HỢP ĐỒNG DỊCH vụ GIÁ TRỊ GIA TĂNG THEO PHÁP LUẬT VIỄN THÔNG VIỆT NAM từ THỰC TIỄN VINAPHONE - Pdf 49

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

PHẠM HIÉU TRUNG

HỢP ĐỒNG DỊCH VỤ GIÁ TRỊ GIA TĂNG THEO
PHÁP LUẬT VIỄN THÔNG VIỆT NAM TỪ
THỰC TIỄN VINAPHONE

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI, Năm 2018


VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT
NAM HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

PHẠM HIÉU TRUNG

HỢP ĐỒNG DỊCH VỤ GIÁ TRỊ GIA TĂNG THEO
PHÁP LUẬT VIỄN THÔNG VIỆT NAM TỪ
THỰC TIỄN VINAPHONE
Chuyên ngành : Luật kinh tế
Mã số

: 838.01.07

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS. PHAN THỊ THANH THỦY



MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm trở lại đây, khi mà chất lượng các dịch vụ viễn thông cơ bản
được các doanh nghiệp viễn thông cung cấp đến người tiêu dùng ngày càng tương
đồng về chất lượng cũng như tính năng nhờ sự phổ cập và phát triển của những tiến
bộ của khoa học công nghệ, từ đó cũng đã kéo theo sự bão hòa về mức giá cũng như
doanh thu từ cước của các dịch vụ viễn thông cơ bản. Thực tiễn đó thúc đẩy các
doanh nghiệp viễn thông phải thay đổi chiến lược kinh doanh của mình. Chiến lược
phát triển kinh doanh hiện nay của các doanh nghiệp viễn thông là thay vì đầu tư và
quảng bá các dịch vụ cơ bản hiện có với chất lượng đang ngày càng tương đồng trên
thị trường thì chú trọng phát triển các DVGTGT trên nền các hạ tầng viễn thông sẵn
có từ cung cấp các dịch vụ viễn thông cơ bản đó, nhằm tạo khả năng thu hút thị phần
khách hàng mới đến với doanh nghiệp từ sự đa dạng và chất lượng của các
DVGTGT đặc trưng của mỗi doanh nghiệp.
Tuy nhiên, trong khi ở Pháp lệnh Bưu chính Viễn thông năm 2002 có nêu định
nghĩa cụ thể của DVGTGT thì đến luật Viễn thông 2009 định nghĩa này không còn
được nhắc tới và DVGTGT chỉ được quy định cách thức phân loại dịch vụ. Với tính
chất và định kiến là các dịch vụ phụ trợ, có thể thấy các hợp đồng DVGTGT trong
lĩnh vực viễn thông hiện nay chưa được xem xét và nghiên cứu đúng mức cả dưới
góc độ kỹ thuật và pháp lý, trong khi các dịch vụ đó đang ngày càng trở nên quan
trọng và thiết yếu đối với người sử dụng, thậm chí độc lập về giá trị đối với các dịch
vụ cơ bản của viễn thông.
Ngoài ra, thực tiễn áp dụng pháp luật Dân sự, pháp luật Viễn thông, CNTT và
các văn bản hướng dẫn thi hành vào điều chỉnh các quan hệ hợp đồng DVGTGT đôi
khi còn lúng túng, một số quy định tỏ ra không còn phù hợp với hoàn cảnh đã thay
đổi, một số quy định còn thiếu cần đươc bổ sung. Do đó, việc nghiên cứu, làm sáng
tỏ các quy định của pháp luật hiện hành đối với hợp đồng

