BỘ NỘI VỤ
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
PHẠM QUANG HƯNG
Xử phạt hành chính
trong lĩnh vực giao thông đường bộ
từ thực tiễn tỉnh Đắk Lắk
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HIẾN PHÁP VÀ LUẬT HÀNH CHÍNH
ĐẮK LẮK – NĂM 2016
1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NỘI VỤ
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
PHẠM QUANG HƯNG
Xử phạt hành chính
trong lĩnh vực giao thông đường bộ
từ thực tiễn tỉnh Đắk Lắk
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HIẾN PHÁP VÀ LUẬT HÀNH CHÍNH
Danh mục các chữ viết tắt.
Danh mục các bảng.
PHẦN MỞ ĐẦU.....................................................................................
1
1. Tính cấp thiết của đề tài……………………………………………..
1
2. Tình hình nghiên cứu………………………………………………..
4
3. Mục đích, nhiệm vụ của đề tài………………………………………
7
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu…………………………………..
8
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu…………………….
8
6. Ý nghĩa của luận văn………………………………………………..
9
LẮK THỜI GIAN QUA
........................................................
54
2.1. Tổng quan về tỉnh Đắk Lắk……………………………….............
54
2.2. Tình hình trật tự an toàn giao thông đường bộ trên địa bàn tỉnh
Đắk Lắk trong thời gian qua…...............................................................
57
2.3. Tình hình xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông
đường bộ trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk giai đoạn từ 2011 đến tháng
6/2016………………………................................................................
2.4. Nguyên nhân của các hạn chế, vướng mắc....................................
63
76
Chương 3. GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH
CHÍNH TRONG LĨNH VỰC GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ TỪ
THỰC TIỄN TỈNH ĐẮK LẮK …………………………….….........
79
GTĐB
Giao thông đường bộ
TTATGT
Trật tự an toàn giao thông
TTKS-XLVP
Tuần tra kiểm soát – xử lý vi phạm
6
DANH MỤC CÁC BẢNG
Số hiệu
bảng
Tên bảng
Bảng
2.1
Số vụ vi phạm hành chính giao thông đường bộ đã được xử
lý trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk (từ năm 2011đến tháng 6/2016)
Bảng
2.2
59
65
65
Tổng hợp số vụ phương tiện cơ giới không đảm bảo an toàn
kỹ thuật khi tham gia giao thông trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk
(từ năm 2011 đến tháng 6/2016)
Tổng hợp số vụ người điều khiển phương tiện cơ giới không
giấy phép khi tham gia giao thông trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk
(từ năm 2011 đến tháng 6/2016)
Tổng hợp số vụ vi phạm quy định vận tải đường bộ bị xử lý
trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk (từ năm 2011 đến tháng 6/2016)
7
67-68
69
70
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Thực tiễn cho chúng ta thây, trong nền kinh tế - xã hội của mỗi quốc
gia thì giao thông đường bộ được coi là một lĩnh vực quan trọng, là một bộ
phận trong kết cấu hạ tầng quốc gia; cùng với đường sắt, đường thủy, đường
phạt vi phạm hành chính và pháp luật về giao thông đường bộ. Trong những
năm qua, hai hệ thống quy phạm này đã ngày càng được hoàn thiện, tiêu biểu
là sự ra đời của Luật xử phạt vi phạm hành chính năm 2012 (tiền thân là Pháp
lệnh xử phạt vi phạm hành chính năm 2002, sửa đổi bổ sung năm các năm
2007, 2008), Luật Giao thông đường bộ năm 2008 (thay thế Luật giao
thông đường bộ ngày 29 tháng 6 năm 2001), cùng với chúng là sự ra đời các
văn bản hướng dẫn thi hành của khối các cơ quan hành chính nhà nước có
thẩm quyền. Điều này đã tạo nên những chuyển biến tích cực trong đời sống
xã hội: Tổ chức giao thông đã có những chuyển biến rõ rệt; ý thức chấp hành
luật giao thông đường bộ được nâng lên, trật tự lòng đường, vỉa hè thông
thoáng hơn, hạn chế ùn tắc giao thông; công tác quản lý của Nhà nước về trật
tự an toàn giao thông đường bộ được tăng cường, trang bị các phương tiện kỹ
thuật thuận lợi cho sự chỉ huy thống nhất và nhanh chóng ở các đô thị. Công
tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật đã được quan tâm, đa dạng hóa với nhiều
hình thức, nội dung phong phú, thiết thực. Công tác tuần tra kiểm soát, xử
phạt vi phạm có tác dụng răn đe, phòng ngừa tội phạm.
