Giải quyết khiếu nại về kê biên tài sản trong THADS từ thực tiễn tỉnh quảng nam - Pdf 49

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN ĐÌNH MỸ

GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI VỀ KÊ BIÊN
TÀI SẢN TRONG THI HÀNH ÁN DÂN SỰ
TỪ THỰC TIỄN TỈNH QUẢNG NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI, năm 2018


VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN ĐÌNH MỸ

GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI VỀ KÊ BIÊN
TÀI SẢN TRONG THI HÀNH ÁN DÂN SỰ
TỪ THỰC TIỄN TỈNH QUẢNG NAM

Chuyên ngành: Luật Hiến pháp và Luật Hành chính
Mã số: 838.01.02

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:


Nguyễn Đình Mỹ


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
CHƯƠNG 1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ GIẢI QUYẾT KHIẾU
NẠI KÊ BIÊN TÀI SẢN TRONG THI HÀNH ÁN DÂN SỰ..................... 6
1.1. Khái niệm khiếu nại và giải quyết khiếu nại về kê biên tài sản trong thi
hành án dân sự ................................................................................................... 6
1.2. Nội dung giải quyết khiếu nại về kê biên tài sản trong thi hành án dân
sự ....................................................................................................................... 9
1.3. Trình tự, thủ tục giải quyết khiếu nại về kê biên tài sản trong thi hành
án dân sự.......................................................................................................... 16
1.4. Tầm quan trọng, vai trò của giải quyết khiếu nại về kê biên tài sản
trong thi hành án dân sự .................................................................................. 28
CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI VỀ KÊ
BIÊN TÀI SẢN TRONG THI HÀNH ÁN DÂN SỰ TRÊN ĐỊA BÀN
TỈNH QUẢNG NAM .................................................................................... 32
2.1. Các yếu tố ảnh hưởng đến giải quyết khiếu nại về kê biên tài sản trong
thi hành án dân sự trên địa bàn tỉnh Quảng Nam ............................................ 32
2.2. Quy định của pháp luật ảnh hưởng đến giải quyết khiếu nại về kê biên
tài sản trong thi hành án dân sự trên địa bàn tỉnh Quảng Nam ....................... 37
2.3. Đánh giá về giải quyết khiếu nại kê biên tài sản trong thi hành án dân
sự trên địa bàn tỉnh Quảng Nam ..................................................................... 54
CHƯƠNG 3. QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP ĐẢM BẢO HIỆU QUẢ
GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI VỀ KÊ BIÊN TÀI SẢN TRONG THI
HÀNH ÁN DÂN SỰ ...................................................................................... 62
3.1. Quan điểm đảm bảo hiệu quả giải quyết khiếu nại về kê biên tài sản
trong thi hành án dân sự .................................................................................. 62


: Thương mại Cổ phần

TNHH MTV : Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên


DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1. Bảng thống kê các vụ việc kê biên và số đơn khiếu nại về kê
biên tài sản trong THADS từ năm 2013 đến năm 2017 tại Thi hành án dân
sự tỉnh Quảng Nam ......................................................................................... 33
Bảng 2.2. Bảng phân loại đơn, thư khiếu nại về kên biên tài sản trong thi
hành án dân sự từ năm 2013 đến năm 2017 của Cục Thi hành án dân sự
tỉnh Quảng Nam .............................................................................................. 42
Bảng 2.3. Kết quả giải quyết đơn khiếu nại về kê biên tài sản trong thi
hành án dân sự từ năm 2013 đến năm 2017 của Cục thi hành án dân sự tỉnh
Quảng Nam ..................................................................................................... 56


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Khiếu nại là một trong các quyền chính trị cơ bản của công dân, được
ghi nhận trong các văn bản pháp luật có giá trị pháp lý cao như Hiến pháp,
luật. Điều 30 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Mọi người có quyền khiếu nại,
tố cáo với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền về những việc làm trái
pháp luật của cơ quan, tổ chức, cá nhân”. Quyền khiếu nại được quy định chi
tiết tại Luật khiếu nại năm 2011. Đối với khiếu nại về thi hành án dân sự, kế
thừa các quy định pháp luật về khiếu nại và giải quyết khiếu nại, Luật Thi
hành án dân sự và các Pháp lệnh Thi hành án dân sự trước đây, Luật sửa đổi,
bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự năm 2014 có hiệu lực từ
ngày 01 tháng 7 năm 2015 giữ nguyên các quy định về khiếu nại và giải quyết

