VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT
NAM HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN THỊ TUYẾT NHUNG
PHÁP LUẬT VỀ ƯU ĐÃI VÀ HỖ TRỢ ĐÀU TƯ
ĐÓI VỚI CÁC DỰ ÁN ĐÀU TƯ PHÁT TRIỂN CHỢ
TỪ THỰC TIỄN TỈNH QUẢNG NGÃI
LUẬN VẪN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI, năm
2018
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN THỊ TUYẾT NHUNG
PHÁP LUẬT VỀ ƯU ĐÃI VÀ HỖ TRỢ ĐÀU TƯ
ĐÓI VỚI CÁC DỰ ÁN ĐÀU TƯ PHÁT TRIỂN CHỢ
TỪ THỰC TIỄN TỈNH QUẢNG NGÃI
Chuyên ngành: Luật Kinh tế
Mã số: 8 38.01.07
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. TRÀN MINH ĐỨC
Vai trò của pháp luật về ưu đãi và hỗ trợ đầu tư đối với các dự án đầu
tư
phát triển chợ..........................................................................................................19
1.3.
Cơ cấu pháp luật về ưu đãi và hỗ trợ đầu tư đối với dự án đầu tư phát
triển
chợ.......................................................................................................................... 25
1.4.
Các yếu tố tác động đến pháp luật về ưu đãi và hỗ trợ đầu tư đối với dự
án
đầu tư phát triển chợ................................................................................................36
CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ ƯU ĐÃI VÀ HỖ TRỢ ĐẦU TƯ
ĐỐI VỚI CÁC DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG VÀ QUẢN LÝ, KINH DOANH
CHỢ TẠI TỈNH QUẢNG NGÃI.......................................................................41
2.1.
Những đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội tại tỉnh Quảng Ngãi có liên
quan
đến pháp luật về ưu đãi và hỗ trợ đầu tư tại tỉnh Quảng Ngãi..................................41
2.2.
Thực trạng các quy định pháp luật về ưu đãi và hỗ trợ đối với các dự
án đầu
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BQL
CNH,HĐH
: Ban quản lý
: Công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
DN
GRDP
HĐND
: Doanh nghiệp
: Tổng sản phẩm quốc nội (hay tổng sản phẩm nội
địa)
: Tổng sản phẩm trên địa bàn
: Hội đồng nhân dân
HTX
: Hợp tác xã
KDKTC
: Kinh doanh khai thác và quản lý chợ
KT -XH
về nguồn lực và tính tổ chức của thị trường, phải cung cấp dịch vụ công đảm bảo tiến
độ dự án đầu tư đề ra...những đòi hỏi đó, đôi khi thị trường tự do không cung cấp
đầy đủ nên Nhà nước phải vào cuộc bằng cách hoạch định và thực thi pháp luật
khuyến khích, ưu đãi và hỗ trợ đầu tư. Pháp luật ưu đãi và hỗ trợ đầu tư là một trong
1
những chính sách pháp luật cơ bản, quan trọng trong hệ thống pháp luật kinh tế của
Nhà nước ta.
Có thể nói, pháp luật về ưu đãi và hỗ trợ đầu tư của nước ta được Nhà nước
ban hành bằng một hệ thống pháp luật tương đối hoàn chỉnh về đầu tư, xây dựng, đất
đai, về thuế, về đào tạo, về thương mại, về cải cách hành chính. nhằm điều chỉnh các
quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực đầu tư, thương mại, trong đó có các ưu đãi và
hỗ trợ đầu tư đối với dự án đầu tư xây dựng và quản lý, kinh doanh khai thác chợ.
Mục đích của pháp luật ưu đãi và hỗ trợ đầu tư đối với dự án đầu tư phát triển chợ
trước hết là nhằm thu hút các nhà đầu tư bỏ vốn của họ đầu tư vào các lĩnh vực kinh
doanh khai thác và quản lý chợ. Việc hướng các quan hệ trong lĩnh vực đầu tư theo
một trật tự có định hướng, đảm bảo đầy đủ các quyền và lợi ích cho nhà đầu tư là nội
dung quan trọng của quản lý nhà nước trong lĩnh vực này. Nhà nước không chỉ quản
lý hoạt động đầu tư bằng các Nghị quyết, chủ trương, đường lối mà cần phải cụ thể
hoá các nghị quyết, chủ trương ấy thành pháp luật, đảm bảo một hành lang pháp lý
cho hoạt động đầu tư phát triển. Pháp luật về ưu đãi và hỗ trợ đầu tư có hợp lý và
hiệu quả thì mới đảm bảo được môi trường bình đẳng mà ở đó các nhà đầu tư có thể
phát huy hết năng lực của mình.
