VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
LÊ THỊ HẢO
HOẠT ĐỘNG GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO THANH NIÊN
DÂN TỘC NÙNG TẠI HUYỆN YÊN THẾ TỈNH BẮC GIANG
TỪ CÁCH TIẾP CẬN CÔNG TÁC XÃ HỘI
huyên ngành: Công tác xã hội
Mã số: 876 01 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. HÀ THỊ THƯ
HÀ NỘI, 2018
LỜI CAM ĐOAN
Đề tài nghiên cứu: “Giải quyết việc làm cho thanh niên dân tộc Nùng tại
huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang từ cách tiếp cận Công tác xã hội” là kết quả
nỗ lực cố gắng của bản thân tôi.
Tôi xin cam đoan những lời trên đây là hoàn toàn đúng sự thật và tôi xin
chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình.
Hà Nội, tháng 03 năm 2018
Học viên
Lê Thị Hảo
Biểu đồ 2.1: Thành phần dân tộc thiểu số tại tỉnh Bắc Giang (%) ............................ 36
Bảng 2.1: Trình độ học vấn của thanh niên dân tộc Nùng được khảo sát .................37
Bảng 2.2: Tổng hợp số liệu việc làm thanh niên dân tộc Nùng huyện Yên Thế năm
2017............................................................................................................................ 38
Biểu đồ 2.2: Thanh niên dân tộc Nùng làm việc theo cơ cấu ngành kinh tế .............39
Biểu đồ 2.3: Thu nhập của thanh niên ...........................................................................
Bảng 2.3: Những khó khăn thanh niên trong tìm kiếm việc làm ............................... 42
Biểu đồ 2.4: Nhu cầu giải quyết việc làm của thanh niên (%) ..................................43
Bảng 2.4 : Mạng lưới giải quyết việc làm cho thanh niên tại huyện Yên Thế .........44
Bảng 2.5. Trình độ chuyên môn của cán bộ giải quyết việc làm ............................... 45
Biểu đồ 2.5: Các hoạt động cung cấp thông tin, tư vấn việc làm tại huyện Yên Thế (%) ....
Biểu đồ 2.6: Các hình thức tổ chức hoạt động cung cấp thông tin, tư vấn việc làm .48
Biểu đồ 2.7: Mức độ hiệu quả hoạt động cung cấp thông tin, tư vấn việc làm (%) .......49
Biểu đồ 2.8: Nội dung hoạt động dạy nghề gắn với việc làm cho thanh niên dân tộc
Nùng ........................................................................................................................... 51
Bảng: 2.6: tỷ lệ tham gia các lớp tập huấn, bồi dưỡng của thanh niên ......................51
Bảng: 2.7 Tần suất tổ chức các hoạt động dạy nghề gắn với việc làm ......................52
Biểu đồ 2.10: Nội dung hoạt động hỗ trợ xuất khẩu lao động(%) ............................. 54
Bảng 2.8: Số lao động thanh niên dân tộc Nùng đi xuất khẩu lao động của huyện
Yên Thế qua các năm (đơn vị: người) .......................................................................55
Bảng 2.9: Tần suất tổ chức hoạt động hỗ trợ xuất khẩu lao động ............................. 56
Biểu đồ 2.11: Mức độ hiệu quả của hoạt động hô trợ xuất khẩu lao động ...............56
Biểu đồ 2.12: nội dung hoạt động hỗ trợ vốn ............................................................ 58
Bảng 2.10: Tình hình dư nợ ủy thác của các tổ vay vốn do Đoàn thanh niên quản lý
theo các chương trình cho vay tính đến hết tháng 12/2017 .......................................59
Bảng 2.11: Tần suất tổ chức hoạt động hỗ trợ vốn ....................................................60
Biểu đồ 2.13: Mức độ hiệu quả hoạt động hỗ trợ vốn ...............................................61
Biểu đồ 2.14: Khó khăn của thanh niên trong vay vốn phát triển sản xuất ...............61
Biểu đồ 2.15: Hiệu quả các hình thức giải quyết việc làm ........................................62
Biểu đồ 2.16: Các yếu tố thuộc về cán bộ giải quyết việc làm ..................................66
vấn đề của sự phát triển đối với thanh niên dân tộc Nùng.