pháp cưỡng chế kê biên tài sản là một trong sáu biện pháp mà CHV áp dụng
để thực thi nhiệm vụ. Quá trình THA có nhiều nguyên nhân khác nhau dẫn
đến tình trạng việc THA xảy ra KN về kê biên tài sản.
Đối với công tác giải quyết kiếu nại trên địa bàn tỉnh Quảng Nam luôn
được đề cao, coi trọng và là nhiệm vụ quan trọng trong công tác THADS.
Với việc tăng cường, tập trung giải quyết, chỉ đạo giải quyết dứt điểm
những vụ việc khiếu nại kéo dài, đặc biệt là những vụ việc kê biên có giá trị
lớn; tăng cường đối thoại, giải thích, giáo dục, thuyết phục, chú trọng tiến độ,
thời hạn, chất lượng. Việc giải quyết khiếu nại kê biên tài sản trong THADS
những năm gần đây đã có nhiều chuyển biến tích cực. Tuy nhiên, việc CHV
áp dụng biện pháp kê biên tài sản để thi hành án nhiều vụ việc hết sức phức
tạp dẫn đến tình hình giải quyết KN về kê biên tài sản trên địa bàn tỉnh Quảng
Nam ngày càng nhiều, làm ảnh hưởng đến an ninh, trật tự tại địa phương và
làm giảm đáng kể niềm tin của người dân vào cơ quan THADS. Vậy, đòi hỏi

2


phải có sự quan tâm nhằm tăng cường giải quyết KN về kê biên tài sản trong
THADS trên địa bàn tỉnh Quảng Nam.
Xuất phát từ thực tiễn đó, việc lựa chọn đề tài "Giải quyết khiếu nại về
kê biên tài sản trong THADS từ thực tiễn tỉnh Quảng Nam" để nghiên cứu là
hết sức cần thiết, có ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Những năm gần đây đã có một số công trình khoa học nghiên cứu về
lĩnh vực THADS như:
- Tổng cục Thi hành án dân sự - Bộ Tư pháp, Mô hình quản lý thống
nhất công tác thi hành án, mã số 96-98-027/ĐT, đề tài khoa học cấp Bộ.
- Nguyễn Thanh Thuỷ (2008), Hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự
ở Việt Nam hiện nay, Luận án Tiến sĩ Luật học tại Học viện Chính trị - Hành

đẩy công tác THADS đạt hiệu quả cao hơn.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Luận văn sẽ tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn của
giải quyết khiếu nại về kê biên tài sản trên địa bàn tỉnh Quảng Nam.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu về không gian: Tập trung nghiên cứu trong phạm vi
giải quyết khiếu nại về kê biên tài sản trong THADS của các cơ quan THADS
trên địa bàn tỉnh Quảng Nam gồm: Cục THADS tỉnh Quảng Nam và 18 Chi
cục THADS các huyện, thị xã, thành phố trực thuộc.
Phạm vi nghiên cứu về thời gian: Từ năm 2013 đến năm 2017
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận
Phương pháp luận của việc nghiên cứu đề tài là chủ nghĩa duy vật biện
chứng, duy vật lịch sử và phép biện chứng của chủ nghĩa Mác – Lê Nin, tư
tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật.

4


5.2. Phương pháp nghiên cứu
Các phương pháp cụ thể được sử dụng kết hợp, đó là: Phương pháp phân
tích, phương pháp so sánh, phương pháp thông kế, tổng hợp và phương pháp
quy nạp.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1. Ý nghĩa lý luận
Luận văn góp phần hệ thống hóa, làm rõ thêm cơ sở lý luận về giải quyết
khiếu nại về kê biên tài sản trong thi hành án dân sự.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Hiện nay, hầu như chưa có công trình nghiên cứu chuyên sâu về giải

