Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng trong các vụ án tai nạn giao thông đường bộ từ thực tiễn tỉnh quảng nam - Pdf 49

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

LƯƠNG THỊ SINH

BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI NGOÀI HỢP ĐỒNG
TRONG CÁC VỤ TAI NẠN GIAO THÔNG
ĐƯỜNG BỘ TỪ THỰC TIỄN TỈNH QUẢNG NAM

LUẬN VẪN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI, Năm 2018


VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

LƯƠNG THỊ SINH

BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI NGOÀI HỢP ĐỒNG
TRONG CÁC VỤ TAI NẠN GIAO THÔNG
ĐƯỜNG BỘ TỪ THỰC TIỄN TỈNH QUẢNG NAM

Chuyên ngành: Luật Kinh tế
Mã số: 838.01.07

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS. Lê Đình Nghị


Tác giả luận văn

LƯƠNG THỊ SINH


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU.................................................................................................................. 1
Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT
HẠI TRONG CÁC VỤ TAI NẠN GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ. 6
1.1.
Khái niệm trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong các vụ tai nạn
giao
thông đường bộ.......................................................................................................6
1.2.
Nguyên tắc bồi thường thiệt hại trong các vụ tai nạn giao thông
đường bộ
.............................................................................................................................. 15
1.3.
Chủ thể của bồi thường thiệt hại trong các vụ tai nạn giao thông
đường bộ
............................................................................................................................21
1.4....................................................................................................................Các
trường hợp miễn trừ trách nhiệm bồi thường........................................24
Chương 2. THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT BỒI THƯỜNG
THIỆT HẠI TRONG CÁC VỤ TAI NẠN GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ
..............................................................................................................................31
2.1.
Khái quát tình hình tại nạn giao thông đường bộ trên địa bàn tỉnh
Quảng
Nam....................................................................................................................... 31

giám định
trong vụ tai nạn giao thông đường bộ................................................................66
KẾT LUẬN..............................................................................................................69
TÀI LIỆU THAM KHẢO.........................................................................................71
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1. Tình hình tai nạn giao thông đường trên địa bàn tỉnh Quảng Nam qua các
năm........................................................................................................................ 31


MỞ ĐẦU


_



>

. Tính câp thiêt của việc nghiên cứu đê tài
Đã từ lâu, tai nạn giao thông luôn là vấn đề nhức nhối của toàn xã hội. Theo
báo cáo của Ủy ban An toàn giao thông Quốc gia, năm 2017, toàn quốc xảy ra 20.080
vụ tai nạn giao thông, làm chết 8.279 người, bị thương 17.040 người. (1). Đáng báo
động là các vụ tai nạn xảy ra ngày càng nghiêm trọng, thể hiện qua số người chết tăng
mạnh. Nguyên nhân gây ra tai nạn giao thông ở nước ta xuất phát từ nhiều yếu tố. Đó
là sự hiểu biết còn hạn chế về an toàn giao thông, về các hành vi lái xe an toàn, môi
trường giao thông không an toàn và cơ sở hạ tầng giao thông nghèo nàn, việc chấp
hành luật lệ giao thông còn kém. Đồng thời, việc người dân sử đã sử dụng rượu bia,
nồng độ cồn trong máu quá mức cho phép cũng là nguyên nhân gây ra những vụ tai
nạn không đáng có. Tai nạn giao thông và những thiệt hại do tai nạn gây ra đang là nỗi
lo của toàn xã hội. Đó là thiệt hại về sinh mạng, thiệt hại về nhân lực, trí tuệ, gây tổn

giao thông đường bộ”, luận án tiến sĩ luận học; Trần Thị Thu Hiền, "Những nguyên
tắc bồi thường thiệt hại trong luật dân sự Việt Nam", luận án tiến sĩ luật học; Trần Văn
Tâm, “Trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong các vụ tai nạn giao thông đường bộ thực tiễn taị tỉnh Quảng Ngãi ”, luận văn thạc sĩ luật học... Nhìn chung, các công trình
nghiên cứu đều đã nêu và phân tích những vấn đề lý luận chung về trách nhiệm bồi
thường thiệt hại ngoài hợp đồng; đưa ra các nội dung cơ bản trong việc xác định trách
nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, các quy định của pháp luật dân sự trong
việc bồi thường thiệt hại do xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm và
uy tín, cơ sở để xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại, các hình thức và mức bồi
thường, những trường hợp miễn hoặc giảm trách nhiệm bồi thường trong từng trường
hợp cụ thể.
Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu trên thực hiện trên cơ sở nghiên cứu các
quy định của Bộ luật dân sự 2005. Hiện nay Bộ luật dân sự 2005 đã được thay thế

