VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
LƯƠNG THỊ SINH
BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI NGOÀI HỢP ĐỒNG
TRONG CÁC VỤ TAI NẠN GIAO THÔNG
ĐƯỜNG BỘ TỪ THỰC TIỄN TỈNH QUẢNG NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI, Năm 2018
VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
LƯƠNG THỊ SINH
BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI NGOÀI HỢP ĐỒNG
TRONG CÁC VỤ TAI NẠN GIAO THÔNG
ĐƯỜNG BỘ TỪ THỰC TIỄN TỈNH QUẢNG NAM
Chuyên ngành: Luật Kinh tế
Mã số: 838.01.07
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
mọi lý luận, thực tiễn dẫn chứng trong luận văn là trung thực và được tìm hiểu
trong tài liệu tham khảo.
Tác giả luận văn
LƯƠNG THỊ SINH
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG
THIỆT HẠI TRONG CÁC VỤ TAI NẠN GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ. 6
1.1. Khái niệm trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong các vụ tai nạn giao
thông đường bộ ................................................................................................. 6
1.2. Nguyên tắc bồi thường thiệt hại trong các vụ tai nạn giao thông đường bộ
......................................................................................................................... 15
1.3. Chủ thể của bồi thường thiệt hại trong các vụ tai nạn giao thông đường bộ
......................................................................................................................... 21
1.4. Các trường hợp miễn trừ trách nhiệm bồi thường ................................... 24
Chương 2. THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT BỒI THƯỜNG
THIỆT HẠI TRONG CÁC VỤ TAI NẠN GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ
......................................................................................................................... 31
2.1. Khái quát tình hình tại nạn giao thông đường bộ trên địa bàn tỉnh Quảng
Nam ................................................................................................................. 31
2.2. Vấn đề bồi thường thiệt hại trong các vụ tai nạn giao thông đường bộ
trong thực tiễn trên địa bàn tỉnh ...................................................................... 33
2.3. Hoà giải khi tại nạn giao thông xảy ra ..................................................... 42
2.4. Thực tiễn áp dụng pháp luật trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong các vụ
tại nạn giao thông đường bộ trên địa bàn tỉnh Quảng Nam ............................ 42
2.5. Xác định thiệt hại trong các vụ tai nạn giao thông đường bộ .................. 47
luật lệ giao thông còn kém. Đồng thời, việc người dân sử đã sử dụng rượu
bia, nồng độ cồn trong máu quá mức cho phép cũng là nguyên nhân gây ra
những vụ tai nạn không đáng có. Tai nạn giao thông và những thiệt hại do tai
nạn gây ra đang là nỗi lo của toàn xã hội. Đó là thiệt hại về sinh mạng, thiệt
hại về nhân lực, trí tuệ, gây tổn thương về tinh thần.
Thực tiễn xét xử các vụ án tai nạn giao thông đường bộ không phải
trường hợp yêu cầu bồi thường thiệt hại nào cũng được giải quyết một cách
thoả đáng, đúng pháp luật; quyền và lợi ích hợp pháp của công dân nhiều
trường hợp chưa được bảo vệ. Bồi thường thiệt hại trong các vụ án tai nạn
giao thông có thể đơn thuần là vụ việc dân sự, cũng có thể là phần dân sự
trong vụ án hình sự. Trên nguyên tắc tôn trọng sự tự thỏa thuận của các
đương sự, nếu các bên tự thỏa thuận được với nhau về mức bồi thường,
phương thức bồi thường thì pháp luật sẽ ghi nhận. Trường hợp các bên
không thỏa thuận được về mức bồi thường, phương thức bồi thường thì có
quyền yêu cầu Tòa án giải quyết. Điều đáng nói là trong các vụ việc có hậu
quả giống nhau (người bị hại chết) không phải vụ việc nào cũng được giải
1
quyết giống nhau về mức bồi thường. Hơn nữa qui định của pháp luật về vấn
đề này chủ yếu dừng lại ở các qui định mang tính "định tính" mà không quy
định dưới dạng quy phạm "định lượng", gây khó khăn rất nhiều cho việc áp
dụng pháp luật.
Xuất phát từ tình hình đó, việc nghiên cứu, tìm hiểu các qui định của
pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng nói chung và
trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong các vụ án tại nạn giao thông đường bộ
nói riêng là một trong những vấn đề có ý nghĩa pháp lý và thực tiễn sâu sắc.