hành vi khác làm thay đổi hiện trạng đối với tài sản đó để đảm bảo cho việc
thi hành án.
Từ sự trình bày nêu trên, khiếu nại về kê biên tài sản trong thi hành án
dân sự được hiểu là việc người được thi hành án, người phải thi hành án
được gọi là (đương sự) và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan phản ứng
cho rằng hành vi của Chấp hành viên đã kê biên tài sản làm xâm phạm đến
quyền và lợi ích hợp pháp của họ.
1.1.2. Khái niệm giải quyết khiếu nại về kê biên tài sản trong thi hành
án dân sự
Đi liền với quyền KN của các bên đương sự, người có quyền lợi và nghĩa
vụ liên quan là nghĩa vụ giải quyết KN của các cơ quan, tổ chức và cá nhân có
thẩm quyền. Làm tốt công tác giải quyết KN trong THADS không những bảo
vệ quyền lợi chính đáng của các bên đương sự, người có quyền và lợi ích liên
quan, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động THADS, giảm vụ việc THA tồn
đọng, bảo đảm bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực thi hành trên thực

7


tế, mà qua đó còn tạo niềm tin của xã hội đối với hoạt động THADS, niềm tin
vào những phán quyết của Tòa án, văn bản luật và công lý.
Giải quyết KN về kê biên tài sản trong THADS cũng mang đầy đủ bản
chất, nội dung, mục đích, ý nghĩa của hoạt động giải quyết KN nói chung. Về
bản chất, đó cũng là việc cá nhân, cơ quan có thẩm quyền tiến hành các hoạt
động cần thiết nhằm làm rõ việc KN có đúng hay sai. Cụ thể là xác định xem
quyết định của Thủ trưởng cơ quan THADS hoặc hành vi CHV thực hiện việc
kê biên tài sản có trái pháp luật, xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của
người KN hay không. Tính chất, mức độ, hậu quả của sự xâm phạm đến mức
nào. Từ đó, đưa ra kết luận về từng vấn đề liên quan, làm cơ sở cho việc ban
hành quyết định giải quyết KN. Trong quá trình giải quyết KN, cơ quan hoặc

dân sự
Theo quy định tại Khoản 1 Điều 140 Luật THADS năm 2014 quy định
thì người có quyền KN về THADS bao gồm:
Đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền khiếu nại đối
với quyết định, hành vi của Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự, Chấp
hành viên nếu có căn cứ cho rằng quyết định, hành vi đó là trái pháp luật, xâm
phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình. Theo đó, “đương sự” bao gồm người
được thi hành án, người phải thi hành án. Người được thi hành án là cá nhân,
cơ quan, tổ chức được hưởng quyền, lợi ích trong bản án, quyết định được thi
hành. Người phải thi hành án là cá nhân, cơ quan, tổ chức phải thực hiện
nghĩa vụ trong bản án, quyết định được thi hành (Khoản 1,2,3 Điều 3 Luật
THADS 2014) Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cá nhân, cơ quan, tổ
chức có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trực tiếp đến việc thực hiện quyền,
nghĩa vụ thi hành án của đương sự (Khoản 4 Điều 3 Luật THADS năm 2014).
Theo quy định của Luật KN năm 2011, người có quyền KN là công dân,
cơ quan, tổ chức hoặc cán bộ, công chức có quyền lợi bị xâm hại bởi một
quyết định hành chính, hành vi hành chính, một quyết định kỷ luật cán bộ,

9


công chức hoặc người đại diện hợp pháp của những người này khi họ thực
hiện quyền KN. Có nghĩa là, người có quyền KN phải là người bị tác động
trực tiếp bởi chính quyết định hoặc hành vi đó [32, tr.1-2].
Đối chiếu với các quy định trên thì chủ thể thực hiện quyền khiếu nại về
kê biên tài sản trong THADS có thể là cá nhân, cơ quan, tổ chức.
1.2.2. Đối tượng khiếu nại về kê biên tài sản trong thi hành án dân sự
Theo Luật KN năm 2011 thì đối tượng KN là quyết định hành chính,
hành vi hành chính của cơ quan hành chính nhà nước, của người có thẩm
quyền trong cơ quan hành chính nhà nước hoặc quyết định kỷ luật cán bộ,

