VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN THỊ NGỌC BÉ
CÔNG TÁC XÃ HỘI NHÓM TRONG VIỆC PHÁT TRIỂN KỸ NĂNG
SỐNG CHO TRẺ EM MỒ CÔI TẠI TRUNG TÂM
BẢO TRỢ XÃ HỘI III, TÂY MỖ, TỪ LIÊM, HÀ NỘI
Chuyên ngành: Công tác xã hội
Mã số: 876 01 01
LUẬN VĂN THẠC
C NG T C
HỘ
NGƯỜ HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: GS.TS. NGUYỄN HỮU MINH
HÀ NỘI, 2018
LỜ CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng, Luận văn Thạc sĩ Công tác xã hội về “Công tác xã
hội nhóm trong việc phát triển kỹ năng sống cho trẻ em mồ côi tại Trung tâm
Bảo trợ xã hội III, Tây Mỗ, Từ Liêm, Hà Nội” là công trình nghiên cứu của riêng
tôi được thực hiện dưới sự hướng dẫn của GS.TS. Nguyễn Hữu Minh. Những tư
liệu trích dẫn trong luận văn hoàn toàn trung thực.
Kết quả nghiên cứu này không trùng lặp với bất kỳ công trình nghiên cứu
3.2. Giải pháp nhằm phát triển kỹ năng sống cho trẻ em mồ côi tại Trung tâm Bảo trợ xã
hội III Tây Mỗ, Từ Liêm, Hà Nội ................................................................................................ 74
KẾT LUẬN................................................................................................................................... 78
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO................................................................................... 80
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT TRONG BÁO CÁO
BTXH
Bảo trợ xã hội
CBQL
Cán bộ quản lý
CTXH
Công tác xã hội
KN
Kỹ năng
KNS
Kỹ năng sống
PTKNS
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trẻ em luôn là mối quan tâm hàng đầu của xã hội.Sự phát triển của trẻ em
quyết định đến vận mệnh phát triển của một đất nước.Trẻ em luôn cần nhận được sự
quan tâm, chăm sóc và yêu thương của toàn xã hội để có thể phát triển toàn diện cả
về thể chất lẫn tinh thần. Sự quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ của xã hội cần đặc biệt
chú trọng đến các nhóm trẻ em có hoàn cảnh khó khăn như: trẻ mồ côi,trẻ em thiệt
thòi, trẻ em khuyết tật, trẻ em lang thang đường phố, trẻ em là nạn nhân của bạo lực
gia đình, trẻ em bị xâm hại tình dục…Giải quyết những vấn đề xã hội liên quan đến
trẻ em có hoàn cảnh khó khăn góp phần tạo nên sự phát triển bền vững của quốc
gia, đó là trách nhiệm và nghĩa vụ của toàn xã hội.
Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề này, trong những năm qua Việt
Nam đã triển khai những chương trình hành động nhằm giúp đỡ nhóm trẻ có hoàn
cảnh khó khăn thông qua nhiều hình thức khác nhau. Mô hình chăm sóc giáo dục trẻ
có hoàn cảnh khó khăn tại các Trung tâm BTXH trong cả nước là một trong những
hình thức đã mang lại nhiều kết quả khả quan, có ý nghĩa xã hội và nhân văn sâu
sắc như: xây dựng những ngôi nhà ấm áp tình thương; giúp trẻ tiếp cận với các dịch
vụ xã hội cơ bản như y tế, giáo dục; xoa dịu sự mất mát gia đình cũng như giảm bớt
sự mặc cảm, tự ti về số phận ở các em. Trong đó, có mô hình chăm sóc, giáo dục trẻ
em mồ côi tại Trung tâm BTXH III, Tây Mỗ, Từ Liêm, Hà Nội
Công tác chăm sóc, hỗ trợ trẻ em mồ côi trong Trung tâm BTXH III tuy đã đáp
ứng được phần nào một số nhu cầu của trẻ như nhu cầu vật chất cơ bản, nhu cầu an
toàn, nhu cầu hòa nhập xã hội,.. Song vẫn còn gặp rất nhiều khó khăn, đặc biệt công tác
hỗ trợ, tham vấn tâm lý cho trẻ còn thiếu tính chuyên nghiệp, việc tổ chức các hoạt
động nhóm, hoạt động xã hội giúp các em bớt mặc cảm, tự ti, hòa nhập cộng đồng
cũng như gắn bó, đoàn kết với nhau hơn vẫn còn hạn chế. Vì vậy, một số trẻ em trong
trung tâm BTXH III vẫn thiếu tự tin vào bản thân, rụt rè và chưa hòa nhập xã hội tốt,
các em chưa được trang bị đầy đủ những kỹ năng sống, tinh thần đoàn kết chưa thực sự
đã trải qua quá trình phát triển với nhiều khó khăn và nỗ lực của nhiều nhà khoa
học, chuyên môn về CTXH.
