Pháp luật về ưu đãi và hỗ trợ đầu tư đối với các dự án đầu tư phát triển chợ từ thực tiễn tỉnh Quảng Ngãi - Pdf 49

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN THỊ TUYẾT NHUNG

PHÁP LUẬT VỀ ƯU ĐÃI VÀ HỖ TRỢ ĐẦU TƯ
ĐỐI VỚI CÁC DỰ ÁN ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN CHỢ
TỪ THỰC TIỄN TỈNH QUẢNG NGÃI

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI, năm 2018


VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN THỊ TUYẾT NHUNG

PHÁP LUẬT VỀ ƯU ĐÃI VÀ HỖ TRỢ ĐẦU TƯ
ĐỐI VỚI CÁC DỰ ÁN ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN CHỢ
TỪ THỰC TIỄN TỈNH QUẢNG NGÃI

Chuyên ngành: Luật Kinh tế
Mã số: 8 38.01.07

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

chợ .............................................................................................................................25
1.4. Các yếu tố tác động đến pháp luật về ưu đãi và hỗ trợ đầu tư đối với dự án
đầu tư phát triển chợ ..................................................................................................36
CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ ƯU ĐÃI VÀ HỖ TRỢ ĐẦU
TƯ ĐỐI VỚI CÁC DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG VÀ QUẢN LÝ, KINH
DOANH CHỢ TẠI TỈNH QUẢNG NGÃI ...........................................................41
2.1. Những đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội tại tỉnh Quảng Ngãi có liên quan
đến pháp luật về ưu đãi và hỗ trợ đầu tư tại tỉnh Quảng Ngãi ..................................41
2.2. Thực trạng các quy định pháp luật về ưu đãi và hỗ trợ đối với các dự án đầu
tư phát triển chợ tại tỉnh Quảng Ngãi ........................................................................44
2.3. Tình hình tổ chức thực thi pháp luật về ưu đãi và hỗ trợ đầu tư đối với các
dự án đầu tư phát triển chợ tại tỉnh Quảng Ngãi .......................................................55
2.4. Đánh giá chung ..................................................................................................61
CHƯƠNG 3. PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP
LUẬT VỀ ƯU ĐÃI VÀ HỖ TRỢ ĐẦU TƯ ĐỐI VỚI CÁC DỰ ÁN ĐẦU TƯ
PHÁT TRIỂN CHỢ TỪ THỰC TIỄN TỈNH QUẢNG NGÃI ...........................68
3.1. Nhu cầu hoàn thiện pháp luật về ưu đãi và hỗ trợ đầu tư đối với các dự án
đầu tư phát triển chợ từ thực tiễn tỉnh Quảng Ngãi ..................................................68


3.2. Phương hướng hoàn thiện pháp luật về ưu đãi và hỗ trợ đầu tư đối với các dự
án đầu tư phát triển chợ từ thực tiễn tỉnh Quảng Ngãi ..............................................69
3.3. Giải pháp hoàn thiện pháp luật về ưu đãi và hỗ trợ đầu tư đối với các dự án
đầu tư phát triển chợ từ thực tiễn tỉnh Quảng Ngãi ..................................................70
KẾT LUẬN ..............................................................................................................76
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

: Kinh doanh khai thác và quản lý chợ

KT –XH

: Kinh tế - xã hội

PCI

: Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh

TNDN

: Thu nhập doanh nghiệp

UBND

: Ủy ban nhân dân

VDB

: Ngân hàng phát triển Việt Nam


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Đầu tư phát triển là yếu tố có tầm quan trọng đối với nền kinh tế quốc gia nói
chung và của tỉnh Quảng Ngãi nói riêng cả trong ngắn hạn và dài hạn. Đầu tư phát
triển trong ngắn hạn sẽ làm tăng tổng cầu, tạo việc làm mới; trong dài hạn đầu tư
phát triển tăng cung, nâng cao năng lực sản xuất của quốc gia, của địa phương.
Trong thực tế, không phải bao giờ một quốc gia, một địa phương cũng đạt được