Trong những năm gần đây, với việc thực thi các biện pháp tạo điều kiện thuận
lợi về thủ tục hành chính, về sử dụng đất đai, về thuế, về đào tạo.. .Nhà nước ta đã
thu hút được số lượng vốn lớn đầu tư vào các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh; trong đó
có các dự án đầu tư phát triển chợ cũng dần được quan tâm đầu tư theo hình thức xã
hội hóa.đã góp phần làm cho nước ta giữ được tốc độ tăng trưởng kinh tế cao trong
chính sách ưu đãi và hỗ trợ đầu tư trên địa bàn tỉnh; cơ chế chính sách, điều kiện, nội
dung ưu đãi và hỗ trợ đầu tư đối với các lĩnh vực như: ưu đãi, hỗ trợ đầu tư chung
cho các dự án; ưu đãi, hỗ trợ đầu tư cho dự án khuyến khích xã hội hóa; hỗ trợ đầu tư
cho dự án đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn...nhằm khuyến khích các doanh nghiệp
đầu tư phát triển trên địa bàn tỉnh.
Liên quan đến đề tài nghiên cứu, đã có một số công trình xoay quanh vấn đề
này như:
- Vũ Quốc Tuấn (chủ biên): Phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam hiện nay,
NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội 2006.
- Nguyễn Văn Thường: Tăng trưởng kinh tế Việt Nam: Những rào cản cần
phải vượt qua. Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội 2006.
3
- Bùi Anh Tuấn: Giải pháp thúc đẩy hoạt động khuyến khích đầu tư trong
nước. Tạp chí nghiên cứu kinh tế, số 08/2003.
- Nguyễn Cảnh Hoan: Một số ý kiến về khuyến khích và ưu đãi đầu tư đối với
các doanh nghiệp trong nước. Tạp chí Thương mại, số 10.2003.
- PGS.TS Trần Thị Minh Châu (chủ nhiệm đề tài): Thực trạng và giải pháp
tiếp tục hoàn thiện chính sách khuyến khích đầu tư ở Việt Nam. Hà Nội 2007.
- Lê Thị Lệ Thu (2006), Pháp luật về ưu đãi đầu tư ở Việt Nam, Luận văn
thạc sĩ luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội.
- Nguyễn Thị Trang (2014), Pháp luật về ưu đãi đầu tư đối với các doanh
nghiệp trong Khu công nghiệp hiện nay - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Luận
văn thạc sĩ luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội.
- Tạ Quang Duy (2016), Các biện pháp hỗ trợ đầu tư theo Luật đầu tư 2014
từ thực tiễn ở tỉnh Quảng Nam, Luận văn thạc sĩ luật học, Học Viện Khoa học Xã
hội, Hà Nội.
Các công trình nghiên cứu trên từ các góc độ khác nhau đã phân tích, đánh
giá pháp luật về ưu đãi và hỗ trợ đầu tư nói chung. Tuy nhiên, mỗi công trình có sự
Phạm vi nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu về ưu đãi và hỗ
trợ đầu tư đối với dự án đầu tư phát triển chợ truyền thống từ thực tiễn tỉnh Quảng
Ngãi.
- Về không gian nghiên cứu: chợ được tổ chức tại một địa điểm theo quy
hoạch, đáp ứng các nhu cầu mua bán, trao đổi hàng hoá và nhu cầu tiêu dùng của
khu vực dân cư trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi.