Vì các lý do trên, tác giả lựa chọn đề tài: “Bồi thường thiệt hại ngoài
hợp đồng trong các vụ án tai nạn giao thông đường bộ từ thực tiễn tỉnh Quảng
Nam” làm luận văn tốt nghiệp thạc sĩ.
3.1. Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận văn là làm sáng tỏ những vấn đề lý luận
chung và thực tiễn áp dụng trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong các vụ án
tai nạn giao thông đường bộ, gồm: khái niệm trách nhiệm BTTH ngoài hợp
đồng, khái niệm TNGT đường bộ và trách nhiệm BTTH trong các vụ
TNGTĐB, các nguyên tắc BTTH, lịch sử hình thành và phát triển các quy
định pháp luật BTTH trong các vụ TNGT đường bộ. Từ đó, đưa ra những giải
pháp hoàn thiện pháp luật về vấn đề này, cũng như đưa ra được những kiến
nghị nhằm góp phần vào thực tiễn giải quyết việc BTTH trong các vụ
TNGTĐB.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu trên đây, tác giả đã đưa ra và giải
quyết các nhiệm vụ nghiên cứu sau đây:
- Nghiên cứu sự hình thành và phát triển của chế định BTTH ngoài
hợp đồng nói chung và TNBTTH trong các vụ TNGTĐB trong lịch sử lập
pháp Việt Nam. Từ đó xây dựng khái niệm về TNGT đường bộ, trách nhiệm
BTTH trong vụ TNGTĐB
3
- Tổng kết thực tiễn giải quyết BTTH trong các vụ TNGTĐB trên địa
bàn tỉnh Quảng Nam trong những năm qua gắn với lý luận, căn cứ vào các
quy định của BLDS 2015và các quy định khác của pháp luật làm cơ sở cho
việc giải quyết BTTH trong các vụ TNGTĐB.
- Đề xuất các biện pháp phòng ngừa các vụ TNGTĐB và hướng hoàn
thiện pháp luật việc BTTH trong các vụ TNGTĐB.
4. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Những vấn đề lý luận chung về trách nhiệm
bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ nói chung và trách nhiệm bồi
đồng cũng như trong việc hướng dẫn việc giải quyết BTTH ngoài hợp đồng
nói chung và BTTH trong các vụ TNGTĐB nói riêng. Đặc biệt, những kiến
nghị được đưa ra trong luận văn có giá trị tham khảo cho cơ quan làm công
tác xây dựng pháp luật trong việc xây dựng và hoàn thiện chế định trách
nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng nói chung và các quy định về bồi
thường thiệt hại trong các vụ tai nạn giao thông nói riêng.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ
lục, nội dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong các
vụ tai nạn giao thông đường bộ
Chương 2: Cơ sở pháp lý của trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong
các vụ án tai nạn giao thông
Chương 3: Thực trạng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về bồi thường
thiệt hại trong các vụ án tai nạn giao thông tại tỉnh Quảng Nam
5
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG
THIỆT HẠI TRONG CÁC VỤ TAI NẠN GIAO THÔNG
ĐƯỜNG BỘ
1.1. Khái niệm trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong các vụ tai nạn
giao thông đường bộ
1.1.1. Khái niệm tai nạn giao thông đường bộ
Tai nạn là một hiện tượng thường xảy ra trong đời sống xã hội, gây tổn
thất về tính mạng, sức khỏe, tài sản của con người và xã hội. Một trong những
tai nạn làm mất ổn định trật tự an toàn xã hội, gây ảnh hưởng không nhỏ đến
đời sống, tính mạng con người đòi hỏi các ngành, cơ quan chức năng luôn
điện) và các loại xe tương tự (khoản 18 Điều 3 Luật giao thông đường bộ);
các phương tiện giao thông đường thủy như tàu biển; phương tiện giao thông
đường không như tàu bay, đường sắt như tàu hỏa. Các hệ thống điện lực theo
quy định của Luật điện lực cũng được xem như là nguồn nguy hiểm cao độ
bởi nó chứa đựng khả năng gây thiệt hại cho con người và tài sản. Ngoài ra,
nhà máy công nghiệp đang hoạt động; vũ khí quân dụng, vũ khí thể thao; các
loại thú dữ như hổ, báo, sư tử..; chất nổ, chất cháy, chất phóng xạ đang trong
quá trình vận hành, hoạt động và các nguồn nguy hiểm cao độ khác được quy
định trong các văn bản pháp luật khác [1]. Tuy nhiên, để xác định nguồn
nguy hiểm cao độ cần phải căn cứ vào khoản 1 Điều 601 BLDS 2015 và văn
bản quy phạm pháp luật khác có liên quan hoặc quy định của cơ quan nhà
nước có thẩm quyền về lĩnh vực cụ thể đó.