ta đã thu hút được số lượng vốn lớn đầu tư vào các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh;
trong đó có các dự án đầu tư phát triển chợ cũng dần được quan tâm đầu tư theo
hình thức xã hội hóa…đã góp phần làm cho nước ta giữ được tốc độ tăng trưởng
kinh tế cao trong nhiều năm, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tích cực, tạo
thêm việc làm mới và cải thiện chất lượng cuộc sống dân cư.
Cùng với sự phát triển cả nước, tỉnh Quảng Ngãi có nhiều biện pháp ưu đãi,
hỗ trợ đầu tư tương đối phù hợp nên trở thành một trong những địa điểm thu hút
vốn đầu tư trong và ngoài nước, tạo động lực lớn cho quá trình hội nhập kinh tế
quốc tế, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng dần tỷ trọng ngành
công nghiệp – xây dựng, dịch vụ, giảm dần tỷ trọng ngành nông nghiệp. Tuy nhiên,
do nhiều nguyên nhân, việc thu hút đầu tư vào Quảng Ngãi vẫn còn gặp nhiều khó
khăn, nhất là các dự án đầu tư phát triển chợ triển khai thực hiện chậm, chưa được
quan tâm kêu gọi đầu tư mà chủ yếu thực hiện đầu tư từ ngân sách nhà nước...
Để làm rõ các vấn đề về ưu đãi và hỗ trợ đầu tư đối với các dự án đầu tư phát
triển chợ trong những năm qua, tỉnh Quảng Ngãi đã có những biện pháp ưu đãi và
hỗ trợ đầu tư như thế nào? Trong thời gian đến, tỉnh Quảng Ngãi cần có thêm các
giải pháp gì để các biện pháp ưu đãi và hỗ trợ thật sự trở thành động lực thu hút đầu
tư nói chung và các dự án phát triển chợ nói riêng; nâng cao hiệu quả ưu đãi và hỗ
trợ đầu tư để tương xứng với điều kiện phát triển kinh tế - xã hội; cách thức tiếp cận
được các ưu đãi và hỗ trợ ? Kết quả nghiên cứu giúp cho chúng ta có cái nhìn toàn
diện hơn về các mặt đã đạt được, khắc phục các nhược điểm và đề xuất các giải
pháp phù hợp. Xuất phát từ yêu cầu đó, học viên chọn vấn đề “Pháp luật về ưu đãi
và hỗ trợ đầu tư đối với các dự án đầu tư phát triển chợ từ thực tiễn tỉnh Quảng
Ngãi” làm đề tài Luận văn thạc sĩ.

2


2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Theo định hướng Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội năm 2011 - 2020 của


hội, Hà Nội.
Các công trình nghiên cứu trên từ các góc độ khác nhau đã phân tích, đánh
giá pháp luật về ưu đãi và hỗ trợ đầu tư nói chung. Tuy nhiên, mỗi công trình có sự
nhìn nhận từ các khía cạnh khác nhau, cũng có một số công trình nghiên cứu đề cập
đến các vấn đề về ưu đãi, hỗ trợ đầu tư đối với các doanh nghiệp trong nước và
nước ngoài, song chưa có công trình nào nghiên cứu một cách cụ thể, bao quát và đi
sâu vào đánh giá các quy định của pháp luật về ưu đãi và hỗ trợ đầu tư đối với các
dự án đầu tư phát triển chợ từ thực tiễn tỉnh Quảng Ngãi một cách có hệ thống và
dưới góc độ khoa học pháp luật, kinh tế - chính trị. Vì vậy, việc nghiên cứu về ưu
đãi và hỗ trợ đầu tư; việc áp dụng các chính sách ưu đãi và hỗ trợ đầu tư dự án đầu
tư phát triển chợ tỉnh Quảng Ngãi là vấn đề rất cần thiết.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Luận văn góp phần làm rõ cơ sở lý luận của pháp luật ưu đãi và hỗ trợ đầu
tư; phân tích thực trạng quy định và áp dụng các chính sách ưu đãi, hỗ trợ đầu tư; đề
xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật, nâng cao hiệu quả ưu đãi và hỗ trợ đầu tư đối
với dự án đầu tư phát triển chợ từ thực tiễn tỉnh Quảng Ngãi.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích trên, luận văn có nhiệm vụ:
- Hệ thống những vấn đề lý luận cơ bản về pháp luật ưu đãi và hỗ trợ đầu tư.
- Phân tích, đánh giá thực trạng và việc áp dụng các chính sách ưu đãi và hỗ
trợ đầu tư đối với các dự án đầu tư phát triển chợ trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi.
- Xây dựng phương hướng và đề xuất những giải pháp chủ yếu nhằm hoàn
thiện, đẩy mạnh thực hiện các việc ưu đãi và hỗ trợ đầu tư đối với các dự án đầu tư
phát triển chợ trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi trong những năm tới.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu: Nghiên cứu các quy định của pháp luật về ưu đãi
và hỗ trợ đầu tư; thực tiễn việc áp dụng chính sách ưu đãi và hỗ trợ đầu tư đối với
lĩnh vực đầu tư phát triển chợ tại tỉnh Quảng Ngãi.