Hành vi kê biên tài sản trong THADS bị khiếu nại nếu: kê biên, xử lý tài
sản sai đối tượng; kê biên không tương ứng với giá trị phải thi hành; kê biên
thiếu tài sản; kê biên thừa tài sản hay kê biên tài sản đang tranh chấp…
1.2.3. Thẩm quyền giải quyết khiếu nại về kê biên tài sản trong thi
hành án dân sự
Thẩm quyền giải quyết KN về THADS cũng là thẩm quyền giải quyết
KN về kê biên tài sản trong THADS.
Người có thẩm quyền giải quyết KN về kê biên tài sản trong THADS là
Thủ trưởng cơ quan THADS cấp huyện, Thủ trưởng cơ quan THADS cấp
tỉnh, Thủ trưởng cơ quan quản lý THADS thuộc Bộ Tư pháp và Bộ trưởng Bộ
Tư pháp.
Giải quyết KN về kê biên tài sản trong THADS được thực hiện theo quy
trình giải quyết về KN có thể phân thành hai cấp cụ thể như sau:
- Cấp thứ nhất:
Thẩm quyền giải quyết khiếu nại về kê biên tài sản trong THADS lần
đầu
Giải quyết KN lần đầu về kê biên tài sản trong THADS thuộc thẩm
quyền của Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự cấp huyện; Thủ trưởng cơ
quan thi hành án dân sự cấp tỉnh; Thủ trưởng cơ quan quản lý thi hành án dân

11


sự thuộc Bộ Tư pháp theo quy định tại Điều 142 Luật THADS năm 2008.
Một là: Thẩm quyền giải quyết KN về kê biên tài sản trong THADS của
Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự cấp huyện.
Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự cấp huyện giải quyết KN đối với
hành vi thực hiện việc kê biên tài sản trái pháp luật của CHV thuộc quyền
quản lý trực tiếp của Chi cục THADS cấp huyện.
Bên cạnh đó Thông tư số 02/2016/TT-BTP ngày 01/02/2016 quy định

với khiếu nại hành vi thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Chấp hành viên kê
biên tài sản trái pháp luật của Thủ trưởng cơ quan THADS cấp tỉnh.
Tóm lại, Thủ trưởng cơ quan THADS có thẩm quyền giải quyết khiếu
nại về kê biên tài sản trong THADS lần đầu đối với hành vi của CHV do mình
trực tiếp quản lý.
- Cấp thứ hai:
Thẩm quyền giải quyết khiếu nại về kê biên tài sản trong THADS lần
hai.
Giải quyết KN về kê biên tài sản trong THADS lần hai thuộc thẩm
quyền của Thủ trưởng cơ quan THADS cấp tỉnh; Thủ trưởng cơ quan quản lý
THADS thuộc Bộ Tư pháp và Bộ trưởng Bộ Tư pháp.
Một là: Thẩm quyền giải quyết khiếu nại về kê biên tài sản trong
THADS của Thủ trưởng cơ quan THADS cấp tỉnh theo quy định tại điểm c
khoản 2 Điều 142 Luật THADS năm 2008 và Điểm d, Khoản 2, Điều 7
Thông tư số 02/2016/TT-BTP ngày 01/02/2016 quy định quy trình giải quyết
đơn KN, tố cáo, đề nghị, kiến nghị, phản ánh trong THADS, có hiệu lực kể từ
ngày 16/3/2016 thì Thủ trưởng cơ quan THADS cấp tỉnh có thẩm quyền giải
quyết KN đối với quyết định giải quyết KN của Thủ trưởng cơ quan THADS
cấp huyện. Nghĩa là trước đó CHV của cơ quan THADS cấp huyện thực hiện
việc kê biên tài sản của đương sự mà bị KN và đã được Thủ trưởng cơ quan
THADS cấp huyện giải quyết bằng một quyết định giải quyết khiếu nại nhưng