Huyện Yên Thế có khoảng trên 102 nghìn người với 8 dân tộc anh em
1
sinh sống, trong đó dân tộc thiểu số chiếm khoảng 28% dân số của huyện, chủ
yếu là dân tộc Nùng, Tày, Cao Lan.
Công tác xã hội đã được quan tâm và phát triển bước đầu về tổ chức và
một số đối tượng yếu thế đã được thụ hưởng như: Người cao tuổi, người khuyết
tật, trẻ mồ côi...nhưng công tác xã hội với thanh niên dân tộc thiểu số nhất là đối
với dân tộc Nùng còn nhiều khó khăn, hạn chế.
Việc giải quyết việc làm cho thanh niên nói chung và thanh niên là dân
tộc Nùng nói riêng qua cách tiếp cận Công tác xã hội là điều rất quan trọng và
cần thiết, trong quá trình đất nước hội nhập và phát triển, nó góp phần trong việc
đảm bảo công bằng xã hội, đảm bảo an sinh là hội là nền tảng để đất nước ta tiến
hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế.
Với những lý do trên, tôi chọn đề tài: “Hoạt động giải quyết việc làm cho
thanh niên dân tộc Nùng tại huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang từ cách tiếp cận
Công tác xã hội” để nghiên cứu.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Những năm gần đây, vấn đề việc làm được sự quan tâm nhiều của các nhà
khoa học, nhà nghiên cứu trong nước và trên thế giới.
Trên thế giới, các công trình nghiên cứu đã cung cấp cho người đọc những
cái nhìn đa chiều về lao động và việc làm: ILO (tổ chức lao động quốc tế) đã
tiến hành nghiên cứu vấn đề an sinh xã hội của 10 nước công nghiệp. Họ chỉ ra
rằng, một bộ phận dân cư nhất là vùng nông thôn lâm vào tình trạng thất nghiệp
nên bị ngừng hoặc giảm đáng kể thu nhập.[1 tr9]
Ở Nhật Bản, tác giả Sato (2010) trong cuốn sách: “Thất nghiệp và an sinh
xã hội” đã phân tích lỗ hổng của chế độ an sinh xã hội tạo ra sự gia tăng thất
nghiệp.
thanh niên dân tộc Nùng tại huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang từ cách tiếp cận
Công tác xã hội.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Khái quát cơ sở lý luận về hoạt động giải quyết việc làm cho thanh niên
3
dân tộc Nùng từ cách tiếp cận công tác xã hội và các yếu tố ảnh hưởng tới vấn
đề này.
Phân tích thực trạng hoạt động giải quyết việc làm cho thanh niên dân tộc
Nùng tại huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang từ cách cách tiếp cận Công tác xã hội.
Phân tích các yếu tố ảnh hưởng tới hoạt động giải quyết việc làm cho thanh
niên dân tộc Nùng tại huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang từ cách tiếp cận Công tác
xã hội.
Đề xuất một số giải pháp nhằm thúc đẩy hiệu quả hoạt động giải quyết việc
làm cho thanh niên dân tộc Nùng tại huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang từ cách tiếp
cận Công tác xã hội.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu lý luận và thực trạng hoạt động giải quyết việc làm cho thanh
niên dân tộc Nùng tại huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang từ cách tiếp cận Công tác
xã hội.
4.2. Khách thể nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu hai nhóm khách thể đó là thanh niên có độ tuổi từ 16 –
30 và cán bộ làm công tác hỗ trợ giải quyết việc làm.