tỉnh Quảng Ngãi xác định trong Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Quảng Ngãi lần
thứ XIX và Quy hoạch phát triển thương mại trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi giai
đoạn 2011 - 2015 và định hướng đến 2020 là: “Đẩy mạnh phát triển kết cấu hạ tầng,
5


nhất là hạ tầng giao thông, hạ tầng đô thị”, “Xây dựng, phát triển hệ thống hạ tầng
thương mại nông thôn tỉnh Quảng Ngãi phù hợp với quá trình phát triển kinh tế - xã
hội, đáp ứng yêu cầu tiêu thụ nông sản và cung ứng hàng hóa cho sản xuất và đời
sống, góp phần phát triển nền nông nghiệp toàn diện và góp phần thực hiện thành
công chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới có kết cấu hạ tầng
hiện đại, nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân vùng nông thôn”. Với mục
tiêu trên, việc thu hút các doanh nghiệp đầu tư phát triển chợ trên địa bàn tỉnh
Quảng Ngãi, một mặt là phát triển cơ sở hạ tầng thương mại, mặt khác thông qua
các chính sách ưu đãi và hỗ trợ đầu tư giúp các doanh nghiệp đầu tư phát triển chợ
bền vững trên địa bàn tỉnh.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Đề xuất các giải pháp cơ bản có tính khả thi nhằm đẩy mạnh thu hút đầu tư
vào tỉnh Quảng Ngãi thông qua các chính sách ưu đãi và biện pháp hỗ trợ đầu tư
trong thời gian đến. Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể dùng được làm tài
liệu tham khảo cho việc hoạch định những chính sách phát triển, nâng cao hiệu
quả áp dụng các ưu đãi và hỗ trợ đầu tư ở Quảng Ngãi đối với việc thu hút đầu tư
phát triển chợ.
7. Cơ cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 03
chương.
Chương 1: Những vấn đề lý luận về pháp luật về ưu đãi và hỗ trợ đầu tư đối
với các dự án đầu tư phát triển chợ;
Chương 2: Thực trạng pháp luật về ưu đãi và hỗ trợ đầu tư đối với các dự án
đầu tư phát triển chợ tại tỉnh Quảng Ngãi;

diện tích để bố trí các điểm kinh doanh, khu vực dịch vụ (như: bãi để xe, kho hàng,
khu ăn uống, vui chơi giải trí và các dịch vụ khác) và đường bao quanh chợ.
Điểm kinh doanh tại chợ: bao gồm quầy hàng, sạp hàng, ki-ốt, cửa hàng
được bố trí cố định trong phạm vi chợ theo thiết kế xây dựng chợ, có diện tích quy

7


chuẩn tối thiểu là 3 m2/điểm.
Từ những điểm hội tụ chung của nhiều quan niệm, ta có thể rút ra khái niệm:
Chợ là loại hình kinh doanh thương mại được hình thành và phát triển mang tính
truyền thống, được tổ chức tại một địa điểm công cộng, tập trung đông người mua
bán, trao đổi hàng hoá, dịch vụ với nhau, được hình thành do yêu cầu của sản xuất,
lưu thông và đời sống tiêu dùng xã hội và hoạt động theo các chu kỳ thời gian nhất
định và được cơ quan có thẩm quyền theo quy định phê duyệt và chỉ đạo thực hiện.
* Đặc trưng của chợ:
Chợ có những đặc trưng sau:
- Chợ là một nơi (địa điểm) công cộng để mua bán, trao đổi hàng hoá, dịch
vụ của dân cư, ở đó bất cứ ai có nhu cầu đều có thể đến mua, bán và trao đổi hàng
hoá, dịch vụ với nhau.
- Chợ được hình thành do yêu cầu khách quan của sản xuất và trao đổi hàng
hoá, dịch vụ của dân cư, chợ có thể được hình thành một cách tự phát hoặc do quá
trình nhận thức tự giác của con người. Vì vậy trên thực tế có nhiều chợ đã được
hình thành từ việc quy hoạch, xây dựng, tổ chức, quản lý chặt chẽ của các cấp chính
quyền và các ngành quản lý kinh tế kỹ thuật. Nhưng cũng có rất nhiều chợ được
hình thành một cách tự phát do nhu cầu sản xuất và trao đổi hàng hoá của dân cư,
chưa được quy hoạch, xây dựng, tổ chức, quản lý chặt chẽ.
- Các hoạt động mua, bán, trao đổi hàng hoá, dịch vụ tại chợ thường được
diễn ra theo một quy luật và chu kỳ thời gian (ngày, giờ, phiên) nhất định. Chu kỳ
họp chợ hình thành do nhu cầu trao đổi hàng hoá, dịch vụ và tập quán của từng