- Thời gian nghiên cứu: việc tìm hiểu thực tiễn áp dụng, triển khai các quy
định của pháp luật về ưu đãi và hỗ trợ đầu tư đối với dự án đầu tư phát triển chợ từ
năm 2011 -2017 tại tỉnh Quảng Ngãi;
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận
Dựa trên lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và những
quan điểm chỉ đạo, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về ưu đãi và hỗ
trợ đầu tư, trong đó có các dự án đầu tư phát triển chợ, góp phần phát triển kinh tế xã hội, thực hiện thành công chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn
mới có kết cấu hạ tầng hiện đại, nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân. Theo
đó, tỉnh Quảng Ngãi đã có nhiều chính sách khuyến khích, ưu đãi, hỗ trợ đầu tư dưới
nhiều hình thức khác nhau cho mục tiêu ưu tiên trên.
5
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Sử dụng phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác
- Lênin, kết hợp các phương pháp hệ thống, thống kê, phân tích - tổng hợp, kết hợp
lôgic - lịch sử, khảo sát thực tế, tổng kết thực tiễn. Đồng thời, đề tài có kế thừa và sử
dụng có chọn lọc những đề xuất và các số liệu trong một số công trình nghiên cứu
của các tác giả khác.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1. Ý nghĩa lý luận
Chương 2: Thực trạng pháp luật về ưu đãi và hỗ trợ đầu tư đối với các dự án
đầu tư phát triển chợ tại tỉnh Quảng Ngãi;
Chương 3: Phương hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về ưu đãi và hỗ
trợ đầu tư đối với các dự án đầu tư phát triển chợ từ thực tiễn tỉnh Quảng Ngãi.
CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁP LUẬT
ƯU ĐÃI VÀ HỖ TRỢ ĐẦU TƯ ĐỐI VỚI CÁC DỰ ÁN
ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN CHỢ
1.1. Khái niệm về chợ, dự án đầu tư phát triển chợ, ưu đãi và hỗ trợ đầu
tư đối với các dự án đầu tư phát triển chợ, pháp luật ưu đãi và hỗ trợ đầu tư đối
với các dự án phát triển chợ
1.1.1. Khái niệm về chợ
Trên thực tế tuỳ theo lĩnh vực nghiên cứu mà có rất nhiều quan niệm khác
nhau về chợ:
Chợ là nơi tụ họp giữa người mua và người bán để trao đổi hàng hoá, thực
phẩm hàng ngày theo từng buổi hoặc từng phiên nhất định (chợ phiên)... [22, tr.3].
Chợ là loại hình kinh doanh thương mại được hình thành và phát triển mang
tính truyền thống, được tổ chức tại một địa điểm theo quy hoạch, đáp ứng nhu cầu
mua bán, trao đổi hàng hoá và nhu cầu tiêu dùng của khu vực dân cư [6, tr. 1].
Chợ là một bộ phận quan trọng trong tổng thể hạ tầng kinh tế - xã hội. Trong
quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội và quy hoạch phát triển thương mại của từng địa
phương phải bao gồm quy hoạch phát triển chợ. Quy hoạch phát triển chợ phải phù
hợp với quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội, quy hoạch thương mại, quy hoạch sử
7
dụng đất và các quy hoạch khác có liên quan. Quy hoạch phát triển chợ lập theo
nguyên tắc tại khoản 2 Điều 4 Nghị định số 02/2003/NĐ-CP ngày 14 tháng 01 năm
họp chợ hình thành do nhu cầu trao đổi hàng hoá, dịch vụ và tập quán của từng vùng,
từng địa phương quy định.
* Phân loại chợ trong mạng lưới chợ ở nước ta
Theo địa giới hành chính: Có các loại chợ tồn tại theo tiêu thức này là chợ đô
thị, chợ nông thôn, chợ miền núi, chợ biên giới [22].
- Chợ đô thị: Là các loại chợ được tổ chức, tụ họp ở thành phố, thị xã, thị
trấn. Do ở đây, đời sống và trình độ văn hoá có phần cao hơn ở nông thôn, cho nên
các chợ thành phố có tốc độ hiện đại hoá nhanh hơn, văn minh thương mại trong chợ
cũng được chú trọng, cơ sở vật chất ngày càng được tăng cường, bổ sung và hoàn
chỉnh. Phương tiện phục vụ mua bán, hệ thống phương tiện truyền thông và dịch vụ
ở các chợ này thường tốt hơn các chợ ở khu vực nông thôn.