Tiền thân của CTXH nhóm đó là sự giúp đỡ theo hình thức nhóm trên thế giới
từ các hoạt động từ thiện và tôn giáo. Tiêu biểu có phong trào “ Nhà định cư
SettlementHouse”, phong trào “ Toynbee Hall” khởi xướng tại Luân Đôn ở Anh vào
những năm 1884 và người sáng lập là Samuel Barnett. Tại Mỹ có “ Neighborhood
Guild” thành lập năm 1886 và đặc biệt là “Hull House” của Jane Adams ở Chicago
năm 1889.Để hiệu quả những người tham gia phong trào Nhà Định cư dọn vào
những khu ổ chuột, sống trong hoàn cảnh của người nghèo và làm việc cùng với họ
để thay đổi toàn bộ các khu xóm và cải thiện chất lượng cuộc sống của dân cư.
Phong trào cải thiện thành công nhiều xóm nghèo, xây dựng nhà trẻ, trường mẫu
giáo, phòng đọc sách, lớp dạy thi quốc tịch, văn phòng tìm việc làm…Về sau phong
trào Nhà Định cư tham gia vào những hoạt động lớn hơn như tranh đấu cho chế độ
2
làm việc tám giờ /ngày, sáu giờ /tuần; cấm lao động trẻ em; thiết lập tòa thiếu nhi
đầu tiên trên thế giới ở Hạt Cook, Chicago. Giai đoạn đầu này các hoạt động nhóm
chỉ dừng lại ở những hình thức hỗ trợ,giúp đỡ mang nhiều sắc thái của tôn giáo, từ
thiện. [22, tr.7]
Đến những năm 30 của thế kỷ XX, lần đầu tiên CTXH nhóm được dành một
phần nội dung đề trình bày và thảo luận tại Hội nghị quốc gia của Mỹ về CTXH
nhóm năm 1935. Đến nay 1936, Hiệp hội quốc gia về nghiên cứu CTXH nhóm của
Mỹ được thành lậpvới đại diện của 100 thành viên đến từ tất cả các khu vực của
Mỹ. Sự kiện này đánh dấu sự phát triển tiếp theo về mặt tổ chức của những nhà thực
hành phương pháp CTXH nhóm. Sau đó, trong những năm của thập ký 40, Hiệp hội
các trường đào tạo CTXH ở Mỹ đã khuyến khích và ủng hộ cho việc đưa nội dung
phương pháp CTXH nhóm vào chương trình đào tạo đại học và sau đại học.
Những dự án của UNICEF tại Philippines vào năm 1961 đã thúc đẩy nhanh
Tại Mỹ Latinh, năm 1996 một hội thảo về KNS được tổ chức tại Costa
Ricanhằm đẩy mạnh giáo dục sức khỏe thông qua giáo dục kỹ năng sống trong các
trường học và coi đó như những ưu tiên của mạng lưới y tế tại Mỹ Latinh.