chợ này có doanh số bán buôn chiếm tỷ trọng cao (trên 60%), đồng thời vẫn có bản
lẻ nhưng tỷ trọng nhỏ.
- Chợ bán lẻ: Là những chợ thuộc phạm vi xã, phường (liên xã, liên phường),
cụm dân cư, hàng hoá qua chợ chủ yếu để bán lẻ, phục vụ trực tiếp cho người tiêu
dùng.
Theo đặc điểm mặt hàng kinh doanh: Có chợ tổng hợp, chợ chuyên doanh và
chợ đầu mối
- Chợ tổng hợp: Là chợ kinh doanh nhiều loại hàng hoá thuộc nhiều ngành
hàng khác nhau. Trong chợ tồn tại nhiều loại mặt hàng như: hàng tiêu dùng (quần
áo, giày dép, các mặt hàng lương thực thực phẩm, hàng gia dụng…), công cụ lao
động nông nghiệp (cuốc, xẻng, liềm búa…), cây trồng, vật nuôi…, chợ đáp ứng
9


toàn bộ các nhu cầu của khách hàng. Hình thức chợ tổng hợp này thể hiện khái quát
những đặc trưng của chợ truyền thống và ở nước ta hiện nay loại hình này vẫn
chiếm ưu thế về số lượng cũng như về thời gian hình thành và phát triển.
- Chợ chuyên doanh: Là loại chợ chuyên kinh doanh một mặt hàng chính yếu,
mặt hàng này thường chiếm doanh số trên 60% đồng thời vẫn có bán một số mặt
hàng khác, các loại hàng này có doanh số dưới 40% tổng doanh thu. Hình thức chợ
này cũng tồn tại ở nước ta như chợ vải, chợ hoa tươi, chợ vật liệu xây dựng, chợ rau
quả, chợ giống cây trồng…
- Chợ đầu mối : Là chợ có vai trò chủ yếu thu hút, tập trung lượng hàng hoá
lớn từ các nguồn sản xuất, kinh doanh của khu vực kinh tế hoặc của ngành hàng để
tiếp tục phân phối tới các chợ và các kênh lưu thông khác.
Theo số lượng hộ kinh doanh, vị trí và mặt bằng của chợ: Dựa theo cách
phân loại trong Điều 3 Nghị định số 02/2003/NĐ-CP của Chính phủ về phát triển và
quản lý chợ và khoản 2, Điều 1 Nghị định số 114/2009/NĐ-CP của Chính phủ về
sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 02/2003/NĐ-CP của Chính phủ về
phát triển và quản lý chợ thì chợ được chia thành 3 hạng: chợ hạng 1, chợ hạng 2 và

