VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN THỊ NGỌC BÉ
CÔNG TÁC XÃ HỘI NHÓM TRONG VIỆC PHÁT TRIỂN KỸ NĂNG
SỐNG CHO TRẺ EM MỒ CÔI TẠI TRUNG TÂM
BẢO TRỢ XÃ HỘI III, TÂY MỖ, TỪ LIÊM, HÀ NỘI
Chuyên ngành: Công tác xã hội
Mã số: 876 01 01
LUẬN VĂN THẠC
C NG T C
HỘ
NGƯỜ HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: GS.TS. NGUYỄN HỮU MINH
HÀ NỘI, 2018
LỜ CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng, Luận văn Thạc sĩ Công tác xã hội về “Công tác xã
hội nhóm trong việc phát triển kỹ năng sống cho trẻ em mồ côi tại Trung tâm
Bảo trợ xã hội III, Tây Mỗ, Từ Liêm, Hà Nội” là công trình nghiên cứu của riêng
tôi được thực hiện dưới sự hướng dẫn của GS.TS. Nguyễn Hữu Minh. Những tư
liệu trích dẫn trong luận văn hoàn toàn trung thực.
Kết quả nghiên cứu này không trùng lặp với bất kỳ công trình nghiên cứu
3.2. Giải pháp nhằm phát triển kỹ năng sống cho trẻ em mồ côi tại Trung tâm Bảo trợ xã
hội III Tây Mỗ, Từ Liêm, Hà Nội ................................................................................................ 74
KẾT LUẬN................................................................................................................................... 78
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO................................................................................... 80
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT TRONG BÁO CÁO
BTXH
Bảo trợ xã hội
CBQL
Cán bộ quản lý
CTXH
Công tác xã hội
KN
Kỹ năng
KNS
Kỹ năng sống
PTKNS
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trẻ em luôn là mối quan tâm hàng đầu của xã hội.Sự phát triển của trẻ em
quyết định đến vận mệnh phát triển của một đất nước.Trẻ em luôn cần nhận được sự
quan tâm, chăm sóc và yêu thương của toàn xã hội để có thể phát triển toàn diện cả
về thể chất lẫn tinh thần. Sự quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ của xã hội cần đặc biệt
chú trọng đến các nhóm trẻ em có hoàn cảnh khó khăn như: trẻ mồ côi,trẻ em thiệt
thòi, trẻ em khuyết tật, trẻ em lang thang đường phố, trẻ em là nạn nhân của bạo lực
gia đình, trẻ em bị xâm hại tình dục…Giải quyết những vấn đề xã hội liên quan đến
trẻ em có hoàn cảnh khó khăn góp phần tạo nên sự phát triển bền vững của quốc
gia, đó là trách nhiệm và nghĩa vụ của toàn xã hội.
Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề này, trong những năm qua Việt
Nam đã triển khai những chương trình hành động nhằm giúp đỡ nhóm trẻ có hoàn
cảnh khó khăn thông qua nhiều hình thức khác nhau. Mô hình chăm sóc giáo dục trẻ
có hoàn cảnh khó khăn tại các Trung tâm BTXH trong cả nước là một trong những
hình thức đã mang lại nhiều kết quả khả quan, có ý nghĩa xã hội và nhân văn sâu
sắc như: xây dựng những ngôi nhà ấm áp tình thương; giúp trẻ tiếp cận với các dịch
vụ xã hội cơ bản như y tế, giáo dục; xoa dịu sự mất mát gia đình cũng như giảm bớt
sự mặc cảm, tự ti về số phận ở các em. Trong đó, có mô hình chăm sóc, giáo dục trẻ
em mồ côi tại Trung tâm BTXH III, Tây Mỗ, Từ Liêm, Hà Nội
Công tác chăm sóc, hỗ trợ trẻ em mồ côi trong Trung tâm BTXH III tuy đã đáp
ứng được phần nào một số nhu cầu của trẻ như nhu cầu vật chất cơ bản, nhu cầu an
toàn, nhu cầu hòa nhập xã hội,.. Song vẫn còn gặp rất nhiều khó khăn, đặc biệt công tác
hỗ trợ, tham vấn tâm lý cho trẻ còn thiếu tính chuyên nghiệp, việc tổ chức các hoạt
động nhóm, hoạt động xã hội giúp các em bớt mặc cảm, tự ti, hòa nhập cộng đồng
cũng như gắn bó, đoàn kết với nhau hơn vẫn còn hạn chế. Vì vậy, một số trẻ em trong
trung tâm BTXH III vẫn thiếu tự tin vào bản thân, rụt rè và chưa hòa nhập xã hội tốt,
các em chưa được trang bị đầy đủ những kỹ năng sống, tinh thần đoàn kết chưa thực sự
đã trải qua quá trình phát triển với nhiều khó khăn và nỗ lực của nhiều nhà khoa
học, chuyên môn về CTXH.
Tiền thân của CTXH nhóm đó là sự giúp đỡ theo hình thức nhóm trên thế giới
từ các hoạt động từ thiện và tôn giáo. Tiêu biểu có phong trào “ Nhà định cư
SettlementHouse”, phong trào “ Toynbee Hall” khởi xướng tại Luân Đôn ở Anh vào
những năm 1884 và người sáng lập là Samuel Barnett. Tại Mỹ có “ Neighborhood
Guild” thành lập năm 1886 và đặc biệt là “Hull House” của Jane Adams ở Chicago
năm 1889.Để hiệu quả những người tham gia phong trào Nhà Định cư dọn vào
những khu ổ chuột, sống trong hoàn cảnh của người nghèo và làm việc cùng với họ
để thay đổi toàn bộ các khu xóm và cải thiện chất lượng cuộc sống của dân cư.