Tuy nhiên, trong những năm qua, tình hình vi phạm hành chính về
TTATGT đường bộ ở nước ta diễn biến rất phức tạp, vi phạm hành chính
về TTATGT đường bộ còn mang tính phổ biến. Chỉ tính trong thời gian từ
2008 đến 2013, lực lượng CSGT phát hiện hơn 33 triệu trường hợp vi phạm
TTATGT, xử phạt trên 9.676 tỉ đồng. Trung bình mỗi năm, lực lượng CSGT
phát hiện và xử phạt trên 6 triệu trường hợp vi phạm, với tổng số tiền xử phạt
vi phạm hành chính trên 1.600 tỉ đồng, số vụ vi phạm và số tiền phạt năm sau
9
cao hơn năm trước. Chỉ tính riêng trong 6 tháng đầu năm 2014, lực
lượng CSGT toàn quốc đã kiểm tra, lập biên bản 2.584.905 trường hợp vi
phạm TTATGT đường bộ; phạt tiền 1.470 tỷ đồng (so với cùng kỳ năm trước
số xử lý vi phạm giảm 314.188 trường hợp (-10,8%), tiền phạt tăng 57,2 tỷ
Nguyên nói chung.
Trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk hiện nay, tình hình vi phạm hành chính trong
lĩnh vực giao thông đường bộ còn diễn biến phức tạp và liên tục có xu hướng
tăng lên. Có nhiều nguyên nhân được đề cập, trong đó có ý kiến cho rằng do
cơ sở hạ tầng giao thông chưa đáp ứng được yêu cầu, nhiều nơi còn xuống
cấp nghiêm trọng trong khi lượng phương tiện giao thông đặc biệt là phương
tiện giao thông cá nhân (chủ yếu là ô tô và xe máy) không ngừng tăng lên; hệ
thống pháp luật giao thông đường bộ và xử phạt vi phạm hành chính trong
lĩnh vực giao thông đường bộ còn nhiều hạn chế, chưa nghiêm khắc và mang
tính răn đe, giáo dục cao; năng lực và đạo đức nghề nghiệp của một bộ phận
đội ngũ cảnh sát giao thông chưa cao; ý thức tham gia giao thông của người
dân còn kém… Hiện thực này đã thôi thúc tôi mong muốn tìm hiểu một cách
khoa học và có hệ thống về vấn đề xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực
giao thông đường bộ ở tỉnh Đắk Lắk. Đây là một vấn đề chưa từng được
nghiên cứu đối với trường hợp Đắk Lắk.
Vì tất cả những lý do trên, tác giả quyết định chọn đề tài: “Xử phạt hành
chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ - từ thực tiễn tỉnh Đắk Lắk” làm đề
tài luận văn tốt nghiệp hệ cao học chuyên ngành Luật Hiến pháp - Hành chính
của mình.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn
Vấn đề xử phạt hành chính nói chung, trong lĩnh vực giao thông đường
bộ nói riêng luôn nhận được sự quan tâm của Đảng, Nhà nước và giới nghiên
cứu khoa học. Một số công trình khoa học tiêu biểu có thể kể đến là:
- Viện Khoa học pháp lý – Bộ Tư pháp (1980), Xử phạt vi phạm hành
chính, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ (mã số 85 98 008), Hà Nội;
11
Đề tài lần đầu tiên đề cập đến một cách toàn diện về việc xây dựng một
hệ thống khoa học của việc xử phạt vi phạm hành chính. Từ đó, đề tài làm nền
cập hoàn thiện hơn về nội dung này.
- TS. Trần Minh Hương (2006), Biện pháp xử phạt hành chính khác,
Tạp chí Quản lý Nhà nước. Tác giả đã đưa ra được ngoài biện pháp xử phạt
hành chính cơ bản là: phạt tiền, cảnh cáo và trục xuất thì còn có các biện pháp
xử phạt hành chính khác là: Giáo dục tại xã, phường, thị trấn; Đưa vào trường
giáo dưỡng; Đưa vào cơ sở giáo dục; Đưa vào cơ sở chữa bệnh. Song điều
đáng nói đến của nội dung bài viết là TS.Trần Minh Hương đã đưa ra những ưu
điển và nhược điểm của những biện pháp này và thực tế khi áp dụng quy định
này ở một số địa phương trong cả nước.