- Chợ nông thôn: Là chợ thường được tổ chức tại trung tâm xã, trung tâm
cụm xã. Hình thức mua bán ở chợ đơn giản, dân dã (có nơi, như ở một số vùng núi,
người dân tộc thiểu số vẫn còn hoạt động trao đổi bằng hiện vật tại chợ), các quầy,
sạp có quy mô nhỏ lẻ, manh mún. Nhưng ở các chợ nông thôn thể hiện đậm đà bản
sắc truyền thống đặc trưng ở mỗi địa phương, của cácvùng lãnh thổ khác nhau.
- Chợ miền núi: Chợ thường được tổ chức tại xã thuộc các huyện miền núi.
- Chợ biên giới: là chợ nằm trong khu vực biên giới trên đất liền (gồm xã,
phường, thị trấn có một phần địa giới hành chính trùng hợp với biên giới quốc gia
trên đất liền) hoặc khu vực biên giới trên biển (tính từ biên giới quốc gia trên biển
vào hết địa giới hành chính xã, phường, thị trấn giáp biển và đảo, quần đảo).
Theo tính chất mua bán: Dựa theo tiêu thức này, ta có thể phân chia thành hai
loại là chợ bán buôn và bán lẻ.
- Chợ bán buôn: Là các chợ lớn, chợ trung tâm, chợ có vị trí là cửa ngõ của
thành phố, thị xã, thị trấn, có phạm vi hoạt động rộng, tập trung vói khối lượng hàng
hoá lớn. Hoạt động mua bán chủ yếu là thu gom và phân luồng hàng hoá đi các nơi.
Các chợ này thường là nơi cung cấp hàng hoá cho các trung tâm bán lẻ, các chợ bán
lẻ trong và ngoài khu vực, nhiều chợ còn là nơi thu gom hàng cho xuất khẩu. Các
chợ này có doanh số bán buôn chiếm tỷ trọng cao (trên 60%), đồng thời vẫn có bản
lý chợ và khoản 2, Điều 1 Nghị định số 114/2009/NĐ-CP của Chính phủ về sửa đổi,
bổ sung một số điều của Nghị định số 02/2003/NĐ-CP của Chính phủ về phát triển
và quản lý chợ thì chợ được chia thành 3 hạng: chợ hạng 1, chợ hạng 2 và chợ hạng
3.
- Chợ hạng 1 là chợ phải đảm bảo các tiêu chuẩn sau:
• Là chợ có trên 400 điểm kinh doanh, đượcđầu tư xây dựng kiên cố, hiện đại
theo quy hoạch;
10
• Được đặt ở các vị trí trung tâm kinh tế thương mại quan trọng của tỉnh,
thành phố hoặc là chợ đầu mối của ngành hàng, của khu vực kinh tế và được tổ chức
họp thường xuyên;
• Có mặt bằng phạm vi chợ phù hợp với quy mô hoạt động của chợ và tổ
chức đầy đủ các dịch vụ tại chợ: trông giữ xe, bốc xếp hàng hoá, kho bảo quản hàng
hoá, dịch vụ đo lường,dịch vụ kiểm tra chất lượng hàng hoá, vệ sinh an toàn thực
phẩm và các dịch vụ khác.
- Chợ hạng 2 là chợ thoả mãn các tiêu chuẩn sau:
• Là chợ có từ 200 điểm kinh doanh đến 400 điểm kinh doanh, được đầu tư
xây dựng kiên cố hoặc bán kiên cố theo quy hoạch;
• Được đặt ở trung tâm giao lưu kinh tế của khu vực và được tổ chức họp
thường xuyên hay không thường xuyên;
• Có mặt bằng phạm vi chợ phù hợp với quy mô hoạt động của chợ và tổ
chức các dịch vụ tối thiểu tại chợ: trông giữ xe, bốc xếp hàng hoá, kho bảo quản
hàng hoá, dịch vụ đo lường, vệ sinh công cộng.