công trình kiến trúc, có độ bền sử dụng cao (thời gian sử dụng trên 10 năm). Chợ
kiên cố thường là chợ loại 1 có diện tích đất hơn 10.000 m2 và chợ loại 2 có diện
tích đất từ 6.000 – 9.000 m2. Các chợ kiên cố lớn thường nằm ở các tỉnh, thành phố
lớn, các huyện lỵ, trị trấn và có thời gian tồn tại lâu đời, trong một thời kỳ dài và là
trung tâm mua bán của cả vùng rộng lớn.
- Chợ bán kiên cố: Là chợ chưa được xây dựng hoàn chỉnh. Bên cạnh những
hạng mục xây dựng kiên cố (tầng lầu, cửa hàng, sạp hàng) còn có những hạng mục
xây dựng tạm như lán, mái che, quầy bán hàng…, độ bền sử dụng không cao (dưới
10 năm) và thiếu tiện nghi. Chợ bán kiên cố thường là chợ loại 3, có điện tích đất
3000-50.000 m2.Chợ này chủ yếu phân bổ ở các huyện nhỏ, khu vực thị trấn xa xôi,
chợ liên xã, liên làng, các khu vực ngoài thành phố lớn.
- Chợ tạm: Là chợ mà những quầy, sạp bán hang là những lều quán được làm
có tính chất tạm thời, không ổn định, khi cần thiết có thể dỡ bỏ nhanh chóng và ít
tốn kém. Loại chợ này thường hay tồn tại ở các vùng quê, các xã, các thôn, có chợ
được dựng lên để phục vụ trong một thời gian nhất định (như tết,lễ hội…).
Doanh nghiệp kinh doanh, quản lý chợ: là doanh nghiệp được thành lập, đăng ký
kinh doanh và hoạt động theo quy định của pháp luật được cơ quan có thẩm quyền giao
11


hoặc trúng thầu về kinh doanh, khai thác và quản lý chợ.
Hợp tác xã kinh doanh, quản lý chợ: là hợp tác xã được thành lập, đăng ký
kinh doanh và hoạt động theo quy định của pháp luật được cơ quan có thẩm quyền
giao hoặc trúng thầu về kinh doanh, khai thác và quản lý chợ.
* Vai trò của chợ trong nền kinh tế - xã hội nước ta hiện nay
Trong những năm qua, mạng lưới chợ ở nước ta đóng vai trò rất quan trọng
trong sự phát triển kinh tế- xã hội đặc biệt là từ thập niên 80 và những năm đầu của
thập niên 90. Đây là giai đoạn mà mạng lưới siêu thị và trung tâm thương mại chưa
hình thành và phát triển, chợ vẫn là nơi tiêu thụ hàng hóa chủ yếu của các doanh
nghiệp sản xuất cũng như là nơi mua sắm chủ yếu của người dân. Tuy nhiên, hiện

Về giải quyết việc làm
Chợ ở nước ta đã giải quyết được một số lượng lớn việc làm cho người lao
động. Hiện nay, trên toàn quốc có hơn 2,3 triệu người lao động buôn bán trong các
chợ và số người tăng thêm có thể tới 10%/năm.
Nếu mỗi người trực tiếp buôn bán có thêm 1 đến 2 người giúp việc (phụ việc
bán hàng, tổ chức nguồn hàng để đưa về chợ, đưa hàng tới các mối tiêu thụ theo yêu
cầu của khách…) thì số người lao động có việc tại chợ sẽ gấp đôi, gấp ba lần số
lượng người chỉ buôn bán ở chợ và như thế chợ giải quyết được một số lượng lớn
công việc cho người lao động khi hoạt động [22, tr.7].
Về việc giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc
Có thể nói, chợ là một bộ mặt kinh tế - xã hội của một địa phương và là nơi
phản ánh trình độ phát triển kinh tế - xã hội, phong tục tập quán của một vùng dân
cư. Tính văn hoá ở chợ được thể hiện rõ nhất là ở miền núi, vùng cao, vùng sâu,
vùng xa.
- Đối với người dân: Đồng bào đến chợ ngoài mục tiêu mua bán còn lấy chợ
làm nơi giao tiếp, gặp gỡ, thăm hỏi người thân, trao đổi công việc,kể cả việc dựng
vợ gả chồng cho con cái. Chợ còn là nơi hò hẹn của lứa đôi, vì vậy người dân miền
núi thường gọi là đi "chơi chợ" thay cho từ đi chợ mua sắm như là người dưới xuôi
thường gọi. Các phiên chợ này thường tồn tại từ rất lâu đời và nó là những bản sắc
văn hoá vô cùng đặc trưng của các dân tộc ở nước ta.
- Đối với chính quyền: ở miền núi, vùng cao, vùng sâu, vùng xa chợ là địa
điểm duy nhất hội tụ đông người. Tại chợ có đại diện của các lứa tuổi, tất cả các
thôn bản và các dân tộc. Vì thế, đã từ lâu, Chính quyền địa phương đã biết lấy chợ
13


