guốc ngón lẻ có khả năng chạy
nhanh với các chân dài và chỉ có một ngón chân; phân bộ này có một họ duy nhất
là họ Ngựa (Equidae) (chỉ có một chi là Equus), bao gồm các loài Ngựa (Equus
caballus), Ngựa vằn (Equus grevyi), Lừa hoang Tây Tạng (Equus kiang), Lừa rừng
Trung Á (Equus hemionus) và các loài cùng họ khác.
Phân bộ Ceratmorpha: là các động vật Móng guốc ngón lẻ có vài ngón chân
hoạt động, chúng nặng nề và di chuyển chậm hơn các loài trong nhóm Hippomorpha.
Phân bộ này bao gồm hai họ là: Tapiridae (Lợn vòi) và Rhinocerotidae (Tê giác).
2.1.1.2 Bộ Voi hay còn gọi bộ có vòi: PROBOSCIDEA

berezovxki), Sao la (Pseudoryx nghetinhensis), Mang lớn (Megamuntiacus
vuquangensis)... Hầu hết các loài kể trên được ghi trong Nghị định 18/HĐBT năm
1992, Nghị định 48/4/2002, và Nghị định 32/2006 của Chính phủ cấm săn bắn, vận
chuyển, buôn bán. Trong Sách Đỏ Việt Nam, các loài này được xếp vào bậc nguy cấp.
Dựa vào 8 cấp tiêu chuẩn đánh giá mức độ nguy hiểm của các loài động thực vật của
Tổ chức Bảo vệ Thiên nhiên và Tài nguyên Thiên nhiên Quốc tế (IUCN) thông qua
ngày 30/4 năm 1994:
Cấp EX: Tuyệt chủng (Extinct)
Cấp EW: Tuyệt chủng ngoài tự nhiên (Extinct in the wild)
Cấp CR: Rất nguy cấp (Critically endangered)
Cấp EN: Nguy cấp (Endangered)
4


Cấp VU: Sẽ nguy cấp (Vulnerable)
Cấp LR: Ít nguy cấp (Lower risk)
Cấp DD: Thiếu dữ liệu (Data dificient)
Cấp NE: Không đánh giá (Not evaluated)
Thành phần loài thú Móng guốc hiện có ở một số VQG, Khu Bảo tồn thiên
nhiên ở Việt Nam:
- Tại khu vực Đông Bắc Việt Nam: có 5 loài: Heo rừng, Hươu xạ, Hoẵng Nam
bộ, Nai, Sơn dương. (Nguyễn Trường Sơn và cộng tác viên, 2011).
- Tại khu bảo tồn thiên nhiên Kim Hỷ, tỉnh Bắc Kạn: có 5 loài: Heo rừng,
Hoẵng Nam bộ, Nai, Sơn dương, Hươu xạ. (Trần Thị Việt Thanh, Đỗ Văn Trưởng,
Hoàng Anh Tuấn, Cao Quốc Trị, 2011)
- Tại khu vực huyện Lệ Thủy và Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình: có 7 loài thuộc
bộ Guốc chẵn: Heo rừng, Hoẵng Nam bộ, Mang lớn, Nai, Bò tót, Sao la, Sơn dương.
(Đặng Ngọc Cần, Nguyễn Trường Sơn, Motokawa Masaharu, 2011).
- Tại rừng phòng hộ và đặc dụng Hòn Đất - Kiên Hà, tỉnh Kiên Giang: có 1 loài
là Cheo cheo Nam dương. (Vũ Long, Trần Văn Bằng, Hoàng Minh Đức, 2011).