- Chợ hạng 3 là chợ thoả mãn các tiêu chuẩn sau:
• Là chợ có dưới 200 điểm kinh doanh hoặc các chợ chưa được đầu tư xây
dựng kiên cố hoặc bán kiên cố;
• Chủ yếu phục vụ nhu cầu mua bán hàng hoá của nhân dân trong xã, phường
và địa bàn phụ cận.
thập niên 90. Đây là giai đoạn mà mạng lưới siêu thị và trung tâm thương mại chưa
hình thành và phát triển, chợ vẫn là nơi tiêu thụ hàng hóa chủ yếu của các doanh
nghiệp sản xuất cũng như là nơi mua sắm chủ yếu của người dân. Tuy nhiên, hiện
nay chợ vẫn giữ một vai trò rất quan trọng thể hiện trên các mặt sau:
Về mặt kinh tế: Chợ là một bộ phận quan trọng trong cấu thành mạng lưới
thương nghiệp xã hội :
• Đối với vùng nông thôn: Chợ vừa là nơi tiêu thụ nông sản hàng hoá, tập
trung thu gom các sản phẩm, hàng hoá phân tán, nhỏ lẻ để cung ứng cho cácthị
trường tiêu thụ lớn trong và ngoài nước,vừa là nơi cung ứng hàng công nghiệp tiêu
dùng cho nông dân và một số loại vật tư cho sản xuất nông nghiệp ở nông thôn.
• Ở khu vực thành thị: Chợ cũng là nơi cung cấp hàng hoá tiêu dùng, lương
thực thực phẩm chủ yếu cho các khu vực dân cư. Tuy nhiên, hiện nay đã xuất hiện
12
khá nhiều hình thức thương mại cạnh tranh trực tiếp với chợ, vì thế bên cạnh việc
mở rộng hay tăng thêm số lượng chợ chúng ta sẽ đầu tư nâng cấp chất lượng hoạt
động của chợ và đầu tư nâng cấp chất lượng dịch vụ của chợ.
Hoạt động của các chợ làm tăng ý thức về kinh tế hàng hoá của người dân, rõ
nét nhất là ở miền núi, vùng cao từ đó thúc đẩy sản xuất phát triển, góp phần tích cực
vào công cuộc xoá đói giảm nghèo ở nông thôn, miền núi. Trong các phiên chợ, các
buổi chợ là cơ hội của người dân giao lưu trao đổi, mua bán, lưu thông hàng hoá của
mình, cập nhật thông tin, ý thức xã hội, nó làm tăng khả năng phản ứng của người
dân với thị trường, với thời thế và tự mình có thể ý thức được công việc làm ăn buôn
bán của mình trong công cuộc đổi mới.
Chợ là một nguồn thu quan trọng của Ngân sách Nhà nước. Mặc dù Nhà nước
chưa có thể nâng cấp đủ hệ thống chợ ở nước ta, chưa đặc biệt quan tâm đầu tư phát
triển, nhưng các chợ trong cả nước đã đem lại cho Ngân sách Nhà nước khoảng
300.000 triệu đồng mỗi năm (chưa kể các nguồn thu từ thuế trực tiếp) [22, tr.5].
Sự hình thành chợ kéo theo sự hình thành và phát triển các ngành nghề sản
nơi tuyên truyền cảnh giác và đấu tranh với những phần tử xuyên tạc đường lối của
Đảng. Từ phong trào kế hoạch hoá gia đình đến kỹ thuật chăm sóc cây trồng vật
nuôi, vệ sinh phòng dịch... đều có thể được phổ biến một cách hiệu quả ở đây. Chính
vì lý do đó, chợ miền núi hay miền xuôi đều được bố trí ở trung tâm cụm, xã (nhất là
miền núi). Trong mỗi chợ đều giành vị trí trung tâm làm công tác tuyên truyền.
Trên thực tế, một số chợ truyền thống có từ rất lâu đời đang trở thành một địa
điểm thu hút khách du lịch (như Chợ Tình SaPa, chợ Cầu Mây ở Nam Định.). Nếu
được đầu tư thoả đáng cả về cở sở vật chất cũng như sự quan tâm quản lý của Nhà
nước, đây sẽ là các địa danh hấp dẫn đối với khách du lịch trong và ngoài nước và nó
sẽ là tiềm năng về kinh tế du lịch quốc gia.