Ở cấp độ thấp hơn, các đề tài luận văn liên quan đến đề tài, có thể kể đến:
- Nguyễn Văn Đô (2007), Xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực
trật tự, an toàn giao thông đường bộ ở Việt Nam hiện nay, Luận văn thạc sỹ
quản lý hành chính công, Học viện Hành chính quốc gia, Hà Nội;
Luận văn của tác giả Nguyễn Văn Đô đề cập đến vấn đề xử phạt vi
phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ trên phạm vi toàn quốc
khá toàn diện với lý luận sâu và đặc biệt là bảng số liệu phong phú về nhiều
nội dung đã khái quát được khá rõ về hoạt động về đề tài nghiên cứu. Nhưng,
nhìn chung thì Luận văn của tác giả lại khá giống với một bản báo cáo của
ngành Công an về hoạt động xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực
GTĐB trên phạm vi toàn quốc vì tác giả không có sự đánh giá trên phương
diện của người nghiên cứu vấn đề về những tồn tại của hoạt động trên.
- Phạm Trung Hòa (2008), xử phạt vi phạm hành chính về trật tự an toàn
giao thông đường bộ của cảnh sát giao thông ở Việt Nam, Luận văn Hành chính
công, Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội;
Mặc dù chỉ có độ dài 88 trang song Luận văn của tác giả Phạm Trung
Hòa đã đề cập toàn diện về vấn đề xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực
GTĐB của Cảnh sát giao thông ở Việt Nam. Là luận văn mang tính chuyên
13
Để hoàn thành được mục đích đặt ra, luận văn tập trung giải quyết các
nhiệm vụ nghiên cứu sau đây:
Một là, hệ thống hóa những vấn đề lý luận và pháp lý về vi phạm hành
chính và xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực trật tự, giao thông đường bộ;
Hai là, phân tích, đánh giá thực trạng tình hình vi phạm hành chính và
hoạt động xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ
trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk trong thời gian qua. Từ đó, rút ra được những ưu
điểm và hạn chế của công tác này.
Ba là, trên cơ sở quán triệt các quan điểm có tính chất chỉ đạo, đề xuất
một số giải pháp góp phần làm nâng cao hiệu lực, hiệu quả của công tác xử
phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ ở Đắk Lắk trong
thời gian tới.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
- Quy phạm pháp luật hiện hành về xử phạt vi phạm hành chính trong
lĩnh vực giao thông đường bộ; công tác thực hiện pháp luật về xử phạt vi
phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ ở tỉnh Đắk Lắk của cơ
quan có thẩm quyền.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Về thời gian: Từ năm 2011 đến tháng 6/2016.
- Về không gian: Tỉnh Đắk Lắk.
- Về đối tượng: Chủ yếu khảo sát công tác xử phạt hành chính của lực
lượng cảnh sát giao thông Công an tỉnh Đắk Lắk.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận
Luận văn được nghiên cứu dựa trên nền tảng phương pháp luận duy vật
biện chứng của chủ nghĩa Mác – Lê nin.
15
Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ
VỀ XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC
GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ
1.1. Vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ
1.1.1. Khái niệm vi phạm hành chính
Như chúng ta đã biết, Nhà nước là một tổ chức được xã hội thành lập
nên để thực hiện việc quản lý, phát triển xã hội. Để có thể thực hiện được vai
trò đó, Nhà nước luôn phải tác động lên các quan hệ xã hội bằng một hệ thống
các quy tắc quản lý nhà nước được quy định trong các văn bản quy phạm
pháp luật. Trên thực tế, trong đời sống xã hội luôn xảy ra tình trạng vi phạm
các quy tắc quản lý nhà nước. Các vi phạm đó diễn ra hàng ngày trong đời
sống xã hội, từ những hành vi đơn giản và phổ biến như hút thuốc lá nơi công
cộng, đến những hành vi vi phạm có tính chất nguy hiểm hơn như tham gia
giao thông đường bộ không đội mũ bảo hiểm, đi ngược chiều, lạng lách đánh
võng, gây tai nạn,…hoặc hành vi làm ô nhiễm môi trường, xây dựng trái
phép, trốn thuế… Những hành vi vi phạm rất đa dạng và “có mặt” trong tất cả
các lĩnh vực quản lý nhà nước.
Dưới góc độ lý luận về pháp luật, vi phạm pháp luật được cấu thành bởi
các mặt khách quan, chủ quan, khách thể và chủ thể của nó. Tổng hợp các yếu
tố đó ta có thể hiểu vi phạm pháp luật là hành vi nguy hiểm cho xã hội do chủ
thể có năng lực trách nhiệm pháp lý thực hiện một các cố ý hoặc vô ý xâm hại
đến các quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ.