4.3. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi về đối tượng: Đề tài tập trung nghiên cứu lý luận và thực trạng
hoạt động giải quyết việc làm cho thanh niên dân tộc Nùng từ cách tiếp cận công
tác xã hội, cụ thể là các hoạt động: hoạt động cung cấp thông tin tìm kiếm việc
làm, hoạt động đào tạo dạy nghề, hoạt động tư vấn xuất khẩu lao động, hoạt
Đọc, tìm hiểu và phân tích, đánh giá các tài liệu có liên quan tới việc làm
và các hoạt động hỗ trợ giải quyết việc làm cho thanh niên. Từ đó tìm ra hướng
nghiên cứu mới cho đề tài.
5.2.2. Phương pháp thu thập thông tin
- Phương pháp quan sát: Quan sát là phương pháp thu thập thông tin thực
5
nghiệm mà thông qua các tri giác như nghe, nhìn để thu thập thông tin về các
quá trình, các hiện tượng xã hội trên cơ sở nghiên cứu của đề tài và mục đích
của cuộc nghiên cứu nhằm đánh giá mức độ tin cậy của thông tin đã thu thập.
Thông qua quan sát cũng có thể nắm bắt một phần thực trạng đời sống và các
hoạt động giải quyết việc làm của thanh niên tại địa phương: Hình thức giải
quyết việc làm, cơ cấu kinh tế, điều kiện địa hình, đất đai, sông ngòi, cơ sở vật
chất...
- Phương pháp phỏng vấn bằng bảng hỏi: Là phương pháp điều tra xã hội
học nhằm thu thập thông tin bằng cách lập một bảng hỏi cho nhóm đối tượng
trong một khu vực nhất định ở một không gian, thời gian nhất định. Sử dụng
phương pháp này có thể thu thập được một lượng thông tin lớn mạng tính đại
chúng trong quá trình điều tra và thu thập thông tin.
Trong khuôn khổ luận văn và thực hiện đề tài tôi sử dụng phương pháp
phỏng vấn bằng bảng hỏi để thu thập thông tin về thực trạng thu nhập, việc làm,
nhu cầu của thanh niên, thực trạng hoạt động hỗ trợ giải quyết việc làm đối với
thanh niên dân tộc Nùng tại huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang. Phương pháp này
sử dụng các câu hỏi đóng, câu hỏi mở và câu hỏi hỗn hợp đan xen.
Đề tài sẽ tiến hành khảo sát thông qua bảng hỏi với số lượng phiếu: 80
phiếu, bảng hỏi sẽ phát ra cho đối tượng điều tra điền và thu lại ngay sau đó.
- Phương pháp phỏng vấn sâu: Là phương pháp thu thập thông tin cụ thể
của xã hội học, thông qua những cuộc đối thoại giữa nhà nghiên cứu và người
cung cấp thông tin nhằm tìm hiểu cuộc sống, kinh nghiệm và nhận thức của
tiễn huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang và công tác xã hội đối với giải quyết vấn đề
trên địa bàn nghiên cứu. Trên cơ sở đó, từ kết quả nghiên cứu chỉ ra các vấn đề
trong thực trạng và đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động công
tác xã hội với vấn đề giải quyết việc làm trên địa bàn huyện Yên Thế, tỉnh Bắc
Giang. Đồng thời tài liệu có thể dử dụng làm tài liệu tham khảo cho người làm
công tác xã hội, bố sung hệ thống lý thuyết, thực hành cho các hoạt động công
tác xã hội với vấn đề giải quyết việc làm cho thanh niên nói chung và thanh niên
7
dân tộc Nùng nói riêng.
7. Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu; Kết luận; Danh mục tài liệu và phụ lục kèm theo luận
văn còn có 3 chương sau đây:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về hoạt động giải quyết việc làm với
thanh niên dân tộc thiểu số.
Chương 2: Thực trạng hoạt động giải quyết việc làm cho thanh niên dân
tộc Nùng tại huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang từ cách tiếp cận Công tác xã hội.
Chương 3: Các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động Công tác xã
hội trong giải quyết việc làm cho thanh niên dân tộc Nùng tại huyện Yên Thế,
tỉnh Bắc Giang.