thực tiễn, thịt cho thực phẩm; da, lông cho công nghệ hàng da; xương, sừng dùng làm
hàng mỹ nghệ. Hiện bị săn bắn nhiều nơi, vùng sống bị thu hẹp nên số lượng bị giảm
sút nghiêm trọng. Sách đỏ Việt Nam năm 2007 xếp Bò rừng (Bos javanicus) thuộc
phân hạng mức độ đe dọa: E (Đang nguy cấp). Tại Việt Nam, trước đây Bò rừng
thường có ở giữa Biên Hòa, Bà Rịa đến Phan Rí, Đắk Rinh, Phan Thiết, Lâm Đồng,
sông La Ngà. Hiện nay có từ Kontum , Đắk Lắk (Yok Đôn, Đắc Min, Easúp) đến
Đồng Nai (Nam Cát Tiên), Sông Bé (Bù Gia Mập). (Sách đỏ Việt Nam, trang 91).
Trâu rừng (Bos bubalis): Hình dạng giống trâu nhà nhưng to và khoẻ hơn. Dài
thân 2,8 - 3 m, trọng lượng 800 - 1200 kg. Trán, má, cổ có lông dài rậm, màu xám đen,
phía dưới lông cổ có đám lông trắng hình chữ V. Sừng dài, uốn cong hình lưỡi liềm,
thân sừng có nhiều vết nhăn nheo, mút sừng nhọn. Lưng màu xám hoặc nâu xám, đuôi
màu xám có túm lông đen ở mút đuôi. Trâu rừng thường sống ở những cánh rừng già,
rừng thưa ven sông suối hoặc trong thung lũng sâu có sình lầy ẩm ướt. Sống thành
từng đàn 20 - 30 con. Kiếm ăn ban ngày trong rừng thưa, ven rừng, trảng cỏ cây bụi.
Tuy nhiên, số lượng Trâu rừng còn tồn tại trong thiên nhiên không còn nhiều, do bị
săn bắn và lai tạo với trâu nhà. Ở Việt Nam còn lại rất ít, phân bố chủ yếu dọc dãy
Trường Sơn, trong đó có khu vực miền Tây Thanh Hóa giáp với Lào. Ở Yok Đôn năm
1991 cũng bắn được 1 Trâu rừng, song từ đó tới nay cũng không ai gặp lại. Trâu rừng
được xếp vào mức đe dọa bậc E (Sách đỏ Việt Nam, trang 93).
6


Voi Châu Á (Elephas maximus): Là loài thú có kích thước cỡ lớn nhất trên
cạn. Dài thân 4 - 6 m, dài đuôi 1 - 1,5 m, trọng lượng 3500 - 5000 kg. Môi trên và mũi
phát triển thành vòi dài chấm đất. Hai răng lớn phát triển thành ngà. Voi đực có 2 ngà
dài tới 1,5 m, nặng 15 - 20 kg. Có 12 răng hàm, mỗi bên 3 cái mọc sát nhau gần như
một cái. Da rất dày, lông thưa, dài, cứng, màu nâu xám (đôi khi trắng). Chúng thường
sống ở rừng thưa, thứ sinh pha tre nứa xen nhiều trảng cỏ trong thung lũng hay vùng
đồi núi thấp, độ cao phân bố của voi lên tới 1.500 - 1.600 m so với mặt biển. Sống đàn
5 - 20 con. Voi đã được thuần hoá phục vụ cho đời sống như kéo gỗ, thồ hàng, du lịch,

Phía Tây là biên giới Việt Nam - Cam Pu Chia dài 102 km.
Vị trí địa lý của VQG Yok Đôn có ý nghĩa quốc tế rất quan trọng: ranh giới
phía Tây chính là biên giới quốc tế với Campuchia, đặc biệt là tiếp giáp với 2 khu vực
đã được chính phủ Campuchia đề xuất thành lập khu bảo tồn thiên nhiên Ratanakiri và
Phnom Nam Lyr, là điều kiện thuận lợi cho việc xây dựng các khu bảo tồn liên biên
giới, nhằm xác lập hành lang an toàn cho sự di chuyển của động vật hoang dã. Điều
này cũng tạo điều kiện lợi để phát huy công tác bảo tồn liên quốc gia, đáp ứng nhu cầu
bảo tồn cho nhiều loài động thực vật quý hiếm, đặc biệt là các loài Móng guốc và thú
ăn thịt lớn.

Hình 2.1. Bản đồ vị trí của VQG Yok Đôn trong tỉnh Đắk Lắk và Đăk Nông
(VQG Yok Đôn, năm 2009)
8


2.2.2 Địa hình và đất đai
2.2.2.1 Địa hình
Toàn bộ Vườn quốc gia Yok Đôn nằm phía Tây dãy Trường Sơn, địa hình
tương đối bằng phẳng, độ cao trung bình là 200 m so với mặt nước biển, chia thành 2
dạng chính như sau:
- Địa hình đồi và núi thấp: Phân bố rải rác dọc theo bờ phải sông Srêpôk là dãy
núi Cư M’lan chạy từ biên giới Việt Nam - Campuchia tới gần trung tâm huyện Buôn
Đôn với đỉnh cao nhất là Cư M’lan (502 m) và các đỉnh có độ cao 498 m, cuối cùng là
đỉnh Cư Minh (384 m). Bờ trái Sông Srêpôk có ngọn núi thấp là Yok Đa (466 m). Gần
ranh giới phía nam của Vườn là dãy núi thấp Yok Đôn (482 m)
- Địa hình tích tụ: Phân bố dọc sông Srêpôk và các suối lớn trong vùng. Sự thay
đổi của địa hình đã tạo ra những cảnh quan phong phú, vừa đa dạng vừa đặc thù và
hình thành nên nhiều dạng thảm thực vật khác nhau, làm nơi trú ngụ của nhiều loài
động vật có giá trị.
Chính điều kiện địa hình tương đối bằng phẳng cũng đã góp phần tạo điều kiện