là nơi phổ biến chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà
nước, là nơi tuyên truyền cảnh giác và đấu tranh với những phần tử xuyên tạc
đường lối của Đảng. Từ phong trào kế hoạch hoá gia đình đến kỹ thuật chăm sóc
cây trồng vật nuôi, vệ sinh phòng dịch… đều có thể được phổ biến một cách hiệu

sống sinh hoạt của nhân dân hoặc các chợ tạm hoặc chợ có cơ sở vật chất - kỹ
thuật xuống cấp nghiêm trọng.
Việc thực hiện đầu tư xây dựng chợ mới hoặc sửa chữa lớn, cải tạo, nâng cấp
chợ phải lập dự án theo các quy định hiện hành về quản lý đầu tư xây dựng; các quy
định về tiêu chuẩn thiết kế các loại hình, cấp độ chợ và được cấp có thẩm quyền phê
duyệt theo quy định hiện hành.
Đầu tư xây dựng chợ
Theo Nghị định 02/2003/NĐ-CP và Nghị định 114/2009/NĐ-CP của Chính
phủ:
- Nguồn vốn đầu tư xây dựng chợ bao gồm: nguồn vốn của các doanh
nghiệp, cá nhân sản xuất kinh doanh và của nhân dân đóng góp; nguồn vốn vay tín
dụng; nguồn vốn đầu tư phát triển của Nhà nước, trong đó chủ yếu là nguồn vốn của
các doanh nghiệp, cá nhân sản xuất kinh doanh và nguồn vốn vay tín dụng.
- Nhà nước khuyến khích các tổ chức, cá nhân và các doanh nghiệp thuộc
các thành phần kinh tế đầu tư hoặc góp vốn cùng Nhà nước đầu tư xây dựng các
loại chợ.
- Nguồn vốn đầu tư phát triển của Nhà nước (bao gồm vốn từ ngân sách
trung ương, địa phương và các nguồn viện trợ không hoàn lại) chỉ hỗ trợ đầu tư xây
dựng một số chợ sau:
+ Chợ đầu mối chuyên ngành nông sản, thực phẩm để tiêu thụ hàng hoá ở
các vùng sản xuất tập trung về nông, lâm, thuỷ sản.
+ Chợ ở các cụm xã vùng cao, vùng sâu, vùng xa, hải đảo thuộc các chương
trình phát triển kinh tế - xã hội, xoá đói giảm nghèo, định canh định cư của Nhà
nước.
+ Chợ loại 1 theo quy hoạch ở vị trí trọng điểm về kinh tế thương mại của
tỉnh, thành phố, làm trung tâm giao lưu hàng hoá và phục vụ nhu cầu tiêu dùng ở
các thành phố, thị xã lớn.
+ Chủ đầu tư xây dựng chợ thuộc các thành phần kinh tế được hưởng các
chính sách ưu đãi đầu tư dành cho ngành nghề thuộc khoản 5 Mục III Danh mục A
15

hưởng ưu đãi đầu tư thì nhà đầu tư phải đáp ứng được một số điều kiện do pháp
luật nước tiếp nhận đầu tư quy định.
16