Hiện nay, khi mạng lưới siêu thị, trung tâm thương mại, cửa hàng bán lẻ đã
hình thành và phát triển mạnh, mặc dù vẫn có tầm quan trọng trong sinh hoạt của
người dân nhưng không vì thế mà chợ mất đi vai trò của mình mà có thể nói chợ đã
hoàn thành vai trò lịch sử của mình và sự phát triển mạng lưới chợ chính là sự hỗ trợ
cho sự hình thành và phát triển của các loại hình kinh doanh mới, đó là siêu thị và
trung tâm thương mại.
1.1.2. Quan niệm về dự án đầu tư phát triển chợ
14
Trước hết ta phải hiểu thế nào là dự án đầu tư phát triển, theo Điều 4, Luật đấu
thầu năm 2013, dự án đầu tư phát triển được định nghĩa là các chương trình, dự án
đầu tư xây dựng mới; dự án cải tạo, nâng cấp, mở rộng các dự án đã được đầu tư xây
dựng; dự án mua sắm tài sản, kể cả thiết bị, máy móc không cần lắp đặt; dự án sửa
chữa, nâng cấp tài sản, thiết bị; dự án, đề án quy hoạch; dự án, đề tài nghiên cứu
khoa học, phát triển công nghệ, ứng dụng công nghệ, hỗ trợ kỹ thuật, điều tra cơ bản;
các chương trình, dự án, đề án đầu tư phát triển khác.
Từ định nghĩa trên ta có thể rút ra cách hiểu về dự án đầu tư phát triển chợ là
dự án đầu tư xây dựng mới chợ; dự án cải tạo, nâng cấp, mở rộng các dự án chợ đã
nước.
+ Chợ loại 1 theo quy hoạch ở vị trí trọng điểm về kinh tế thương mại của
tỉnh, thành phố, làm trung tâm giao lưu hàng hoá và phục vụ nhu cầu tiêu dùng ở các
thành phố, thị xã lớn.
+ Chủ đầu tư xây dựng chợ thuộc các thành phần kinh tế được hưởng các
chính sách ưu đãi đầu tư dành cho ngành nghề thuộc khoản 5 Mục III Danh mục A
(đầu tư xây dựng quản lý, kinh doanh khai thác chợ tại vùng nông thôn) [19, tr.58].
1.1.3. Quan niệm ưu đãi đầu tư và hỗ trợ đầu tư đối với dự án phát triển chợ
- Quan niệm về ưu đãi đầu tư
Hầu hết các quốc gia đều sử dụng các công cụ ưu đãi, khuyến khích đầu tư
dưới hình thức này hay hình thức khác vì các công cụ ưu đãi đầu tư đều có khả năng
sử dụng rất đa dạng để thu hút sự quan tâm của các nhà đầu tư trong và ngoài nước
đối với nền kinh tế, kích thích nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư vào những lĩnh vực, khu vực
nhất định. Mặt khác, thực hiện ưu đãi đầu tư cũng chính là hoạt động quản lý của nhà
nước trong lĩnh vực đầu tư. Vậy ưu đãi đầu tư là gì?
Theo định nghĩa của Diễn đàn của Liên hợp quốc về thương mại và phát triển
(UNCTAD) thì: Khuyến khích đầu tư hay còn gọi là ưu đãi đầu tư là các biện pháp
được Chính phủ sử dụng để thu hút đầu tư, hướng các dự án đầu tư vào các ngành
các khu vực cần thiết hoặc ảnh hưởng đến tính chất của đầu tư. Có thể hiểu ưu đãi
đầu tư là tập hợp của nhiều biện pháp xúc tác rất đa dạng và phong phú để thu hút
đầu tư. Nhìn chung, trên thế giới, ưu đãi đầu tư có thể quy về hai nhóm chính: chính
sách thuế khóa (tax policy) và chính sách khác không phải là thuế (non-tax policy)
[2].