8
Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM
CHO THANH NIÊN DÂN TỘC THIỂU SỐ
1.1. Khái niệm và đặc điểm thanh niên và thanh niên dân tộc thiểu số
1.1.1. Một số khái niệm
- Nhóm sau khi tốt nghiệp các trường cao đẳng, đại học, dạy nghề (đã qua
đào tạo nghề) sẵn sàng tham gia vào thị trường lao động.
* Thanh niên dân tộc thiểu số
Thanh niên là một nhóm xã hội nhân khẩu đặc thù bao gồm những người
trong một độ tuổi nhất định, có sự phát triển nhanh chóng về thể chất, tâm lý, trí
tuệ, có mặt trong mọi lĩnh vực hoạt động của xã hội; có mối quan hệ gắn bó mật
thiết với tất cả các giai cấp, tầng lớp trong xã hội; là lực lượng xã hội to lớn
đóng vai trò quyết định đối với sự phát triển trong tương lai của mỗi quốc gia,
dân tộc. Từ đó, chúng ta có thể hiểu: TNDTTS là một nhóm người có độ tuổi từ
16 đến 30 tuổi, có sự phát triển nhanh chóng về thể chất, tâm lý, trí tuệ, có mặt
trong mọi lĩnh vực hoạt động của cộng đồng các dân tộc thiểu số, lao động hiệu
quả góp phần thúc đẩy sự phát triển của địa phương cùng với sự phát triển của
đất nước [16].
Như vậy, giải quyết việc làm cho thanh niên dân tộc thiểu số là: Quá trình
tạo ra số lượng và chất lượng tư liệu sản xuất trong các điều kiện kinh tế - xã
hội nhất định để kết hợp với thể chất, tâm lý, trí tuệ của TNDTTS (là một nhóm
người có độ tuổi từ 16 đến 30 tuổi) một cách hiệu quả góp phần thúc đẩy sự
phát triển của địa phương cùng với sự phát triển của đất nước. [16.tr9]
1.1.2. Đặc điểm tâm lý xã hội của Thanh niên dân tộc thiểu số
Dân tộc thiểu số thường được nhận biết thông qua những đặc trưng chủ yếu
sau đây:
Có chung một phương thức sinh hoạt kinh tế. Đây là đặc trưng quan trọng
nhất của dân tộc. Các mối quan hệ kinh tế là cơ sở liên kết các bộ phận, các
thành viên của dân tộc, tạo nên nền tảng vững chắc của cộng đồng dân tộc.
10
Có thể cư trú tập trung trên một vùng lãnh thổ của một quốc gia, hoặc cư
trú đan xen với nhiều dân tộc anh em. Vận mệnh dân tộc một phần rất quan
trọng gắn với việc xác lập và bảo vệ lãnh thổ đất nước.
nghê…) để sử dụng sức lao động đó. Theo quan niệm của Mác thì bất cứ tình
huống nào xảy ra gây nên trạng thái mất cân bằng giữa sức lao động và điều
kiện cần thiết để sử dụng sức lao động đó đều có thể dẫn tới việc thiếu việc làm
hay mất việc làm.Như vậy, việc làm là một phạm trù kinh tế - xã hội, việc làm
chịu sự chi phối của nhiều mối quan hệ. Quan niệm đúng về việc làm là cơ sở
khoa học cho giải quyết việc làm [36, tr 5].