Phong trào cải thiện thành công nhiều xóm nghèo, xây dựng nhà trẻ, trường mẫu
giáo, phòng đọc sách, lớp dạy thi quốc tịch, văn phòng tìm việc làm…Về sau phong
trào Nhà Định cư tham gia vào những hoạt động lớn hơn như tranh đấu cho chế độ
2
làm việc tám giờ /ngày, sáu giờ /tuần; cấm lao động trẻ em; thiết lập tòa thiếu nhi
đầu tiên trên thế giới ở Hạt Cook, Chicago. Giai đoạn đầu này các hoạt động nhóm
chỉ dừng lại ở những hình thức hỗ trợ,giúp đỡ mang nhiều sắc thái của tôn giáo, từ
thiện. [22, tr.7]
Đến những năm 30 của thế kỷ XX, lần đầu tiên CTXH nhóm được dành một
phần nội dung đề trình bày và thảo luận tại Hội nghị quốc gia của Mỹ về CTXH
nhóm năm 1935. Đến nay 1936, Hiệp hội quốc gia về nghiên cứu CTXH nhóm của
Mỹ được thành lậpvới đại diện của 100 thành viên đến từ tất cả các khu vực của
Mỹ. Sự kiện này đánh dấu sự phát triển tiếp theo về mặt tổ chức của những nhà thực
hành phương pháp CTXH nhóm. Sau đó, trong những năm của thập ký 40, Hiệp hội
các trường đào tạo CTXH ở Mỹ đã khuyến khích và ủng hộ cho việc đưa nội dung
phương pháp CTXH nhóm vào chương trình đào tạo đại học và sau đại học.
Những dự án của UNICEF tại Philippines vào năm 1961 đã thúc đẩy nhanh
Tại Mỹ Latinh, năm 1996 một hội thảo về KNS được tổ chức tại Costa
Ricanhằm đẩy mạnh giáo dục sức khỏe thông qua giáo dục kỹ năng sống trong các
trường học và coi đó như những ưu tiên của mạng lưới y tế tại Mỹ Latinh.
Như vậy, trên thế giới cũng như ở Việt Nam đã có nhiều hoạt động nghiên cứu
và thực hành nhằm giáo dục, phát triển kỹ năng sống cho trẻ em nói chung và một
số nhóm xã hội có hoàn cảnh khó khăn nói riêng song chưa đi sâu phân tích, vận
dụng tiến trình CTXH nhóm trong việc giải quyết vấn đề cho nhóm thân chủ mà
hầu như chỉ đưa ra những khái niệm, phương pháp phát triển kỹ năng sống . Tuy
vậy, giá trị tham khảo ở các nghiên cứu này rất hữu ích và thiết thực vì đây là sự bổ
sung cho những khía cạnh còn thiếu của đề tài nghiên cứu này.
2.2. Tình hình nghiên cứu trong nước.
Vịêc đào tạo CTXH nhóm đã được thực hiện từ những năm đầu thập kỷ 90
của thế kỷ XX. Đầu tiên là trường Đại học Mở bán công Thành phố Hồ Chí Minh
và Trường Cao đẳng Lao động – Xã hội, và đến năm 2004 học phần đã được chính
thức đưa vào Chương trình khung của Bộ giáo dục và Đào tạo áp dụng cho tất cả
các trường trong cả nước được phép đào tạo ngành CTXH. Đến nay sự hình thành
và phát triển CTXH nhóm đang dần phát triển theo xu thế chung và đã xuất hiện
nhiều sách giáo khoa về vấn đề này. Chẳng hạn công trình “ Công tác xã hội nhóm”
( 2002)của tác giả Nguyễn Thị Oanh , công trình “ Công tác xã hội nhóm” ( 2006)
của tác giả Nguyễn Ngọc Lâm, công trình “ Giáo trình công tác xã hội nhóm”(2008)
của tác giả Nguyễn Thị Thái Lan.
Vê các công trình nghiên cứu ở Việt Nam những năm gần đây đã có một số
bài viết, dự án, nghiên cứu khoa học về quyền trẻ em, trẻ em mồ côi, TECHCĐB.
Về thuật ngữ Kỹ năng sống được người Việt Nam biết đến bắt đầu từ chương
trình của UNICEF ( 1996) “ GD KNS để bảo vệ sức khỏe và phòng chống
HIV/AIDS cho thanh thiếu niên trong và ngoài nhà trường” do các chuyên gia
Australia tập huấn. Quan niệm KNS được giới thiệu trong chương trình này chỉ bao
gồm những KNS cốt lõi như: KN tự nhận thức, KN giao tiếp, KN xác định giá trị,
KN ra quyết định, KN kiên định, KN đặt mục tiêu…Qua hơn 10 năm có mặt tại
giao tiếp, khả năng tự giải quyết công việc của mình, tự làm lấy việc của mình ở trẻ
cũng là vấn đề đáng quan tâm, phần lớn trẻ phụ thuộc bố mẹ, người nuôi dưỡng,
thậm chí vào lớp 1 rồi vẫn bắt bố mẹ, người thân bón cơm, không ít trẻ em trong độ
tuổi học sinh trung học cơ sở chưa tự thực hiện được một số hành động vệ sinh cá
nhân. Những kỹ năng sống cơ bản, hàng ngày nhất ở nhiều trẻ em còn chưa có chứ
chưa nóigì đến kỹ năng chia sẻ và trình bày trước đám đông. Đặc biệt đối với
TEMC kỹ năng sống về sự tự tin và giao tiếp, hòa nhập cộng đồng còn hạn chế do
5
Luận văn đầy đủ ở file:Luận văn Full