Như vậy, trên thế giới cũng như ở Việt Nam đã có nhiều hoạt động nghiên cứu
và thực hành nhằm giáo dục, phát triển kỹ năng sống cho trẻ em nói chung và một
số nhóm xã hội có hoàn cảnh khó khăn nói riêng song chưa đi sâu phân tích, vận
dụng tiến trình CTXH nhóm trong việc giải quyết vấn đề cho nhóm thân chủ mà
hầu như chỉ đưa ra những khái niệm, phương pháp phát triển kỹ năng sống . Tuy
vậy, giá trị tham khảo ở các nghiên cứu này rất hữu ích và thiết thực vì đây là sự bổ
sung cho những khía cạnh còn thiếu của đề tài nghiên cứu này.
2.2. Tình hình nghiên cứu trong nước.
Vịêc đào tạo CTXH nhóm đã được thực hiện từ những năm đầu thập kỷ 90
của thế kỷ XX. Đầu tiên là trường Đại học Mở bán công Thành phố Hồ Chí Minh
và Trường Cao đẳng Lao động – Xã hội, và đến năm 2004 học phần đã được chính
thức đưa vào Chương trình khung của Bộ giáo dục và Đào tạo áp dụng cho tất cả
các trường trong cả nước được phép đào tạo ngành CTXH. Đến nay sự hình thành
và phát triển CTXH nhóm đang dần phát triển theo xu thế chung và đã xuất hiện
nhiều sách giáo khoa về vấn đề này. Chẳng hạn công trình “ Công tác xã hội nhóm”
( 2002)của tác giả Nguyễn Thị Oanh , công trình “ Công tác xã hội nhóm” ( 2006)
của tác giả Nguyễn Ngọc Lâm, công trình “ Giáo trình công tác xã hội nhóm”(2008)
của tác giả Nguyễn Thị Thái Lan.
Vê các công trình nghiên cứu ở Việt Nam những năm gần đây đã có một số
bài viết, dự án, nghiên cứu khoa học về quyền trẻ em, trẻ em mồ côi, TECHCĐB.
Về thuật ngữ Kỹ năng sống được người Việt Nam biết đến bắt đầu từ chương
trình của UNICEF ( 1996) “ GD KNS để bảo vệ sức khỏe và phòng chống
HIV/AIDS cho thanh thiếu niên trong và ngoài nhà trường” do các chuyên gia
Australia tập huấn. Quan niệm KNS được giới thiệu trong chương trình này chỉ bao
gồm những KNS cốt lõi như: KN tự nhận thức, KN giao tiếp, KN xác định giá trị,
KN ra quyết định, KN kiên định, KN đặt mục tiêu…Qua hơn 10 năm có mặt tại
giao tiếp, khả năng tự giải quyết công việc của mình, tự làm lấy việc của mình ở trẻ
cũng là vấn đề đáng quan tâm, phần lớn trẻ phụ thuộc bố mẹ, người nuôi dưỡng,
thậm chí vào lớp 1 rồi vẫn bắt bố mẹ, người thân bón cơm, không ít trẻ em trong độ
tuổi học sinh trung học cơ sở chưa tự thực hiện được một số hành động vệ sinh cá
nhân. Những kỹ năng sống cơ bản, hàng ngày nhất ở nhiều trẻ em còn chưa có chứ
chưa nóigì đến kỹ năng chia sẻ và trình bày trước đám đông. Đặc biệt đối với
TEMC kỹ năng sống về sự tự tin và giao tiếp, hòa nhập cộng đồng còn hạn chế do
5
mặc cảm về sự tự ti, nguyên nhân phần lớn do xuất phát từ hoàn cảnh của bản thân.
Có thể nói những yếu tố dẫn đến tình trạng thiếu kỹ năng sống ở trẻ em phần lớn là
do được quá nuông chiều và bố mẹ không để con tự lập, luôn xem con còn bé và
bao bọc, ngại việc con bị va chạm, ngại cho con tiếp xúc người lạ, môi trường sống
khép kín chỉ trong gia đình bởi vậy các em thường tìm niềm vui nơi điện tử, ít được
tham gia hoạt động tập thể.