Phân loại việc làm: Có nhiều cách nhìn nhận và phân loại việc làm như
việc làm bán thời gian, việc làm đầy đủ, việc làm hiệu quả, việc làm chính, việc
làm phụ… nhưng trong nghiên cứu này chúng tôi phân loại theo cơ cấu ngành
kinh tế với 3 nhóm việc làm tương ứng với 3 khu vực kinh tế:
Khu vực I: Việc làm trong nhóm ngành nông nghiệp và lâm nghiệp
Khu vực II: Việc làm trong nhóm ngành công nghiệp, xây dựng, giao thông
vận tải, khai thác mỏ, năng lượng
Khu vực III: Việc làm trong nhóm ngành dịch vụ
* Giải quyết việc làm
Giải quyết việc làm cho người lao động là việc tạo cho người lao động từ
chỗ thất nghiệp hoặc thiếu việc làm, việc làm không đầy đủ trở thành người có
việc làm và có thu nhập đảm bảo từ việc làm đó. Có thể phân tích một số khía
cạnh liên quan đến giải quyết việc làm như sau:
- Giải quyết việc làm là tạo ra chỗ làm việc mới cho người lao động có nhu
cầu về việc làm và có khả năng đáp ứng yêu cầu của việc làm đó. Khi người lao
động hội tụ đủ những điều kiện này, học tham gia làm việc và có thu nhập từ
việc làm đó.
- Giải quyết việc làm là hỗ trợ người lao động tìm được việc làm phù hợp
với nhu cầu và khả năng của họ như: cung cấp thông tin về cơ hội việc làm, hỗ
trợ đào tạo nghề và nâng cao kỹ năng cho người lao động, tổ chức ngày hội hoặc
12
các sàn giao dịch việc làm để người lao động gặp gỡ người sử dụng lao động
tuổi từ 16 đến 30, thanh niên đang trong giai đoạn phát triển và dần hoàn thiện về
thể chất, tâm lý và nhân cách. Thanh niên có thể được đào tạp nghề hoặc chưa qua
đào tạo, do đó trình độ tay nghề cũng chưa ổn định. Giải quyết việc làm cho lao
động thanh niên phải quan tâm đến sự phù hợp này, phải tính đến khả năng phát
triển của thanh niên trong tương lai về cả thể chất, trí tuệ và tâm lý.
Bộ Luật Lao động đã dành riêng chương XI, mục I để quy định về “lao
động chưa thành niên”. Điều 119 của Bộ luật này chỉ rõ: “Nguười lao động chưa
thành niên là người dưới 18 tuổi”. Như vậy, một bộ phận thanh niên từ 16 đến
18 tuổi được xếp vào đối tượng lao động chưa thành niên. Điều 121 của Bộ luật
này nhấn mạnh: “Người sử dụng lao động chỉ được sử dụng lao động chưa thành
niên vào những công việc phù hợp với sức khỏe để đảm bảo sự phát triển thể
lực, trí lực, nhân cách và có vai trò trách nhiệm quan tâm chăm sóc người lao
động chưa thành niên về các mặt lao động, tiền lương, sức khỏe, học tập trong
quá trình lao động. Cấm sử dụng lao động chưa thành niên làm những công việc
nặng nhọc, nguy hiểm hoặc tiếp xúc với các chất độc hại theo danh mục do Bộ
Lao động, Thương binh và Xã hội và Bộ Y tế ban hành. [20]
Thứ hai, giải quyết việc làm cho thanh niên phải tính đến yếu tố gia nhập
thị trường lao động thường xuyên, liên tục. Vấn đề này nếu không được tính
toán đầy đủ, cộng với tỷ lệ lao động thất nghiệp do mất việc làm và một lực
lượng lao động chưa tìm được việc làm hàng năm sẽ tạo áp lực lớn về giải quyết
việc làm cho người lao động của Nhà nước và xã hội,
Thứ ba, trong giải quyết việc làm cho thanh niên, vấn đề tự tìm việc làm sẽ
khó khăn hơn các đối tượng lao động khác. Nguyên nhân chủ yếu là thanh niên
đang trong giai đoạn phát triển, muốn khẳng địn bản thân nhưng tâm lý chưa muốn
ổn định, chưa tự chủ về bản thân mà cần có sự định hướng nghề nghiệp từ phía gia
đình, nhà trường, Đoàn thanh niên, Hội Liên hiệp Thanh niên. Thêm vào đó, thanh
niên còn thiếu kiến thức, thiếu kinh nghiệm, thiếu vốn ... nên trong giai đoạn đầu
của thời kỳ này thanh niên khó có khả năng tự tạo việc làm ổn định cho bản thân.