Theo chúng tôi thì để xác định nguồn nguy hiểm cao độ cần dựa trên đặc
trưng như: Tài sản được coi là nguồn nguy hiểm cao độ tiềm ẩn nhiều nguy
cơ gây thiệt hại cho con người, ngay cả khi đã kiểm soát chúng một cách chặt
chẽ; Nguồn nguy hiểm cao độ luôn phải đặt trong một sự chiếm hữu, quản lý,
sử dụng của chủ thể nào đó, khi ấy mới có thể đặt trách nhiệm cho chủ thể
9
đang chiếm hữu, quản lý, sử dụng.
1.1.2.2. Khái niệm bồi thường trong các vụ tại nạn giao thông đường bộ
Như đã biết, trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng là một chế định có từ rất
sớm của luật dân sự. Trải qua các thời kỳ lịch sử khác nhau và tại các quốc
gia khác nhau, quy định về trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng cũng có sự
khác biệt.
Ở Việt Nam, cổ luật không quy định riêng về trách nhiệm bồi thường
thiệt hại ngoài hợp đồng. Các cổ luật của Việt Nam quy định các hình phạt
của Luật hình sự nhưng các hình phạt này mang tính dân sự. Chẳng hạn, nếu
cá nhân, pháp nhân và các chủ thể khác. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại
ngoài hợp đồng là quy định của pháp luật dân sự, xác định người có hành vi
xâm phạm đến tài sản, sức khỏe, tính mạng, danh dự, nhân phẩm, uy tín, các
quyền và lợi ích hợp pháp khác của các chủ thể khác và gây ra thiệt hại thì
phải bồi thường những thiệt hại do mình gây ra.
Như vậy, có thể hiểu trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng là một loại
trách nhiệm dân sự mà theo đó một người vi phạm nghĩa vụ ngoài hợp đồng
xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của người khác phải bồi thường
những tổn thất mà mình gây ra.
Là một dạng cụ thể của trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng. Trách nhiệm
bồi thường thiệt hại trong các vụ tai nạn giao thông phát sinh khi các vụ tai
nạn giao thông đường bộ xảy ra làm thiệt hại đến tính mạng, sức khỏe, tài sản
của con người, của tổ chức, Nhà nước. Từ đó, có thể đưa ra khái niệm trách
nhiệm bồi thường thiệt hại trong các vụ TNGTĐB: “Trách nhiệm bồi thường
thiệt hại trong các vụ tai nạn giao thông đường bộ là một loại trách nhiệm
dân sự, phát sinh khi một người có hành vi vi phạm các quy định về an toàn
giao thông đường bộ xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe tài sản của cá nhân,
xâm phạm đến tài sản của pháp nhân, của Nhà nước thì phải bồi thường thiệt
hại do mình gây ra”.
11
1.1.3. Đặc điểm, ý nghĩa của trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong
các vụ án tai nạn giao thông đường bộ
1.1.3.1. Đặc điểm của trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong các vụ tai
nạn giao thông đường bộ
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong các vụ án tai nạn giao thông là
một dạng cụ thể của trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng. Do đó,
nó cũng mang những đặc chung của trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài
Sẽ là không hợp lý khi tự bản thân phương tiện giao thông vận tải cơ
giới gây thiệt hại mà lại xem xét đến yếu tố hành vi gây thiệt hại. Bởi vì, thuật
ngữ hành vi gây thiệt hại chỉ đúng khi thiệt hại do con người gây ra. Do vậy,
trong các vụ TNGT đường bộ do bản thân phương tiện giao thông cơ giới
đường bộ gây ra chỉ cần xác định chính xác sự kiện gây thiệt hại là nguyên
nhân trực tiếp làm phát sinh thiệt hại xảy ra có mối quan hệ nhân quả với
nhau thì sẽ làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại của các chủ thể.