Nhìn chung ở Việt Nam tuy đã có các hoạt động nghiên cứu và thực hành
CTXH nhóm dưới nhiều hình thức khác nhau, song vẫn còn thiếu những nghiên cứu
can thiệp vừa mang ý nghĩa thực tiễn ( trợ giúp thân chủ) vừa mang ý nghĩa lý luận
( bổ sung, làm rõ lý thuyết, phương pháp và kỹ năng can thiệp trong thực tiễn).
Tuy giáo dục và phát triển kỹ năng sống xuất hiện ở nước ta cách đây hơn 10
năm nhưng cho đến nay, việc đưa KNS đến các thế hệ đặc biệt là lứa tuổi thanh
thiếu niên mới được thực hiện còn sơ sài, chưa có sự quản lý về nội dung cũng như
nhất quán trong mục tiêu và chương trình đào tạo giáo dục và phát triển kỹ năng
sống đặc biệt là đối với đối tượng là trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt được nuôi dưỡng
tại các Trung tâm BTXH, các ngôi nhà tình thương.
3. Mục đích vànhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
- Mô tả nhóm thân chủ ( đặc điểm tâm sinh lý và vấn đề mà nhóm thân chủ
o
Không gian: Trung tâm BTXH III Tây Mỗ, Từ Liêm, Hà Nội
Qua đó vận dụng phương pháp CTXH nhóm lên nhóm đối tượng trẻ em mồ côi
nhằmphát triển kỹ năng sống cho trẻ tại Trung tâm Bảo trợ xã hội III, Tây Mỗ, Từ
Liêm, Hà Nội.
- Phạm vi nghiên cứu về không gian: Đề tài được thực hiện nghiên cứu tại
Trung tâm Bảo trợ xã hội III, Tây Mỗ, Từ Liêm, Hà Nội
- Phạm vi nghiên cứu về thời gian: tiến hành nghiên cứu từ 11/2017 – 02/2018
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận nghiên cứu
Nghiên cứu trên cơ sở phương pháp phân tích-tổng hợp, so sánh đánh giá, xem
xét thực trạng và nhu cầu phát triển kỹ năng sống của trẻ em mồ côi tại Trung tâm
Bảo trợ xã hội III, Tây Mỗ, Từ Liêm, Hà Nội
Nghiên cứu vấn đề lý luận trong hệ thống: Nghiên cứu hệ thống các lý thuyết
trong nghiên cứu xã hội họcvà CTXH như: Lý thuyết hệ thống sinh thái, lý thuyết
học tập xã hội để tìm hiểu ,đánh giá nhu cầu phát triển kỹ năng sống của trẻ em mồ
côi tại Trung tâm Bảo trợ xã hội III.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
5.2.1. Phương pháp phân tích tài liệu
Sử dụng phương pháp này tác giả nhằm thu thập các bài viết, các mẫu báo cáo,
sách, hay các nghiên cứu liên quan đến hoạt động hỗ trợ phát triển kỹ năng sống
cho nhóm đối tượng hoặc tài liệu mà Trung tâm BTXH cung cấp về nhóm thân chủ
để đáp ứng cho mục tiêu nghiên cứu của đề tài một cách tốt nhất.
7
5.2.2. Phương pháp phỏng vấn sâu
Phương pháp quan sát là một phương pháp cụ thể cho việc thu thập các thông
tin cá biệt về đối tượng nghiên cứu, được sử dụng rộng rãi trong các ngành khoa học.
Trong nghiên cứu này, phương pháp quan sát là phương pháp thu thập thông tin quan
trọng được sử dụng trong suốt quá trình nghiên cứu, được chia thành những giai đoạn
chính sau đây:
(i) Giai đoạn khảo sát trung tâm BTXH III, Tây Mỗ, Từ Liêm, Hà Nội: Trong
giai đoạn này NVCTXH tập trung quan sát những hoạt động hàng ngày của trẻ, các
hành vi ứng xử, thái độ của nhóm trẻ với nhau và với các cán bộ trung tâm, đặc biệt
là quan sát các hoạt động, các biểu hiện, thái độ, hành vi ứng xử của trẻ khi tham
gia các hoạt động nhóm. Những quan sát này nhằm mô tả chi tiết về nhóm thân chủ
(hành vi, thái độ, đặc điểm của từng cá nhân và đặc điểm nhóm) từ đó làm cơ sở dữ
liệu để NVCTXH lập kế hoạch hoạt động cụ thể và phù hợp với đặc điểm tâm sinh
8
lý của nhóm.Quan sát cơ sở vật chất của trung tâm, thái độ, hành vi chăm sóc của
cán bộ trung tâm với trẻ và cách thức, phương pháp quản lý, giáo dục trẻ của cán bộ
trung tâm.