6

7


Mục đích nghiên cứu của luận văn là: Trên cơ sở làm rõ những vấn đề lý luận
cũng như thực tiễn áp dụng và ký kết Hợp đồng DVGTGT trong lĩnh vực viễn thông
ở Việt Nam, qua đó đề xuất các giải pháp và kiến nghị bổ sung, sửa đổi một số quy
định của pháp luật viễn thông về ký kết và thực hiện hợp đồng dịch vụ giá trị giá
tăng trong lĩnh vực ở Việt Nam hiện nay.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Với mục đích trên, nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn là:
- Làm rõ các vấn đề lý luận cơ bản về DVGTGT trong lĩnh vực viễn thông.
- Nghiên cứu, phân tích và đánh giá thực tiễn của hoạt động ký kết và thực
hiện hợp đồng DVGTGT nhằm làm rõ nguyên nhân và hạn chế từ các quy định của
pháp luật về loại hình hợp đồng này.
- Đưa ra kiến nghị hoàn thiện và nâng cao hiệu quả ký kết và thực hiện hợp
đồng DVGTGT trong lĩnh vực viễn thông.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các quy định của pháp luật về hợp đồng
dịch vụ viễn thông giá trị gia tăng là các hợp đồng thương mại, với chủ thể ký kết là
VNPT Vinaphone với các đối tác là thương nhân. Luận văn không đề cập đến các
hợp đồng dịch vụ viễn thông giá trị gia tăng ký kết giữa dịch vụ viễn thông giá trị gia
tăng với người tiêu dùng.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Giới hạn trong các quy định của pháp luật hiện hành điều chỉnh về vấn đề này
cụ thể là BLDS 2015, Luật thương mại 2005, Luật viễn thông 2009, Luật công nghệ
thông tin 2006, Luật an toàn thông tin mạng 2015 và các văn bản hướng dẫn thi hành
và các văn bản pháp luật khác có liên quan;
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận

Chương 1: Một số vấn đề lý luận về hợp đồng dịch vụ giá trị gia tăng trong
lĩnh vực viễn thông
Chương 2: Thực trạng pháp luật Việt Nam về hợp đồng dịch vụ giá trị gia tăng
trong lĩnh vực viễn thông

9


Chương 3: Thực tiễn áp dụng pháp luật và một số kiến nghị, giải pháp nhằm
nâng cao hiệu quả giao kết và thực hiện hợp đồng dịch vụ GTGT tại VNPT
Vinaphone

CHƯƠNG 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HỢP ĐỒNG DỊCH VỤ GIÁ TRỊ
GIA TĂNG TRONG LĨNH VỰC VIỄN THÔNG
1.1. Khái quát về hợp đồng dịch vụ giá trị gia tăng trong lĩnh vực viễn
thông
1.1.1.

Dịch vụ giá trị gia tăng trong lĩnh vực viễn thông

1.1.1.1. Dịch vụ giá trị gia tăng
Khái niệm:
Dịch vụ giá trị giá tăng (Value Added Services - VAS) là thuật ngữ được sử
dụng để chỉ các dịch vụ phụ trợ cho một dịch vụ cơ bản [37]. Thuật ngữ này được sử
dụng rộng rãi trong một số ngành công nghiệp, trong đó đáng chú ý và phổ biến nhất
là viễn thông. DVGTGT thường được giới thiệu đến khách hàng sau khi khách hàng
đã mua các dịch vụ cơ bản. Dịch vụ cơ bản đóng vai trò trung tâm và các DVGTGT
thường là những dịch vụ phụ thuộc vào nó. Tên gọi giá trị gia tăng chính là xuất phát
từ tính chất gia tăng các giá trị cho các dịch vụ cơ bản mà nó phụ trợ.

sung.
Mặc dù cước phí của các DVGTGT thường nhỏ hơn so với cước phí của các
dịch vụ cơ bản nhưng phần lớn trong số chúng vẫn độc lập về lợi nhuận với các dịch
vụ cơ bản. Người sử dụng phải trả một khoản phí cho mỗi lần sử dụng hoặc thanh
toán theo hình thức thuê bao hàng tháng để có thể sử dụng dịch vụ này.
- Dịch vụ giá trị gia tăng là những dịch vụ phụ hoặc bản thân đôi khi cũng có
thể mang những giá trị độc lập, được hình thành nhằm mang lại giá trị phụ thêm cho
khách hàng. DVGTGT có thể nằm trong hệ thống của dịch vụ cơ bản và tăng thêm
lợi ích cốt lõi, hoặc có thể là những dịch vụ độc lập mang lại lợi ích phụ thêm. Và vì
vậy, một vài DVGTGT có thể được cung cấp đến khách hàng mà không cần tới các
dịch vụ cơ bản.
- Dịch vụ giá trị gia tăng tạo ra khả năng cá nhân hóa các nhu cầu của khách