Dựa theo các tiêu chí khác nhau mà vi phạm pháp luật được phân thành
nhiều loại khác nhau. Căn cứ vào khách thể vi phạm, mức độ, tính chất nguy
hiểm cho xã hội của hành vi vi phạm, vi phạm pháp luật được chia thành các
loại sau:
17
Mặt khách quan của vi phạm hành chính
Mặt khách quan của vi phạm hành chính là những biểu hiện ra bên
ngoài thế giới khách quan của vi phạm hành chính, thông thường các biểu
hiện ra bên ngoài của hành vi vi phạm là hành vi, thời gian, địa điểm, công cụ,
phương tiện hay mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm hành chính và
hậu quả của vi phạm hành chính.
Hành vi của vi phạm hành chính là những biểu hiện của con người hoặc
tổ chức tác động vào thế giới khách quan qua hình thức bên ngoài cụ thể gây
tác hại đến sự phát triển bình thường của trật tự quản lý. Những biểu hiện này
được kiểm soát và điều khiển bởi ý thức và ý chí của chủ thể vi phạm hành
chính. Hành vi là biểu hiện rõ nhất trong mặt khách quan của vi phạm hành
chính, chúng có ý nghĩa quyết định đến nội dung biểu hiện khác trong mặt
khách quan (hậu quả, công cụ phương tiện, thời gian, địa điểm); đồng thời
hành vi cũng là thể thống nhất giữa mặt khách quan và chủ quan. Hành vi
khách quan của vi phạm hành chính có thể là hành vi hành động hoặc không
hành động. Song dù biểu hiện bằng hình thức nào đi chăng nữa thì nó cũng
chỉ bị coi là vi phạm hành chính khi hành vi đó trái với pháp luật. Hành vi trái
pháp luật hành chính là dấu hiệu pháp lý cơ bản của vi phạm hành chính,
nhưng đây không phải là thuộc tính riêng của vi phạm hành chính. Rất nhiều
hành vi tội phạm cũng là hành vi trái pháp luật hành chính. Để phân biệt vi
phạm hành chính với tội phạm trong trường hợp cả hai loại hành vi có cùng
chung khách thể, người ta lấy tiêu chí là tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi.
Hành vi vi phạm hành chính ít nguy hiểm cho xã hội hơn so với tội phạm hình
sự.
Hậu quả và mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm hành chính
và hậu quả của vi phạm hành chính vi phạm hành chính: Chính là tính xâm hại
khách quan của vi phạm hành chính, được thể hiện ở vi phạm hành chính đã
19
Lỗi trong vi phạm hành chính thể hiện dưới hai hình thức: lỗi cố ý và lỗi vô ý.
Lỗi cố ý trong vi phạm hành chính là chủ thể nhận thức được hành vi của
mình là nguy hiểm cho xã hội nhưng vẫn thực hiện. Lỗi vô ý trong vi phạm
hành chính là lỗi của cá nhân hoặc tổ chức thực hiện hành vi trái pháp luật do
vô tình thiếu thận trọng mà không nhân thức được nghĩa vụ pháp lý bắt buộc
mặc dù họ có đầy đủ khả năng xử sự theo đúng nghĩa vụ pháp lý quy định
Chủ thể của vi phạm hành chính
Khác với luật hình sự xác định chủ thể tội phạm chỉ có thể là cá nhân,
trong luật hành chính chủ thể vi phạm hành chính có thể là cá nhân hoặc tổ
chức; cá nhân hoặc tổ chức chỉ có thể trở thành chủ thể của vi phạm hành
chính khi có năng lực trách nhiệm pháp lý hành chính.
+ Đối với cá nhân: Cá nhân là chủ thể của vi phạm hành chính bao gồm
công dân Việt Nam và người nước ngoài (trừ những người được hưởng quyền
ưu đãi, miễn trừ ngoại giao và lãnh sự) mà thực hiện hành vi vi phạm hành
chính trên lãnh thổ Việt Nam, vùng đặc quyền kinh tế, vùng tiếp giáp lãnh
hải. Những người này phải có năng lực trách nhiệm hành chính. Năng lực
trách nhiệm pháp lý hành chính thể hiện khả năng nhận thức của con người
với hành vi vi phạm, vì thế hai yếu tố để xác định năng lực pháp lý đối với cá
nhân là: Đạt độ tuổi theo quy định của pháp luật, không mắc bệnh làm mất
khả năng nhận thức của hành vi. Điều 5 Luật xử phạt vi phạm hành chính năm
2012 xác định đối tượng bị xử phạt hành chính là cá nhân bao gồm: Người từ
đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi bị xử phạt hành chính về vi phạm hành chính do
cố ý; người từ đủ 16 tuổi trở lên bị xử phạt hành chính về mọi hành vi vi
phạm hành chính (điểm a khoản 1).