(ii) Giai đoạn tiến hành các hoạt động can thiệp với nhóm thân chủ.
NVCTXH tập trung quan sát tỉ mỉ những hoạt động của nhóm thân chủ: sự tham gia
của thành viên nhóm vào các hoạt động nhóm, sự mâu thuẫn, xung đột cũng như
hợp tác trong nhóm, những biểu hiện và thay đổi về cảm xúc và hành vi khi tham
gia các hoạt động nhóm…NVCTXH dựa trên những quan sát đó sẽ điều chỉnh, bổ
sung kế hoạch hoạt động sau từng buổi can thiệp nhằm đạt được mục tiêu của tiến
trình hoạt động.
Bảng 1: Đề cương quan sát
STT
1
Sự thay đổi về hành vi và thái độ của các thành viên nhóm
Cơ sở vật chất Cơ sở vật chất: phòng ăn, nghỉ, bếp, phòng điều hành
trung tâm, các Phân công công việc giữa các cán bộ trung tâm, sự hỗ trợ,
thức quản lý đối giúp đỡ lẫn nhau, trao đổi, truyền đạt kinh nghiệm của cán
tượng
bộ trung tâm với nhau trong việc chăm sóc, giáo dục và
quản lý đối tượng
9
5.2.4.Phương pháp thảo luận nhóm tập trung
Phương pháp thảo luận nhóm tập trung là tập hợp một nhóm nhỏ các cá nhân
để tiến hành một cuộc thảo luận tập trung vào một vấn đề đã được lựa
chọn.[17,tr.287]. Trong đề tài này, thảo luận nhóm tập trung là một phương pháp
thu thập thông tin quan trọng, không chỉ cung cấp những thông tin cần thiết cho các
hoạt động của tiến trình CTXH nhóm mà còn góp phần tạo dựng mối quan hệ tốt
đẹp mang tính chất nghề nghiệp giữa NVCTXH và nhóm thân chủ. Nghiên cứu tiến
hành thảo luận nhóm có sự tham gia của 14 thành viên nhóm theo các nội dung
chính sau đây:
o Cuộc sống của các em hiện nay: các mối quan hệ với bạn bè và cán bộ cơ
sở, sự liên hệ với gia đình, hoạt động học tập và hòa nhập xã hội…
o Những niềm vui, kỷ niệm đẹp và đáng nhớ của các em từ khi vào trung tâm
đến nay.
o Những khó khăn mà các em gặp phải trong quá trình sinh hoạt, học tập và
lao động tại trung tâm.
o Đánh giá nhu cầu, nguyện vọng tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí và
học tập của các em.
Trong hoạt động thảo luận nhóm tập trung, NVCTXH giới thiệu và giải thích
về nội dung và mục tiêu các hoạt động CTXH nhóm dự định được tổ chức trong
tạo) vào thực hành CTXH với nhóm trẻ em mồ côi để từ đó phát triển kỹ năng sống
cho các em cụ thể đó là kỹ năng giao tiếp cơ bản, kỹ năng chia sẻ, thuyết trình, kỹ năng
làmviệc nhóm
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Nghiên cứu và thực hành CTXH nhóm nhằm phát triển kỹ năng sống cho
nhóm trẻ em mồ côi tại trung tâm BTXH III, Tây Mỗ, Từ Liêm, Hà Nội. Cụ thể:
Nâng cao sự cố kết nhóm
Nâng cao sự tự tin của các thành viên trong nhóm
Nâng cao một số kỹ năng sống của các thành viên trong nhóm, bao gồm:
o
Kỹ năng chia sẻ
o
Kỹ năng làm việc theo nhóm
o
Kỹ năng làm trình bày
7. Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn
được kết cấu thành 3 chương.