11


hàng
Các dịch vụ cơ bản thông thường khi được cung cấp đến khách hàng đã được
định hình các tính năng và tùy chọn mặc định cơ bản. Khác với dịch vụ cơ bản,
DVGTGT mang đến cho khách hàng những nhiều sự lựa chọn cho cùng một lợi ích,
cùng một tính năng dịch vụ, hướng tới phục vụ tốt nhất trải nghiệm của người dùng.
1.1.12. Dịch vụ giá trị gia tăng trong lĩnh vực viễn thông
Khái niệm
Viễn thông (Telecommunication - trong các ngôn ngữ châu Âu xuất phát từ tele
của tiếng Hy Lạp có nghĩa là xa và communication của tiếng La tinh có nghĩa là
thông báo) miêu tả một cách tổng quát tất cả các hình thức trao đổi thông tin qua một
khoảng cách nhất định mà không phải chuyên chở những thông tin này đi một cách
cụ thể (thí dụ như thư) [25]. Theo nghĩa hẹp hơn, ngày nay viễn thông được hiểu
như là cách thức trao đổi thông tin, dữ liệu thông qua kỹ thuật điện, điện tử và các
công nghệ hiện đại khác. Các dịch vụ viễn thông đầu tiên theo nghĩa này là điện báo

nó giúp các nhà khai thác nâng cao doanh thu bình quân trên một thuê bao (ARPU).
Giá trị gia tăng là các phần giá trị được bổ sung tới sản phẩm bởi các công ty
viễn thông trước khi cung cấp tới khách hàng.
Đối với dịch vụ di động, ngoài các dịch vụ cơ bản gọi điện, các dịch vụ hay
tính năng thêm như GPRS, MMS, SMS, nhạc chờ, Game,... Hay các dịch vụ nội
dung được coi là các dịch vụ GTGT.
Đối với dịch vụ cố đinh, các dịch vụ GTGT bao gồm các dịch vụ nội dung qua
thoại, các tính năng chuyển cuộc gọi, hộp thư thoại, dịch vụ hiển thị số gọi đến, dịch
vụ chuyển cuộc gọi tạm thời, dịch vụ điện thoại hội nghị ba bên, dịch vụ nhắn tin ...
Đối với dịch vụ internet, các DVGTGT bao gồm các dịch vụ như IPTV, mua
bán trực tuyến qua mạng, địa chỉ email ảo, hosting,.
Đặc điểm
Dịch vụ viễn thông giá trị gia tăng mang các đặc điểm cơ bản sau :
Đặc điểm thứ nhất: Dịch vụ viễn thông giá trị gia tăng rất khác với các sản
phẩm của ngành sản xuất công nghiệp, nó không phải là một sản phẩm hay vật chất
chế tạo mới, không phải là hàng hoá cụ thể, mà là kết quả có ích cuối cùng của quá
trình truyền đưa tin tức dưới dạng dịch vụ.