Trường hợp TNGT đường bộ do nguồn nguy hiểm cao độ là phương tiện
giao thông cơ giới đường bộ gây ra thì yếu tố lỗi không được coi là một trong
những căn cứ làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại. Bởi vì, theo
quan niệm truyền thống thì lỗi chỉ được xem xét gắn với con người. Vì vậy,
không gắn yếu tố lỗi khi bản thân phương tiện giao thông cơ giới đường bộ
gây thiệt hại. Chủ sở hữu, người được chủ sở hữu giao chiếm hữu, sử dụng
nguồn nguy hiểm cao độ thì phải chịu trách nhiệm bồi thường ngay cả khi
không có lỗi.
Hai là, về đối tượng xâm hại. Nếu như trong BTTH ngoài hợp đồng nói
chung đối tượng xâm hại có thể là tài sản, tính mạng, sức khỏe , danh dự,
nhân phẩm của cá nhân, pháp nhân thì trong các vụ tai nạn giao thông đường
bộ, đối tượng xâm hại chỉ có thể là tính mạng, sức khỏe, tài sản. Do đó, trong
các vụ tai nạn giao thông bộ sẽ không phát sinh trách nhiệm BTTH về danh
dự, nhân phẩm, uy tín. Ngoài ra, đối tượng xâm hại trong các vụ TNGT
13
đường bộ có thể làm phát sinh trách nhiệm BTTH về môi trường và khắc
phục hậu quả gây ra ô nhiễm môi trường như lỗi thải mùi hôi thối vào
không khí…
Ba là, về chủ thể chịu trách nhiệm BTTH. Chủ thể chịu trách nhiệm
BTTH trong các vụ TNGT rất đa dạng và phức tạp. Tùy vào từng hoàn cảnh
vụ tai nạn giao thông còn có ý nghĩa quan trọng góp phần ngăn ngừa hành vi
vi phạm pháp luật giao thông, giáo dục các chủ thể có ý thức tuân thủ pháp
luật nói chung và luật giao thông đường bộ nói riêng. Từ đó, góp phần hạn
chế tai nạn giao thông, giảm thiểu thiệt hại về người và tài sản do TNGT
gây ra.
Trong vụ tai nạn giao thông, việc áp dụng trách nhiệm BTTH còn có ý
nghĩa quan trọng nhằm nâng cao ý thức trách nhiệm của chủ sở hữu, người có
trách nhiệm quản lý, bảo quản phương tiện giao thông đường bộ, không để
phương tiện giao thông đường bộ cơ giới đường bộ gây thiệt hại cho những
người xung quanh. Để thực hiện nghĩa vụ đó, họ phải tuân thủ đầy đủ các quy
định về bảo quản, sử dụng phương tiện giao thông, kịp thời phát hiện ra những
nguy cơ có khả năng gây ra TNGT có thể sửa chữa, khắc phục kịp thời.
1.2. Nguyên tắc bồi thường thiệt hại trong các vụ tai nạn giao thông
đường bộ
Để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị xâm phạm đòi hỏi
những người tiến hành tố tụng, cũng như người tham gia tố tụng phải tuân thủ
những nguyển tắc nhất định. Nguyên tắc đó là những chuẩn mực, những yêu
cầu được Nhà nước quy định một cách cụ thể trong các văn bản pháp luật.
Tuy nhiên, việc giải quyết bồi thường thiệt hại nói chung là một vấn đề phức
tạp. Việc giải quyết đúng đắn các yêu cầu bồi thường thiệt hại nhằm đảm bảo
quyền và lợi ích hợp pháp cho bên bị thiệt hại, đảm bảo tính công bằng xã hội
là một yêu cầu cấp thiết. Và việc bồi thường thiệt hại trong các vụ án tai nạn
15
giao thông phải tuân thủ nguyên tắc bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng được
quy định tại Điều 585 BLDS 2015.
BLDS năm 2015 chỉ ra 5 nguyên tắc bồi thường thiệt hại ngoài hợp
đồng, ngoài 3 nguyên tắc bồi thường như Điều 605 BLDS năm 2005 thì
cầu cấp bách của đương sự.
1.2.2. Căn cứ vào hình thức lỗi và mức độ lỗi
Lỗi là một trong bốn điều kiện làm phát sinh trách nhiệm bồi thường
thiệt hại ngoài hợp đồng. Việc đánh giá hình thức, mức độ lỗi trong trách
nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng trong trách nhiệm dân sự nói
chung, trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng nói riêng là cần thiết.