Chương 1: Những vấn đề lý luận về Công tác xã hội nhóm trong việc phát
triển kỹ năng sống cho trẻ em mồ côi tại Trung tâm Bảo trợ xã hội III, Tây Mỗ, Từ
Liêm, Hà Nội
Chương 2:Thực trạng Công tác xã hội nhóm trong việc phát triển kỹ năng sống
cho trẻ em mồ côi tại Trung tâm Bảo trợ xã hội III, Tây Mỗ, Từ Liêm, Hà Nội
Chương 3: Tiến trình Công tác xã hội nhóm với trẻ em mồ côi tại Trung tâm
1.1.1.2. Khái niệm nhóm và nhóm xã hội
Nhóm
Định nghĩa về nhóm có rất nhiều quan điểm dựa trên các cách tiếp cận và lĩnh
vực nghiên cứu khác nhau. Nghiên cứu lựa chọn khái niệm Nhóm theo quan điểm
của Xã hội học: “Nhóm là một hệ thống xã hội mà mối quan hệ ý nghĩa của nó được
xác định qua những quan hệ thành viên trực tiếp và phân tán cũng như qua tính bền
lâu tương đối”.[3,tr.299]
12
Nhóm xã hội
“Nhóm xã hội là một tập hợp những cá nhân được gắn kết với nhau bởi những
mục đích nhất định. Những cá nhân có những hoạt động chung với nhau trên cơ sở
cùng chia sẻ và giúp đỡ lẫn nhau nhằm đạt được những mục đích cho mọi thành
viên”. [5,tr.21]
1.1.1.3. Khái niệm Công tác xã hội nhóm
Ở luận văn này tác giảvận dụng khái niệm Công tác xã hội nhóm được tác giả
Nguyễn Thị Thái Lan trình bày: “Công tác xã hội nhóm trước hết phải được coi là
một phương pháp can thiệp của công tác xã hội. Đây là một tiến trình trợ giúp mà
trong đó các thành viên trong nhóm được tạo cơ hội và môi trường có các hoạt
động tương tác lẫn nhau, chia sẻ những mỗi quan tâm hay những vấn đề chung,
tham gia vào các hoạt động nhóm nhằm đạt được tới mục tiêu chung của nhóm và
hướng dẫn giải quyết những mục đích của cá nhân thành viên giải tỏa những vấn
đề khó khăn. Trong hoạt động công tác xã hội nhóm, một nhóm thân chủ được
thành lập, sinh hoạt thường kỳ dưới sự điều phối của người trưởng nhóm( có thể là
nhân viên xã hội và có thể là thành viên của nhóm) và đặc biệt là sự trợ giúp, điều
phối của nhân viên xã hội ( trong trường hợp trưởng nhóm là thành viên của
nhóm)”[5,tr.34]
1.1.2. Trẻ em mồ côi
nghèo hoặc hộ cận nghèo;
o) Trẻ em di cư, trẻ em lánh nạn, tị nạn chưa xác định được cha mẹ hoặc
không có người chăm sóc.