- Quan niệm về hỗ trợ đầu tư
Hỗ trợ đầu tư là việc quốc gia hay địa phương ở quốc gia tiếp nhận đầu tư,
quy định hoặc cụ thể hóa bằng hành động với mục đích dành hỗ trợ nhất định về
kinh tế và các biện pháp phi kinh tế theo hướng có lợi cho nhà đầu tư nhằm tạo
động lực để họ đầu tư vào các lĩnh vực, dự án được Nhà nước cho phép.
Ở một Luật cụ thể thì Nhà nước đều có các chính sách khuyến khích, hỗ trợ,
bảo đảm, ưu đãi khác nhau, ví dụ đối với Luật Doanh nghiệp năm 2014, Nhà nước
công nhận sự tồn tại lâu dài và phát triển của các loại hình doanh nghiệp được quy
định tại Luật này; bảo đảm bình đẳng trước pháp luật của các doanh nghiệp không
phân biệt hình thức sở hữu và thành phần kinh tế; thừa nhận tính sinh lợi hợp pháp
của hoạt động kinh doanh; nhà nước công nhận và bảo hộ quyền sở hữu tài sản, vốn
đầu tư, thu nhập, các quyền và lợi ích hợp pháp khác của doanh nghiệp và chủ sở
hữu doanh nghiệp; tài sản và vốn đầu tư hợp pháp của doanh nghiệp và chủ sở hữu
doanh nghiệp không bị quốc hữu hóa, không bị tịch thu bằng biện pháp hành chính;
còn đối với Luật chuyển giao công nghệ, Nhà nước bảo đảm quyền và lợi ích hợp
pháp, tạo điều kiện thuận lợi cho tổ chức, cá nhân hoạt động chuyển giao công nghệ
phục vụ nhu cầu phát triển nhanh và bền vững kinh tế - xã hội của đất nước; ưu tiên
phát triển công nghệ cao, công nghệ tiên tiến; phát triển nguồn nhân lực công nghệ
đồng bộ với đầu tư đổi mới công nghệ; phát triển mạnh thị trường công nghệ;
khuyến khích và thúc đẩy hoạt động ươm tạo công nghệ, ươm tạo doanh nghiệp
công nghệ; đẩy mạnh việc chuyển giao kết quả nghiên cứu vào sản xuất, kinh
doanh...
Đối với Luật Đầu tư năm 2014, Nhà nước có chính sách hỗ trợ đầu tư được
quy định từ Điều 19 đến Điều 21, mục 2 chương III: gồm có 08 hình thức, đồng thời
nhấn mạnh ở hỗ trợ phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội

thể phát huy hết quyền lực và vai trò quản lý của mình trong lĩnh vực đầu tư. Pháp
luật về ưu đãi và hỗ trợ đầu tư có hợp lý và hiệu quả thì mới đảm bảo được môi
trường bình đẳng mà ở đó các nhà đầu tư có thể phát huy hết năng lực của mình.
Bản chất của pháp luật ưu đãi và hỗ trợ đầu tư: Pháp luật ưu đãi và hỗ trợ
đầu tư quy định mối quan hệ lợi ích giữa nhà nước và nhà đầu tư. Trong mối quan
hệ này, Nhà nước là chủ thể quyết định các biện pháp ưu đãi và mức hỗ trợ cho nhà
đầu tư khi đáp ứng các điều kiện đầu tư; nhà đầu tư là chủ thể nhận ưu đãi và hỗ trợ;
khách thể của quan hệ này chính là các ưu đãi và hỗ trợ cụ thể như các khoản lợi về
18


thuế, tiền thuê đất, hỗ trợ công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng, hỗ trợ đào tạo
lao động, hỗ trợ thực hiện các thủ tục hành chính… Mục đích của việc cấp ưu đãi và
hỗ trợ đầu tư là nhà nước mong muốn chủ thể được nhận ưu đãi, hỗ trợ - các nhà
đầu tư - đầu tư vào một số địa bàn và lĩnh vực nhất định theo định hướng phát triển
kinh tế, trong đó chợ là một ngành nghề đặc biệt ưu đãi đầu tư theo quy định tại
Nghị định số 118/2015/NĐ-CP của Chính phủ.
1.2. Vai trò của pháp luật về ưu đãi và hỗ trợ đầu tư đối với các dự án
đầu tư phát triển chợ
Với tư cách là yếu tố điều chỉnh các quan hệ xã hội về đầu tư phát triển chợ,
pháp luật về ưu đãi và hỗ trợ đầu tư có vai trò hết sức quan trọng trong việc đảm
bảo sự ổn định và phát triển đối với các dự án đầu tư phát triển chợ. Trước hết, phải
nói về vai trò to lớn của pháp luật đầu tư thể hiện rõ nhất ở những khía cạnh sau
đây:
Thứ nhất, Pháp luật đầu tư là cơ sở để thiết lập, củng cố và tăng cường quyền
lực nhà nước về đầu tư, thu hút đầu tư. Thực tiễn cho thấy, để nhà nước hoạt động
có hiệu quả đòi hỏi phải xác định đúng chức năng, thẩm quyền, trách nhiệm của
mỗi loại cơ quan; mỗi cơ quan phải xác lập mối quan hệ đúng đắn giữa chúng, phải
có những phương pháp tổ chức và hoạt động phù hợp để tạo ra một cơ chế đồng bộ,
trong quá trình thiết lập và thực thi quyền lực nhà nước. Những điều đó chỉ có thể


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status