13


Đặc điểm thứ hai: Đó là sự tách rời của quá trình tiêu dùng và sản xuất dịch vụ
viễn thông. Hiệu quả có ích của quá trình truyền đưa tin tức được tiêu dùng ngay
trong quá trình sản xuất. Ví dụ: trong đàm thoại điện thoại bắt đầu đăng ký đàm thoại
là bắt đầu quá trình sản xuất, sau khi đàm thoại xong tức là sau khi tiêu dùng hiệu
quả có ích của quá trình sản xuất thì quá trình sản xuất cũng kết thúc. Trong viễn
thông, kết quả cuối cùng của hoạt động sản xuất không thể cất giữ được ở trong kho,
không thể lưu trữ , không thể thu hồi sản phẩm cho vào quay vòng hay tái sản xuất.
Từ đặc điểm này, về chất lượng dịch vụ viễn thông phải có yêu cầu tiêu chuẩn cao
nếu không sẽ ảnh hưởng trực tiếp ngay đến tiêu dùng. Hơn nữa, để sử dụng dịch vụ

- Bằng chứng hữu hình của dịch vụ: đó là thương hiệu dịch vụ, sự hiện đại của
trang thiết bị, công nghệ khai thác, sự khang trang của các điểm giao dịch với khách
hàng, sự lành nghề của đội ngũ nhân viên...
- Độ tin cậy của dịch vụ: Đối với điện thoại là tỷ lệ cuộc gọi thành công cao, ít
bị nghẽn mạch. Đối với dịch vụ Internet là truy cập, kết nối mạng nhanh.
- Thái độ thực sự ân cần của nhân viên giao dịch trong việc đáp ứng nhu cầu
của khách hàng.
- Trình độ hiểu biết của nhân viên về chính sách và thủ tục cung ứng dịch vụ.
- Mức độ tin cậy của thông tin được cung cấp về dịch vụ.
- Chất lượng của hoạt động chăm sóc khách hàng.
- Kỹ năng giao tiếp và mức độ lịch thiệp của nhân viên giao dịch.
Phân loại:
Dựa trên nền tảng kỹ thuật viễn thông, DVGTGT có thể phân loại thành 3
nhóm:
- DVGTGT trên nền tảng viễn thông di động: bao gồm các DVGTGT trên nền
tảng dịch vụ điện thoại di động như dịch vụ SMS, GPRS, MMS, CRBT (nhạc
chuông chờ),.
- DVGTGT trên Internet bao gồm các DVGTGT trên nền tảng Internet, hạ
tầng mạng internet như dịch vụ hosting, thuê server, thiết kế website,..
- DVGTGT trên điện thoại cố định bao gồm các dịch vụ giá trị ga tăng trên
mạng điện thoại cố định như dịch vụ hiển thị số gọi đến, dịch vụ Fax, dịch vụ qua
các đầu số như 1900, 1800.

15


Vai trò và xu hướng của dịch vụ giá trị gia tăng trong lĩnh vực viễn Thông:
+ Vai trò của dịch vụ viễn thông giá trị gia tăng:
- Đối với khách hàng:
Các dịch vụ giá trị gia tăng không ngừng tạo thêm nhiều tính năng thỏa mãn