gió chính là Tây Nam.
- Mùa khô từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau, lượng mưa không đáng kể và
thường bị khô hạn vào cuối mùa khô, thiếu nước cho ăn uống, sinh hoạt và sản xuất,
gây nhiều khó khăn cho đời sống nhân dân trong vùng. Sự thay đổi khí hậu rõ rệt ảnh
hưởng đến sự di chuyển của động vật hoang dã giữa VQG Yok Đôn và các khu vực
xung quanh.
- Nhiệt độ bình quân năm: 24,5oC. Nhiệt độ cao nhất: 37,5oC. Nhiệt độ thấp
nhất: 11oC
- Tháng có nhiệt độ bình quân cao nhất là tháng 4. Tháng có nhiệt độ bình quân
thấp nhất là tháng 1.
- Lượng mưa bình quân năm: 1.588 mm
- Lượng mưa cao nhất: 1.750 mm
- Độ ẩm bình quân năm: 81%
Hướng gió chính trong mùa mưa là gió Tây Nam, ngoài ra còn có gió Đông Bắc
và Đông Nam trong mùa khô. Đặc điểm khí hậu đã chi phối các hoạt động kinh tế xã
hội, và môi trường sinh học trong vùng. Điểm nổi bật là mùa khô kéo dài, độ ẩm giảm,
lượng bốc hơi lớn, gây nên tình trạng khô hạn nghiêm trọng trong vùng, là nguyên
nhân chính gây nên các vụ cháy thảm thực bì hàng năm vào mùa khô.
10


2.2.3.2 Thủy văn
VQG Yok Đôn nằm trong lưu vực sông Mê Kông, Bằng nhánh sông Srêpôk
(Đăkrông). Con sông này bắt nguồn từ các dãy núi cao Chư Jang Sin, chảy theo hướng
Đông Nam - Tây Bắc qua Campuchia rồi đổ vào sông Mê Kông, phần chảy qua VQG
Yok Đôn khoảng 60 km, mùa khô lòng sông khoảng 2 - 3 m, mùa lũ có thể sâu từ 5 10 m. sông có nhiều thác ghềnh, khó đi lại bằng thuyền nhưng lại là một trong những
tiềm năng để phát triển du lịch sinh thái. Ngoài ra, còn có các suối lớn như: Đăk Na,
Đăk Nor, Đăk Ken, Đăk Lau và nhiều suối cạn có nước theo mùa. Đặc điểm này có
ảnh hưởng lớn đến việc di cư của các loài thú lớn, đặc biệt là các loài thú Móng guốc.
2.2.3.3 Khái quát về đa dạng hệ sinh thái rừng ở VQG Yok Đôn