1.1.2.3. Khái niệm Trẻ em mồ côi
Theo Luật Trẻ em năm 2016thì “Trẻ em mồ côi là trẻ em dưới 16 tuổi mồ côi
cả cha lẫn mẹ hoặc bị bỏ rơi, bị mất nguồn nuôi dưỡng và không còn người thân
thích ruột thịt ( ông, bà nội ngoại; bố mẹ nuôi hợp pháp, anh chị) để nương
tựa”[11]
1.1.3.4.Công tác xã hội nhóm với trẻ em mồ côi
Công tác xã hội với trẻ em: “ CTXH với trẻ em là CTXH có đối tượng tác động
là trẻ em, nhằm phát hiện và can thiệp để ngăn ngừa các em tránh rơi vàohoàn
cảnh đặc biệt hoặc trợ giúp các em đã rơi vào hoàn cảnh đặcbiệt vượt qua hoàn
cảnh của mình để có thể hòa nhập với gia đình và cộng đồng”.[6, tr.10]
Công tác xã hội nhóm với trẻ em mồ côi: Từ những khái niệm được đưa ra về
Công tác xã hội nhóm và TEMC, cũng như CTXH với trẻ em thì ở nghiên cứu này
tác giả đưa ra khái niệm cụ thể về CTXH nhóm với TEMC như sau: Công tác xã hội
nhóm với trẻ em mồ côi là quá trình nhân viên xã hội sử dụng phương pháp công tác
xã hội nhóm tác động đến nhóm đối tượng là trẻ em mồ côi. Thông qua tiến trình trợ
giúp mà trong đó các thành viên nhóm là trẻ em mồ côi ( có đặc điểm, vấn đề và nhu
14
cầu giống nhau) được tạo cơ hội và môi trường có các hoạt động tương tác lẫn nhau,
chia sẻ những mối quan tâm hay những vấn đề chung, tham gia vào các họat động
nhóm và hướng đến giúp đỡ nhóm và từng cá nhân tăng cường khả năng tự giải quyết
vấn đề nhằm thỏa mãn nhu cầu.
1.1.3. Khái niệm phát triển
Từ trước đến nay, có nhiều định nghĩa, khái niệm khác nhau về phát triển.
Trong luận văn này tôi vận dụng khái niệm “ phát triển” được nêu ra trong tài liệu
“Phát triển xã hội - Một số quan điểm và Kinh nghiệm từ Châu Âu”:“Phát
Kỹ năng tư duy sáng tạo
4.
Kỹ năng tư duy phê phán/suy nghĩ có phán đoán
15
5.
Kỹ năng truyền thông có hiệu quả
6.
Kỹ năng giao tiếp giữa người và người
7.
Kỹ năng tự nhận thức bản thân, sự tự tin
8.
Khả năng thấu cảm, chia sẻ
9.
Kỹ năng ứng phó với cảm xúc
10.
16
nhiệm vụ, ở đó diễn ra các hoạt động chuyên môn nhằm hỗ trợ thân chủ đạt được
mục đích, mục tiêu hoặc các thành viên nhóm nhiệm vụ hoàn thành công việc được
giao. Diễn đạt theo các đơn giản hơn, thì đây là trình tự các bước hoạt động của
CTXH nhóm thực hiện trong quá trình giúp đỡ nhóm thân chủ hoặc hoành thành
nhiệm vụ được giao.
Có nhiều cách phân chia về các giai đoạn của một tiến trình nhóm, trong đề tài
này tác giả phân chia tiến trình CTXH nhóm với nhóm trẻ em mồ côi theo 4 giai
đoạn: Giai đoạn chuẩn bị và thành lập nhóm; Giai đoạn nhóm bắt đầu hoạt động;
Giai đoạn can thiệp/ thực hiện nhiệm vụ và Giai đoạn kết thúc.
1.2.1.1 Giai đoạn chuẩn bị và thành lập nhóm
a) Giai đoạn chuẩn bị thành lập nhóm.
Giai đoạn chuẩn bị và thành lập nhóm là giai đoạn đầu tiên trong tiến trình
CTXH nhóm. Đây là giai đoạn NVCTXH sau khi nhận được một số trường hợp cần
hỗ trợ do yêu cầu của tổ chức hay do các NVCTXH khác giời thiệu/ chuyển giao
đến; hoặc là sau quá trình giúp đỡ cá nhân thân chủ, NVCTXH nhận thấy cần phải
có những hoạt động nhóm CTXH cho thân chủ. Giai đoạn này bao gồm các bước
hoạt động: xác định mục đích hỗ trợ của CTXH nhóm, đánh giá khả năng thành lập
nhóm và sau khi hội tụ đủ điều kiến tiến tới thành lập nhóm.