Lỗi thể hiện thái độ tiêu cực của chủ thể đối với xã hội trong hành vi trái
pháp luật của mình và hậu quả của hành vi đó. Chủ thể bị coi là có hành vi
tiêu cực đối với xã hội khi họ có ý thức phủ định lợi ích xã hội, đi ngược với
lợi ích xã hội. Dựa vào thái độ của chủ thể đối với hành vi và hậu quả của nó,
lỗi được chia làm hai loại là lỗi cố ý và lỗi vô ý (Điều 364 BLDS 2015 và Nghị
quyết 03/2006/NQ-HĐTP ngày 08/7/2006 Hướng dẫn áp dụng một số quy định
của Bộ luật Dân sự năm 2005 về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng)
a) Cố ý gây thiệt hại là trường hợp một người nhận thức rõ hành vi của
mình sẽ gây thiệt hại cho người khác mà vẫn thực hiện và mong muốn hoặc
không mong muốn, nhưng để mặc cho thiệt hại xảy ra.
b) Vô ý gây thiệt hại là trường hợp một người không thấy trước hành vi
của mình có khả năng gây thiệt hại, mặc dù phải biết hoặc có thể biết trước
thiệt hại sẽ xảy ra hoặc thấy trước hành vi của mình có khả năng gây thiệt hại,
nhưng cho rằng thiệt hại sẽ không xảy ra hoặc có thể ngăn chặn được.
Chính vì vậy, việc xác định lỗi của các bên có ý nghĩa là cơ sở quan
trọng để ấn định mức bồi thường và xác định việc người gây thiệt hại phải bồi
thường hay không. Tuy nhiên, hình thức lỗi không mang ý nghĩa quyết định
trong việc xác định bồi thường thiệt hại và trong một số trường hợp cụ thể
17
pháp luật quy định “ chủ sở hữu, người chiếm hữu , sử dụng nguồn nguy hiểm
cao độ phải bồi thường thiệt hại cả khi không có lỗi – khoản 3 Điều 601
Khoản 3 Điều 585 quy định “Khi mức bồi thường không còn phù hợp với
thực tế thì bên bị thiệt hại hoặc bên gây thiệt hại có quyền yêu cầu Tòa án
hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác thay đổi mức bồi thường”
Mức bồi thường thiệt hại không còn phù hợp với thực tế, có nghĩa là do
có sự thay đổi về tình hình kinh tế, xã hội, sự biến động về giá cả mà mức bồi
thường đang được thực hiện không còn phù hợp trong điều kiện đó hoặc do
có sự thay đổi về tình trạng thương tật, khả năng lao động của người bị thiệt
hại cho nên mức bồi thường thiệt hại không còn phù hợp với sự thay đổi đó
hoặc do có sự thay đổi về khả năng kinh tế của người gây thiệt hại. Ví dụ: Tại
thời điểm hai bên thỏa thuận tài sản bồi thường là 35 chỉ vàng 24K, nhưng
thời gian sau đó, giá vàng trong nước đột biến tăng mạnh, từ đó, so với thời
điểm thỏa thuận, làm cho người vi phạm khó có thể thực hiện nghĩa vụ bồi
thường. Như vậy bên gây thiệt hại có quyền yêu cầu Tòa án hoặc cơ quan nhà
nước có thẩm quyền thay đổi mức bồi thường cho phù hợp với thực tế.
Theo đó cả hai bên gây thiệt hại và bên bị thiệt hại có quyền yêu cầu
thay đổi mức bồi thường cho phù hợp với thực tế nhằm đảm bảo sự công
bằng, hợp lý trong quá trình thực hiện nghĩa vụ. Cần chú ý là nguyên tắc thay
đổi mức bồi thường thiệt hại chỉ thực hiện trong trường hợp bồi thường theo
định kỳ, không áp dụng trong trường hợp bồi thường toàn bộ một lần. Bởi
việc thực hiện bồi thường một lần đã thực hiện xong, nghĩa vụ bồi thường
phát sinh đã chấm dứt nên không phát sinh và không đặt ra việc yêu cầu thay
đổi mức bồi thường đối với các trường hợp bồi thường toàn bộ một lần.
Trên nguyên tắc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, việc
giảm mức bồi thường thiệt hại cho người gây thiệt hại nếu họ không có lỗi
hoặc có lỗi vô ý và thiệt hại quá lớn so với khả năng kinh tế. Có nghĩa là thiệt
hại xảy ra mà họ có trách nhiệm bồi thường so với hoàn cảnh kinh tế trước
19