nghiệp viễn thông.
Dịch vụ giá trị gia tăng nâng cao doanh thu cho nhà cung cấp. Trong tổng
doanh thu từ khách hàng của nhà cung cấp, tỷ lệ doanh thu đến từ DVGTGT ngày
càng quan trọng. Khi mức độ cạnh tranh trên thị trường ngày càng quyết liệt hoặc thị
trường đạt đến mức bão hòa, doanh thu từ các dịch vụ cơ bản ngày càng giảm xuống,
phần gia tăng doanh thu trong các DVGTGT chính là phần bù đắp tốt nhất cho các
nhà mạng cho phần doanh thu giảm xuống đó. Đồng thời đảm bảo một mức độ phát
triển bền vững cho các doanh nghiệp viễn thông kể cả trong thời kỳ khủng hoảng.
Dịch vụ giá trị gia tăng góp phần nâng cao hình ảnh của doanh nghiệp: Ngoài
mục tiêu doanh thu, việc thỏa mãn nhu cầu của khách hàng được coi là mục tiêu
quan trọng mà tất cả các nhà khai thác đều hướng tới. Trên thực tế, có rất nhiều dịch
vụ giá trị gia tăng được cung cấp dưới dạng miễn phí với mục tiêu nâng cao sự hài
lòng của khách hàng đối với nhà khai thác ví dụ tại VNPT Vinaphone tặng kèm user
email vnn.vn khi khách hàng đăng ký thuê bao interntet ... Đồng thời xây dựng một
hình ảnh tốt về doanh nghiệp trong mắt người tiêu dùng khi luôn đảm bảo việc đáp
ứng các yêu cầu tốt nhất từ phía khách hàng.
Dịch vụ giá trị gia tăng nâng cao sự khác biệt cho sản phẩm dịch vụ cơ bản:
Mức độ cạnh tranh trên thị trường viễn thông đang ngày càng quyết liệt, các nhà khai
thác đều chú trọng đáp ứng tốt hơn nhu cầu của khách hàng dựa vào chính sách giá,
sản phẩm, vùng phủ sóng,.. Đến một thời điểm nào đó, sự khác biệt giữa các nhà
cung cấp về các yếu tố căn bản trên sẽ hầu như không còn đáng kể nữa. Để giúp
khách hàng phân biệt và nhận diện sản phẩm dịch vụ của mình so với các đối thủ
khác, một trong những biện pháp hữu hiệu nhất là phát triển các tính năng,
DVGTGT. Nó giúp các khách hàng lấy đó làm cơ sở căn cứ để lựa chọn nhà cung
cấp dịch vụ để sử dụng.
+ Xu hướng tất yếu phát triển dịch vụ giá trị giá tăng:
Hiện nay, bên cạnh các dịch vụ cơ bản - là các dịch vụ thỏa mãn các nhu cầu
chính của khách hàng, các dịch vụ giá trị gia tăng VAS đang nở rộ ở rất nhiều nơi

17

Từ khái niệm hợp đồng dân sự và khái niệm cung ứng dịch vụ, hợp đồng cung
ứng dịch vụ được hiểu là thỏa thuận giữa các bên, theo đó một bên (gọi là bên cung
ứng dịch vụ) có nghĩa vụ thực hiện dịch vụ cho bên khác và nhận thanh toán. Bên sử

18


dụng dịch vụ (gọi là khách hàng) có nghĩa vụ thanh toán cho bên cung ứng dịch vụ
và sử dụng dịch vụ theo thỏa thuận.
Đứng từ góc độ thương mại, cung ứng dịch vụ là hoạt động thương mại nên
hợp đồng viễn thông giá trị gia tăng cũng có thể xem là một loại hợp đồng thương
mại dịch vụ, là hợp đồng mua bán trao đổi dịch vụ nhằm mục đích sinh lợi trong đó
ít nhất một bên ký kết là các thương nhân.
Từ những nhận định và phân tích trên, hợp đồng dịch vụ giá trị gia tăng trong
lĩnh vực viễn thông (Hợp đồng viễn thông giá trị gia tăng) có thể được hiểu là sự
thỏa thuận giữa các bên, căn cứ vào qui định của pháp luật, nhằm xác lập, thay đổi
hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ đối với nhau trong việc mua bán, cung cấp, trao
đổi dịch vụ giá trị gia tăng trong lĩnh vực viễn thông nhằm mục đích sinh lợi.
1.1.22. Đặc điểm hợp đồng dịch vụ giá trị gia tăng trong lĩnh vực viễn thông
Chủ thể của hợp đồng: bao gồm chủ thể cung cấp dịch vụ và chủ thể sử dụng
dịch vụ.
i) Chủ thể cung cấp dịch vụ:
Khác với các dịch vụ thông thường, kinh doanh dịch vụ viễn thông (bao gồm
cả kinh doanh dịch vụ cơ bản và DVGTGT) là một ngành, nghề đầu tư kinh doanh
có điều kiện, đòi hỏi chủ thể đầu tư kinh doanh đáp ứng những điều kiện kinh doanh
cần thiết.
Chủ thể cung cấp các dịch vụ viễn thông nói chung và dịch vụ viễn thông giá
trị gia tăng là các doanh nghiệp viễn thông. Doanh nghiệp viễn thông là doanh
nghiệp được thành lập theo quy định của pháp luật và được cấp giấy phép kinh
doanh dịch vụ viễn thông.