14
* Hoạt động giải quyết việc làm cho thanh niên dân tộc thiểu số
Hoạt động tạo việc làm cho thanh niên dân tộc thiểu số là: Quá trình tạo
ra số lượng và chất lượng tư liệu sản xuất trong các điều kiện kinh tế - xã hội
nhất định để kết hợp với thể chất, tâm lý, trí tuệ của thanh niên dân tộc thiểu số
(là một nhóm người có độ tuổi từ 16 đến 30 tuổi) một cách hiệu quả góp phần
thúc đẩy sự phát triển của địa phương cùng với sự phát triển của đất nước.
1.2.2. Các hoạt động giải quyết việc làm
* Hoạt động cung cấp thông tin, tư vấn việc làm
Mục đích của hoạt động: Tư vấn cho người lao động về chính sách lao động,
cung cấp thông tin về việc làm cho người lao động và người sử dụng lao động.
Hình thức: Có nhiều hình thức cung cấp thông tin việc làm bao gồm: qua
các phương tiện thông tin đại chúng như đài, báo chí và hiện nay enternet phát
triển các trang mạng như Face book, Zalo... thuận lợi cho việc tuyên truyền
thông tin về tuyển dụng lao động.
Vai trò của nhân viên công tác xã hội: Tìm hiểu chính sách ưu đãi dành cho
thanh niên dân tộc. Khảo sát nhu cầu, tìm kiếm thông tin về việc làm kết nối
thanh niên dân tộc Nùng có nhu cầu tới nhà tuyển dụng, và nhà tuyển dụng với
thanh niên.
* Hoạt động dạy nghề gắn với việc làm
Hoạt động dạy nghề gắn với việc làm là hoạt động dạy và học nhằm trang
bị kiến thức cho người học nghề để có thể tìm được việc làm hoặc được định
hướng nghề nghiệp, việc làm sau khi hoàn thành khóa học.
Hoạt động dạy nghề gắn với việc làm là hoạt động giúp thanh niên được
trang bị kiến thức, kỹ năng tìm kiếm thông tin về việc làm, chủ động tiếp cận
các nhà tuyển dụng, qua đó thanh niên có thể có được công việc phù hợp với
năng lực.
Mục đích của hoạt động nhằm định hướng nghề nghiệp, tạo việc làm cho
thanh niên, giúp thanh niên tự khởi nghiệp từ những kiến thức đã được học.
tới đối tượng là thanh niên và thanh niên dân tộc.
17
Mục đích của hoạt động nhằm giúp thanh niên nói chung và thanh niên dân
tộc Nùng nói riêng có nguồn vốn để sản xuất kinh doanh góp phần tạo việc làm
và thu nhập cho cá nhân và gia đình.
Nội dung của hoạt động hỗ trợ vốn vay để mua các tư liệu cần thiết cho sản
xuất nông nghiệp, đầu tư sản xuất, kinh doanh đảm bảo cho cuộc sống của thanh
niên và gia đình.
Vai trò của cán bộ giải quyết việc làm tìm hiểu các nguốn vốn vay tại cơ sở
kết nối thanh niên dân tộc Nùng tới các nguồn vốn vay nhằm mục đích giải
quyết việc làm hoặc phát triển kinh tế.
1.2.3. Các lý thuyết công tác xã hội ứng dụng trong giải quyết việc làm
1.2.3.1. Cách tiếp cận theo thuyết nhu cầu
Theo thuyết nhu cầu của A.H. Maslow con người là một thực thể sinh - tâm
lý xã hội; chính vì vậy con người có nhu cầu cá nhân cần cho sự sống và nhu
cầu cá nhân cần cho cuộc sống xã hội.
Maslow đã thiết lập một lý thuyết có thứ bậc của nhu cầu. Tất cả các nhu
cầu cơ bản theo ông là bản năng, giống với bản năng của động vật. Con người
bắt đầu với một khuynh hướng chưa rõ rệt để rồi sẽ phát triển về sau. Nếu môi
trường thích ứng, con ngưới sẽ phát đầy đủ và thể hiện được cái tiềm năng mà
họ thừa kế. Nếu môi trường không thích ứng, họ sẽ không phát triển đầy đủ.