Xác định mục đích hỗ trợ nhóm.
Nhân viên xã hội cần trả lời cho các câu hỏi: CTXH nhóm có thực sự cần
thiết cho các thân chủ hay không? Những lợi ích đem lại cho thân chủ, cho phát
triển nghề nghiệp là gì?Từ đó xác định mục đích hỗ trợ thân chủ.Đó là việc
NVCTXH xây dựng những đích hướng tới cuối cùng của quá trình trợ giúp và các
mục tiêu cụ thể trong từng hoạt động.Từ đó lựa chọn mô hình nhóm phù hợp.
Đánh giá khả năng thành lập nhóm.
NVCTXH cần đánh giá khả năng về những nguồn lực hỗ trợ thành lập nhóm,
bao gồm: tài chính, cơ sở vật chất, hỗ trợ từ cộng đồng, đoàn thể, chính quyền… Để
Trong nghiên cứu này tác giả lựa chọn cách liên hệ trực tiếp với thân
chủ.Đây cũng là phương pháp lựa chọn hiệu quả nhất.Cách thức này dựa trên những
đánh giá đã được thực hiện và hồ sơ sổ sách lưu lại.Sau đó hẹn gặp trực tiếp thân
chủ và giới thiệu với thân chủ về việc thành lặp nhóm.
Quy mô thành viên nhóm tuỳ thuộc vào những mục tiêu của nhóm và đặc điểm
của các thành viên trong nhóm.Số lượng thành viên phải làm sao đảm bảo được
tương tác trong nhóm và học hỏi từ sự đa dạng của các thành viên khác.
Thoả thuận nhóm.
Đầu tiên là thoả thuận về cách thức làm việc nhóm (quy định, số lần sinh
hoạt, thời gian, địa điểm).Cần nêu rõ vai trò và trách nhiệm của người nhóm trưởng.
18
Thoả thuận về các mục tiêu cá nhân nhằm giúp cá nhân định hướng mục tiêu giải
quyết vấn đề của mình trong định hướng chung của cả nhóm.
Chuẩn bị môi trường.
Chuẩn bị về cơ sở vật chất gồm có: địa điểm sinh hoạt, không gian, cách bài
trí sao cho ấm cúng, an toàn và thoải mái cho các thành viên nhóm. Địa điểm cũng
cần tính toán đến sự thuận lợi cho việc đi lại của các thành viên và một số các yếu
tố khác.
Chuẩn bị các nguồn hỗ trợ tài chính cho các hoạt động đó là nguồn kinh phí nhất
định cho các hoạt động bắt buộc phải có như văn phòng phẩm, liên lạc…
Viết đề xuất nhóm.
Đây là bước cuối cùng của giai đoạn chuẩn bị.Đề xuất nhóm là văn bản để xin
tài trợ hoạt động nhóm, hỗ trợ quá trình hoạt động.Có thể coi đây là công việc bắt
buộc để nhóm được phép hoạt động.Bản kế hoạch cần nêu rõ mục đích, mục tiêu,
đối tượng hưởng lợi, phương pháp thực hiện, những yêu cầu hỗ trợ… và những tiêu
chí khác.
Như vậy quá trình chuẩn bị và lên kế hoạch cần bám sát mục đích của nhóm và
tiêu và nhiệm vụ đã được các thành viên nhóm đặt ra ở giai đoạn trước. Nhiệm vụ
chính của NVCTXH trong giai đoạn này là giúp đỡ các thành viên vượt qua rào cản,
khó khăn; điều phối các hoạt động nhóm để hỗ trợ các thành viên đạt được mục
tiêu, mục đích của nhóm; thúc đẩy các tổ chức, cộng đồng đáp ứng lại những nỗ lực
cố gắng của các thành viên nhóm.
Như đã xác định từ các giai đoạn trước, nhóm trẻ em mồ côi là nhóm can
thiệp vì thế nội dung của giai đoạn này sẽ trình bày theo các bước đặc thù của nhóm
can thiệp.
20