thông nên tính cạnh tranh giữa các doanh nghiệp này diễn ra gay gắt hơn rất nhiều.
ii) Chủ thể sử dụng dịch vụ:
Không chỉ đối với chủ thể cung cấp dịch vụ, khách hàng (chủ thể sử dụng dịch
vụ) trong một vài trường hợp cũng cần áp dụng và tuân theo một số điều kiện cụ thể:
Một số dịch vụ viễn thông giá trị gia tăng chỉ được cung cấp đến một số đối tượng
khách hàng đáp ứng các điều kiện cụ thể theo quy định của pháp luật.
Đối tượng của hợp đồng:
Với các hợp đồng dịch vụ thông thường, đối tượng của hợp đồng là dịch vụ, là
hàng hóa vô hình. Dịch vụ - sản phẩm vô hình không tồn tại dưới dạng vật chất vì

20


vậy, khi ký kết hợp đồng dịch vụ, các bên không cần quan tâm đến nơi chứa dịch vụ,
không quan tâm tới việc cất giữ, tồn kho hay dự trữ dịch vụ. Điều quan trọng nhất là
các bên mua bán dịch vụ phải mô tả rất kỹ về dịch vụ, đặt ra những yêu cầu cụ thể
mà theo đó, khách hàng - người mua dịch vụ sẽ hài lòng về dịch vụ mà mình muốn
có, còn người bán - là người cung cấp dịch vụ thì không chỉ phải cố gắng đáp ứng và
làm cho khách hàng hài lòng về dịch vụ do mình cung cấp mà còn phải bảo đảm có
các điều kiện cần thiết liên quan đến việc cung cấp dịch vụ, ví dụ như ... Nói cách
khác, khi hàng hóa vô hình được đem ra mua và bán thì yếu tố sự hài lòng của khách
hàng là tiêu chí quan trọng để xem xét về chất lượng của dịch vụ. Điều này đòi hỏi
các bên phải có sự am hiểu về tính chất của dịch vụ đó.
Riêng đối với hợp đồng DVGTGT trong lĩnh vực viễn thông, vì tính chất đặc
biệt của dịch vụ viễn thông là truyền dẫn thông tin, DVGTGT trong lĩnh vực viễn
thông còn đòi hỏi một số yêu cầu nhất định mang tính chất kỹ thuật: tính chính xác
trong truyền dẫn cả về nội dung và thời gian; bảo mật về thông tin; mức độ bảo đảm
trong quản lý và lưu trữ dữ liệu khách hàng.
Một đặc điểm rất quan trọng của dịch vụ giá trị gia tăng trong lĩnh vực viễn
thông là việc cung cấp có thể được thực hiện thông qua môi trường thương mại điện

nhau, trong nhiều lĩnh vực khác nhau và phong phú, đa dạng nhất vẫn là trong lĩnh
vực dân sự - thương mại tiêu dùng. Thông thường, hợp đồng sẽ được hình thành trên
cơ sở kết quả của các cuộc thương lượng, thống nhất giữa các bên tham gia giao kết.
Tuy nhiên, trong guồng quay của sự phát triển, các chủ thể đều muốn rút ngắn thời
gian soạn thảo hợp đồng để thúc đẩy quá trình giao dịch. Chính vì vậy, các hợp đồng
theo mẫu ra đời và ngày càng được sử dụng nhiều, phổ biến. Những hợp đồng này
được gọi là hợp đồng theo mẫu hay trong pháp luật một số nước còn có tên là hợp
đồng gia nhập hoặc hợp đồng hàng loạt.
Trên thế giới, Hợp đồng theo mẫu đã được sử dụng rất nhiều và phổ biến. Ở
Việt Nam, loại hợp đồng này cũng đã được áp dụng ngày một nhiều trong thực tiễn
hoạt động giao dịch hàng hóa, dịch vụ giữa doanh nghiệp và người tiêu dùng. Viễn
thông là một trong những ngành nghề áp dụng phổ biến hợp đồng theo mẫu bởi tính
phổ cập của loại hình dịch vụ và tập khách hàng có nhu cầu sử dụng dịch vụ là rất
lớn, để giảm bớt thời gian cho mỗi giao dịch, các doanh nghiệp viễn thông cung cấp