Đầu tiên ông chia nhu cầu của con người thành 5 bậc, đến năm 1970 chia
thành 7 bậc, sau này các nhà kinh tế học hiện đại giới thiệu thuyết của ông
thường là 5 bậc. Theo ông, hành vi con người phụ thuộc vào các động cơ bên
trong, động cơ bên trong được hình thành từ những nhu cầu của con người.
Maslow đã thiết lập một hệ thống gồm năm cấp độ của nhu cầu cơ bản.
Ngoài những nhu cầu này, còn có các nhu cầu có cấp độ cao hơn. Chúng bao
gồm nhu cầu cho sự hiểu biết, sự đánh giá cao và nhu cầu thẩm mỹ, tinh thần.
này bao gồm nhu cầu về nhận thức (học hỏi, hiểu biết, nghiên cứu ...), nhu cầu
thẩm mỹ, nhu cầu thực hiện mục đích của mình bằng khả năng cá nhân.
Lý thuyết “các thứ bậc nhu cầu” thường được biểu diễn như một kim tự
19
tháp, với mức độ thấp hơn đại diện cho các nhu cầu thấp hơn, và điểm trên cùng
đại diện cho sự cần thiết phải tự hiện thực bản thân.
Một trong những nhiệm vụ của Công tác xã hội là hướng đến hỗ trợ thân
chủ đáp ứng các nhu cầu cơ bản và cần thiết đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển
trong xã hội. Khi con người được thỏa mãn các nhu cầu cơ bản thì mới có điều
kiện để thỏa mãn các nhu cầu cao hơn và quan trọng là có được sự thoải mái và
có tính tích cực trong thực hiện các hoạt động. Trong đề tài nghiên cứu, tác giả
tìm hiểu về các nhu cầu và thực thực trạng đáp ứng các nhu cầu giải quyết việc
làm của thanh niên, trong đó có nhu cầu về tiếp cận về thông tin việc làm, kết
nối các cơ sở sử dụng lao động, nâng cao chất lượng lao động. Việc đảm bảo các
nhu cầu xã hội cũng là một trong những điều kiện mà an sinh xã hội cần thực
hiện [24, tr23]
Lý thuyết này được sử dụng trong đề tài nhằm tìm hiểu thực trạng đáp ứng
nhu cầu giải quyết việc làm cho thanh niên dân tộc Nùng tại địa phương đồng
thời xác định những nhu cầu việc làm mà thanh niên đang cần được đáp ứng là
gì? Trước khi lập kế hoạch trợ giúp thanh niên nhân viên công tác xã hội cần xác
định được nhu cầu, mong mốn của họ là gì? Họ cần gì? Và nhu cầu đó đã được
đáp ứng đến đâu? Nhà nghiên cứu từ việc kết quả nghiên cứu được đưa ra thực
trạng và kế hoạch giúp đỡ cho phù hợp với hoàn cảnh, điều kiện bản thân cho
phù hợp.
1.2.3.2. Cách tiếp cận theo thuyết hệ thống
Lý thuyết hệ thống là một trong những lý thuyết quan trọng được vận
dụng trong Công tác xã hội. Thuyết hệ thống được phát triển vào những năm 30
và 40 của thế kỷ XX do nhà sinh học Ludving Von Bertanffy khởi xướng.
Nhìn nhận vấn đề theo hệ thống giúp nhân viên Công tác xã hội tổ chức tư
duy về một vấ đề phức tạp, chia tình huống phức tạp thành một tập hợp những
hệ thống, phân tích sư tác động của hệ thống này tới hệ thống khác và theo dõi
sự tương tác giữa các hệ thống.
Nhân viên Công tác xã hội khi hỗ trợ giải quyết việc làm đối với thanh
21