Người thuộc lực lượng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân vi phạm
hành chính thì bị xử phạt như đối với công dân khác; trường hợp cần áp dụng
hình thức phạt tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề hoặc đình
chỉ hoạt động có thời hạn liên quan đến quốc phòng, an ninh thì người xử phạt
chúng có mối liên hệ với nhau, gắn liền với từng phạm vi quản lý nhà nước.
22
Khách thể trực tiếp: là quan hệ xã hội cụ thể được pháp luật quy định
và bảo vệ, bị chính hành vi vi phạm hành chính phạm xâm hại tới.
1.1.2. Khái niệm và đặc điểm của vi phạm hành chính trong lĩnh vực
giao thông đường bộ
Trên cơ sở lý luận về vi phạm hành chính nói chung đã được phân tích
ở trên, chúng ta sẽ làm rõ vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông
đường bộ nói riêng.
Văn bản pháp quy hiện hành trực tiếp quy định về xử phạt vi phạm
hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ (GTĐB) và đường sắt là Nghị
định số 46/2016/NĐ-CP ngày 26/5/2016 không đưa ra định nghĩa pháp lý thế
nào là vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ. Điều này cũng
diễn ra tương tự với Nghị định bị thay thế trước đó là Nghị định số
171/2013/NĐ-CP ngày 13/3/2013. Tuy nhiên hai văn bản này lại xác định
phạm vi của thuật ngữ “lĩnh vực giao thông đường bộ” theo các hiểu tại các
Nghị định này. Theo Khoản 1 Điều 2 Nghị định số 46/2016/NĐ-CP, “lĩnh vực
giao thông đường bộ” được xác định bởi loại phương tiện tham gia giao
thông, đó là: a) Máy kéo; b) Các loại xe tương tự xe ô tô; c) Các loại xe tương
tự xe mô tô; d) Xe máy điện; đ) Các loại xe tương tự xe gắn máy; e) Xe đạp
máy.
Từ góc độ lý luận, có thể thấy đã từng có một định nghĩa pháp lý về vi
phạm hành chính trong lĩnh vực GTĐB. Khoản 2 Điều 1 Nghị định số
34/2010/NĐ–CP ngày 02 tháng 4 năm 2010 của Chính Phủ về việc quy định
xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ quy định:
“Vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ là những hành vi
của cá nhân, tổ chức vi phạm quy định của pháp luật trong lĩnh vực giao
thông đường bộ một cách cố ý hoặc vô ý mà không phải là tội phạm và theo
khá đa dạng và phong phú, bao gồm các nội dung: bảo vệ quy tắc giao thông
đường bộ, phương tiện tham gia giao thông đường bộ, về kết cấu hạ tầng giao
24
thông đường bộ, quy định về người điều khiển phương tiện tham gia giao
thông và về vận tải đường bộ.
Xuất phát từ tính đa dạng và phong phú của các hoạt động bảo vệ trật tự
an toàn giao thông đường bộ, nên vi phạm hành chính trong lĩnh vực này
được pháp luật quy định có đặc điểm khá rộng và đa dạng tương ứng với các
nội dung được pháp luật về giao thông đường bộ bảo vệ. Đặc điểm này được
thể hiện tập trung ở Luật Giao thông đường bộ năm 2008, các Nghị định đã
hết hiệu lực như: Nghị định số 34/2010/NĐ-CP ngày 02 tháng 4 năm 2010
của Chính Phủ về việc quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực
giao thông đường bộ, Nghị định số 33/2011/NĐ-CP sửa đổi Nghị định
34/2010/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao
thông đường bộ, Nghị định 71/2012/NĐ-CP sửa đổi Nghị định 34/2010/NĐCP xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ (có hiệu
lực 10/11/2012), Nghị định số 171/2013/NĐ-CP ngày 13/3/2013 (thay thế
Nghị định số 34/2010/NĐ-CP và Nghị định 71/2012/NĐ-CP), và Nghị định
hiện hành: Nghị định số 46/2016/NĐ-CP ngày 26/5/2016 Quy định về xử phạt
vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt.
Một vấn đề quan trọng khi nghiên cứu vi phạm hành chính trong lĩnh
vực giao thông đường bộ đó là việc phân định giữa vi phạm hành chính và tội
phạm về giao thông đường bộ.
Dưới góc độ khoa học pháp lý hình sự có thể hiểu: tội phạm về giao thông
đường bộ là các hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình
sự Việt Nam, xâm hại tới các quan hệ xã hội về đảm bảo an toàn giao thông
đường bộ.
Các tội phạm về giao thông đường bộ được quy định tại 06 điều luật