22


dịch vụ cho một số lượng lớn khách hàng thường sử dụng các loại hợp đồng được
soạn sẵn thành từng mẫu nhất định và áp dụng hàng loạt.
1.2. Phân loại hợp đồng dịch vụ giá trị gia tăng trong lĩnh vực viễn thông
Hợp đồng là một trong những chế định quan trọng của pháp luật dân sự theo nghĩa
rộng và là phương tiện pháp lý cơ bản để thỏa mãn quyền, lợi ích hợp pháp của các
chủ thể trong xã hội. Hợp đồng tồn tại ở khắp nơi, trong mọi lĩnh vực của cuộc sống,
xã hội và nền kinh tế.
Trên thế giới, các nhà làm luật hầu như không có sự phân biệt các loại hợp
đồng dân sự hay thương mại. Hợp đồng được sử dụng theo nghĩa chung với những
nguyên tắc, đặc điểm chung. Tuy nhiên, trong từng lĩnh vực, các quốc gia sẽ có
những quy định mang tính đặc thù về nội dung và hình thức của hợp đồng cho phù
hợp với yêu cầu của nhà nước và xã hội.

trưởng, phổ biến thương hiệu của các chủ thể kinh doanh khi họ tham gia hoạt động
thương mại.
Khi ký kết các hợp đồng thương mại, các bên trong hợp đồng sẽ thỏa thuận với
nhau dựa trên căn cứ là các quy định của pháp luật, nhằm quy định quyền và nghĩa
vụ của các bên trong việc thực hiện hoạt động thương mại - các hoạt động có tính
chất sinh lời.
Với tính chất thương mại của hợp đồng thương mại, chủ thể ký kết và thực
hiện các hợp đồng này thường là các thương nhân. Từ đây, có thể hiểu hợp đồng
thương mại là sự thỏa thuận giữa các thương nhân để thực hiện các hoạt động
thương mại nhằm mục đích sinh lợi.
Như vậy, khi bên thuê dịch vụ sử dụng dịch vụ với mục đích sinh lợi, các loại
hình DVGTGT trong lĩnh lực viễn thông sẽ là các hoạt động thương mại. Và các
thương nhân (bên thuê dịch vụ) khi sử dụng dịch vụ của các doanh nghiệp viễn
thông (bên cung ứng dịch vụ) nhằm mục đích sinh lợi (tăng lợi ích kinh tế, tăng
trưởng kinh tế, phổ biến thương hiệu...) thì các hợp đồng DVGTGT được ký kết sẽ
được nhìn nhận là các hợp đồng thương mại. Cung ứng DVGTGT trong lĩnh vực
viễn thông là một hoạt động thương mại do đó nó sẽ chịu sự điều chỉnh của Luật
thương mại và pháp luật có liên quan.
1.2.2.

Hợp đồng hỗn hợp thương mại — dân sự

Hợp đồng dịch vụ trong dân sự nói chung là sự thỏa thuận giữa các bên, theo
đó bên cung ứng dịch vụ thực hiện công việc cho bên thuê dịch vụ, còn bên thuê
dịch vụ phải trả tiền dịch vụ cho bên cung ứng dịch vụ.

24


Hợp đồng DVGTGT trong lĩnh vực viễn thông dưới góc nhìn hợp đồng dân sự

tắc bình đẳng, tự nguyện, tự thoả thuận và tự chịu trách nhiệm.

25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status