13


người khiếu nại không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại đó và khiếu
nại tiếp.
Hai là: Thẩm quyền giải quyết KN về kê biên tài sản trong THADS của
Thủ trưởng cơ quan quản lý THADS thuộc Bộ Tư pháp.
Theo quy định tại điểm b khoản 3 Điều 142 Luật THADS năm 2008 và

hướng dẫn thi hành một số điều của Luật THADS, việc xem xét lại chỉ được
thực hiện khi có căn cứ cho rằng: Quyết định, hành vi bị KN là trái pháp luật
nhưng quyết định giải quyết KN cho rằng quyết định, hành vi đó là đúng pháp
luật; việc giải quyết KN đã vi phạm quy định của pháp luật về thủ tục giải
quyết KN về THA; có tình tiết mới làm thay đổi cơ bản kết quả giải quyết KN
[14, tr.24].
Khi xác định thẩm quyền giải quyết KN lần hai, cần chú ý:
Nghị định 62/2015/NĐ-CP ngày 18/7/2015 quy định chi tiết và hướng
dẫn thi hành một số điều của Luật THADS: Đối với đơn KN thuộc thẩm
quyền giải quyết của cấp dưới nhưng quá thời hạn quy định mà chưa được
giải quyết thì Thủ trưởng cơ quan THADS hoặc cơ quan quản lý THADS cấp
trên yêu cầu cấp dưới giải quyết, đồng thời có trách nhiệm chỉ đạo, kiểm tra,
đôn đốc việc giải quyết của cấp dưới và áp dụng biện pháp theo thẩm quyền
để xử lý đối với người thiếu trách nhiệm hoặc cố tình trì hoãn việc giải quyết
KN đó. Trong trường hợp cần áp dụng biện pháp vượt quá thẩm quyền của
mình thì kiến nghị cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền xử lý [14, tr.24].
1.2.4. Quyền và nghĩa vụ của người khiếu nại, người bị khiếu nại về
kê biên tài sản trong thi hành án dân sự
Thứ nhất: Quyền của người khiếu nại được quy định tại Khoản 1 Điều
143 Luật THADS năm 2008 được sửa đổi bổ sung năm 2014 quy định người
KN có quyền sau đây:
Có thể tự mình khiếu nại hoặc thông qua người đại diện hợp pháp để
khiếu nại; nhờ luật sư giúp đỡ về pháp luật trong quá trình KN; được nhận

15


Quyết định giải quyết khiếu nại; được biết các bằng chứng để làm căn cứ giải
quyết KN; đưa ra bằng chứng về việc KN và giải trình ý kiến của mình về
bằng chứng đó; được khôi phục quyền, lợi ích hợp pháp đã bị xâm phạm và

quan cung cấp thông tin, tài liệu và những bằng chứng liên quan đến nội dung
khiếu nại, tiến hành các biên pháp khác theo quy định của pháp luật để giải
quyết khiếu nại.
Lưu ý rằng trường hợp nội dung đơn khiếu nại, báo cáo giải trình của
người bị KN và hồ sơ tài liệu có liên quan rõ ràng, có đủ căn cứ, cơ sở pháp lý
đẻ kết luận, giải quyết thì người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại ra ngay
Quyết định giải quyết KN theo quy định tại Khoản 5 Điều 9 Thông tư số
02/2016/TT-BTP ngày 01/2/2016 có hiệu lực tù ngày 16/3/2016.
Kế thừa quy định của Nghị định 58/NĐ-CP ngày 13/7/2009 của Chính
phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật THADS về
thủ tục THADS, Nghị định số 62/NĐ-CP ngày 18/7/2015 của Chính phủ quy
định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thi hành án dân sự
đã giữ nguyên quy định giải quyết khiếu nại về THA và bổ sung quy định:
“Trường hợp khiếu nại được giải quyết mà đương sự vẫn tiếp tục khiếu nại
nhưng không đưa ra bằng chứng mới thì người giải quyết khiếu nại lưu đơn
và thông báo để đương sự biết”.
Theo quy định của Luật Thi hành án dân sự và các văn bản hướng dẫn thi
hành thì khiếu nại về kê biên tài sản trong THADS được chia thành 5 bước cụ
thể như sau: Tiếp nhận, phân loại đơn; thụ lý đơn KN, yêu cầu báo cáo giải trình,
cung cấp hồ sơ tài liệu; tổ chức xác minh, đối thoại tại địa phương; ra quyết định
giải quyết KN; Phát hành công khai, đôn đốc, theo dõi và kiểm tra việc thực
hiện quyết quả giải quyết KN và Hoàn chỉnh hồ sơ giải quyết khiếu nại.
Bước 1: Tiếp nhận, phân loại đơn
Thụ lý đơn khiếu nại
Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đơn KN do văn

17




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status