16
Ở Việt Nam, hiện nay chưa có một khái niệm thống nhất và chính thức về “ưu
đãi đầu tư”. Trong các văn bản pháp luật của Việt Nam còn tồn tại song song nhiều
thuật ngữ khác nhau như: “Ưu đãi đầu tư”, “hỗ trợ đầu tư” được sử dụng trong Luật
phục vụ nhu cầu phát triển nhanh và bền vững kinh tế - xã hội của đất nước; ưu tiên
phát triển công nghệ cao, công nghệ tiên tiến; phát triển nguồn nhân lực công nghệ
đồng bộ với đầu tư đổi mới công nghệ; phát triển mạnh thị trường công nghệ;
khuyến khích và thúc đẩy hoạt động ươm tạo công nghệ, ươm tạo doanh nghiệp công
nghệ; đẩy mạnh việc chuyển giao kết quả nghiên cứu vào sản xuất, kinh doanh...
Đối với Luật Đầu tư năm 2014, Nhà nước có chính sách hỗ trợ đầu tư được
quy định từ Điều 19 đến Điều 21, mục 2 chương III: gồm có 08 hình thức, đồng thời
nhấn mạnh ở hỗ trợ phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội trong
và ngoài hàng rào dự án; hỗ trợ đào tạo, phát triển nguồn nhân lực, hỗ trợ tín dụng.
Dưới một góc độ khác, chúng ta có thể hiểu, ưu đãi và hỗ trợ đầu tư là các
cam kết của Nhà nước đối với nhà đầu tư: Các ưu đãi và hỗ trợ cụ thể đó có thể thay
đổi theo từng thời kỳ tùy theo tình hình kinh tế - chính trị - xã hội cụ thể nhưng cam
kết của Nhà nước là không thay đổi bởi nó được đảm bảo bằng một bản “hợp đồng”
được ký kết giữa Nhà nước và nhà đầu tư, đó chính là các điều khoản quy định về ưu
đãi tại Giấy chứng nhận đầu tư mà Nhà nước cấp cho nhà đầu tư.
Như vậy, có thể nêu quan niệm về Ưu đãi đầu tư và hỗ trợ đầu tư đối với các
dự án đầu tư phát triển chợ là những cam kết cụ thể của nhà nước dành cho các nhà
đầu tư khi đầu tư phát triển chợ tại địa bàn tiếp nhận đầu tư; đồng thời để được
hưởng ưu đãi đầu tư thì nhà đầu tư phải đáp ứng được một số điều kiện do pháp luật
đầu tư quy định và được hỗ trợ về một khoảng nhất định về kinh tế và các biện pháp
phi kinh tế theo hướng có lợi cho nhà đầu tư nhằm tạo động lực thúc đẩy nhà đầu tư
đầu tư vào các dự án phát triển chợ.
- Pháp luật về ưu đãi và hỗ trợ đầu tư đối với các dự án đầu tư phát triển chợ
Pháp luật về ưu đãi và hỗ trợ đầu tư là hệ thống những quy phạm pháp luật do
nhà nước ban hành, điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực đầu tư,
thương mại, trong đó có các ưu đãi và hỗ trợ đầu tư đối với dự án đầu tư xây dựng và
quản lý, kinh doanh chợ. Mục đích của pháp luật ưu đãi và hỗ trợ đầu tư trước hết là
nhằm thu hút các nhà đầu tư bỏ vốn của họ đầu tư vào các lĩnh vực kinh doanh khai
thác và quản lý chợ. Việc hướng các quan hệ trong lĩnh vực đầu tư theo một trật tự
có định hướng, đảm bảo đầy đủ các quyền và lợi ích cho nhà đầu tư là nội dung quan
Thứ nhất, Pháp luật đầu tư là cơ sở để thiết lập, củng cố và tăng cường quyền
lực nhà nước về đầu tư, thu hút đầu tư. Thực tiễn cho thấy, để nhà nước hoạt động có
hiệu quả đòi hỏi phải xác định đúng chức năng, thẩm quyền, trách nhiệm của mỗi
loại cơ quan; mỗi cơ quan phải xác lập mối quan hệ đúng đắn giữa chúng, phải có
những phương pháp tổ chức và hoạt động phù hợp để tạo ra một cơ chế đồng bộ,
19