là sinh cảnh thích hợp cho nhiều loài động vật hoang dã, nhất là các loài thú lớn như
Voi, Bò rừng, Bò tót, Trâu rừng...
Hệ sinh thái rừng kín cây lá rộng nửa rụng lá mưa ẩm nhiệt đới:
Trong kiểu rừng này xuất hiện rải rác cây họ Dầu đại diện là Dầu rái
(Dipterocarpus alatus), các loài cây ưu thế họ Bàng (Combretaceae), họ Tử vi
(Lythraceae). Ở khu vực ven sông suối có thuần loại cây Bằng lăng (Lagerstroemia
calyculota).
Trong rừng kín nửa rụng lá, loài cây thường xanh ưu thế thuộc các họ Đậu
(Fabaceae), họ Xoan (Meliaceae), họ Dâu tằm (Moraceae), họ Cà phê (Rubiaceae).
Tầng cây bụi thảm tươi gồm Cỏ quyết và Le vòng (Oxytenanthera sp.) mọc dày và cao
dưới 5 m. Loài Le vòng phát triển mạnh trong mùa mưa, đặc biệt dọc theo các suối và
hai bên bờ sông Srêpôk.
Hệ sinh thái rừng tre nứa, hỗn giao gỗ nứa:
Kiểu này phân bố dọc theo các sông, suối, hình thành sau nương rẫy và sau khai
thác rừng, dọc phía tả ngạn Sông Srêpôk, Đăk Na, quanh hồ Đăk Minh, Đăk Ken, Đăk
Lau. Những cây gỗ tiên phong tái sinh thuộc họ Bàng (Combretaceae), họ Sau sau
(Hamamelidaceae), họ Bồ hòn (Sapindaceae). Họ phụ tre nứa (Bambusea) có nhiều
loài (tre, trúc, và lồ ô) phát triển mạnh. Trong kiểu rừng này còn có mặt của loài Tuế lá
xẻ, Địa liền và một số loài thuộc họ Gừng (Zingiberaceae).
Hệ sinh thái trảng cây bụi và đồng cỏ:
Trong VQG có những trảng cây bụi, trảng cỏ hình thành sau quá trình làm
nương rẫy của đồng bào. Để ổn định cuộc sống cho người dân sống ở Buôn Đrăng
Phôk đang dần hình thành các diện tích trồng sắn, ngô, khoai và đặc biệt là gần 100 ha
ruộng lúa nước.
12


Trảng cây bụi thấp và trảng cỏ có diện tích nhỏ, phân bố rải rác trên một số tiểu
khu trong rừng khộp và sát với vùng dân cư, nơi có địa hình bằng phẳng, thấp và một
số khu vực đọng nước vào mùa khô. Trảng cây bụi thấp và trảng cỏ thường là nguồn


Giá trị của nguồn tài nguyên ĐVHD ở VQG Yok Đôn:
- ĐVHD là một dạng tài nguyên thiên nhiên rất độc đáo, một yếu tố cấu thành tính Đa
dạng sinh học vô cùng to lớn trong việc giữ cân bằng hệ sinh thái ở VQG và các vùng
lân cận.
- Là một nguồn gen tự nhiên mang nhiều yếu tố địa phương rất điển hình của hệ sinh
thái rừng lá rộng rụng lá, là nền móng sinh học cho việc lựa chọn, cung cấp các vật
liệu di truyền góp phần làm tăng năng suất sinh học thứ cấp trong VQG và vùng đệm.
- Là nguồn dược liệu quý trong y học phương Đông miễn là con người biết sử dụng
một cách khôn ngoan và bền vững.
- Là các đối tượng cơ bản phục vụ trong lĩnh vực nghiên cứu Sinh - Y học.
- Là một bộ phận tài nguyên quan trọng góp phần phục vụ cho ngành Kinh tế - Du lịch
ở địa phương nói riêng và của Quốc gia nói chung, đặc biệt là đối với du lịch sinh thái.
2.3 Điều kiện kinh tế và xã hội
2.3.1 Dân số, dân tộc và nguồn lao động
2.3.1.1 Khu vực vùng lõi
Trong vùng lõi của VQG Yok Đôn có buôn Đrăng Phôk thuộc xã Krông Na của
huyện Buôn Đôn, tỉnh Đắk Lắk. Buôn Đrăng Phôk nằm ở phía Tây khu trung tâm
VQG Yok Đôn và cách khoảng 20 km. Tổng diện tích toàn buôn là 190,2 ha; trong đó
đất nông nghiệp là 93,6 ha; diện tích canh tác lúa nước một vụ trước đây có 60,2 ha.
Sau khi hồ Đrăng Phôk hoàn thành và hệ thống mương dẫn nước từ hồ về tưới cho
cánh đồng của người dân trong buôn, người dân trong buôn đã có thể canh tác lúa 2 vụ
trên diện tích 52 ha.
Buôn nằm về phía Bắc của sông Srêpôk, sông chảy qua buôn với chiều dài 1
km, đây là nguồn cung cấp nước sinh hoạt chính cho buôn. Đrăng Phôk là buôn vùng
3, kinh tế - xã hội chưa phát triển, đời sống của người dân trong buôn gặp nhiều khó
khăn, đường giao thông từ huyện vào buôn đã được nâng cấp để đi lại trong mùa mưa.
Toàn buôn có 79 hộ với 403 người, trong đó:
- Người M’Nông: 35 hộ, 140 nhân khẩu;
- Người Kinh: 10 hộ, 44 nhân khẩu;


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status