2


bằng Bộ luật dân sự 2015, trong đó có nhiều sửa đổi, bổ sung liên quan đến chế định
trách nhiệm chế định bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng. Vì vậy, việc nghiên cứu chế
định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoại hợp đồng trong Bộ luật dân sự 2015
nói chung và trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong vụ tai nạn giao thông nói riêng là
cần thiết, có ý nghĩa thực tiễn.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận văn là làm sáng tỏ những vấn đề lý luận chung
và thực tiễn áp dụng trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong các vụ án tai nạn giao
thông đường bộ, gồm: khái niệm trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng, khái niệm
TNGT đường bộ và trách nhiệm BTTH trong các vụ TNGTĐB, các nguyên tắc
BTTH, lịch sử hình thành và phát triển các quy định pháp luật BTTH trong các vụ
TNGT đường bộ. Từ đó, đưa ra những giải pháp hoàn thiện pháp luật về vấn đề này,
cũng như đưa ra được những kiến nghị nhằm góp phần vào thực tiễn giải quyết việc

Phương pháp luận của luận văn là quan điểm chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng
Hồ Chí Minh, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước ta về Nhà nước và Pháp
luật, về phát triển nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng
xã hội chủ nghĩa; những thành tựu của các khoa học: triết học, lôgíc học, luật dân sự,
tâm lý học... Luận văn được trình bày trên cơ sở nghiên cứu các văn bản quy phạm
pháp luật dân sự, các văn bản hướng dẫn áp dụng pháp luật dân sự, các bản án, quyết
định của Tò
a án nhân dân các cấp, các tài liệu của Phòng Cảnh sát giao thông đường bộ
tỉnh Quảng Nam.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Ý nghĩa lý luận: Luận văn góp hoàn chính các vấn đề lý luận liên quan đến
trách nhiệm bồi thường thiệt hại nói chung, và trong lĩnh vực giao thông đường bộ nói
riêng.

4


Ý nghĩa thực tiễn: Các kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ có thể dùng để
tham khảo trong việc hoàn thiện pháp luật về chế định BTTH ngoài hợp đồng cũng
như trong việc hướng dẫn việc giải quyết BTTH ngoài hợp đồng nói chung và BTTH
trong các vụ TNGTĐB nói riêng. Đặc biệt, những kiến nghị được đưa ra trong luận
văn có giá trị tham khảo cho cơ quan làm công tác xây dựng pháp luật trong việc xây
dựng và hoàn thiện chế định trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng nói
chung và các quy định về bồi thường thiệt hại trong các vụ tai nạn giao thông nói
riêng.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội
dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong các vụ tai
nạn giao thông đường bộ

hại nhất định đến tính mạng, sức khỏe của con người hoặc tài sản của cơ quan, tổ
chức, cá nhân”.
Tại tiểu mục 1901 mục 19 Nghị định số 97/2016/NĐ-CP, ngày 1/7/2016 của
Chính phủ quy định nội dung chỉ tiêu thống kê thuộc hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc
gia - Trật tự, an toàn xã hội và tư pháp, phần phụ lục của Nghị định số 97, qui định:
“TNGT là sự kiện bất ngờ, nằm ngoài ý muốn chủ quan của con người, xảy ra khi các
đối tượng tham gia giao thông đang hoạt động trên đường giao thông công cộng,
đường chuyên dùng hoặc ở các địa bàn giao thông công cộng (gọi là mạng lưới giao
thông: Đường bộ, đường sắt, đường thủy, đường hàng không), nhưng do chủ quan, vi
phạm các quy tắc an toàn giao thông hoặc do gặp phải các tình huống, sự cố đột xuất
không kịp phòng tránh, đã gây ra những thiệt hại nhất định cho tính mạng, sức khỏe
con người hoặc tài sản”[2].
Theo tác giả Vũ mạnh Thắng, "Tai nạn là sự việc xảy ra bất ngờ do người
tham gia giao thông hoặc vi phạm các quy định về trật tự an toàn giao thông hoặc gặp

6


phải tình huống, sự cố đột xuất, không kịp xử lý, có thiệt hại về tính mạng, sức khỏe
con người, thiệt hại về tài sản" [4, tr. 76].
Theo chúng tôi ba khái niệm trên, đều chỉ ra những dấu hiệu của TNGT là
một sự kiện gây nên thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, tài sản cho con người. Tuy
nhiên các khái niệm đã nêu còn chưa hoàn chỉnh, thiếu sót về mặt phạm vi. Có thể
thấy rằng TNGT là một sự kiện thực tế trong xã hội, có hai mặt.
Mặt thứ nhất là nguyên nhân của TNGT. Nguyên nhân của TNGT có thể: do
vi phạm các quy định về an toàn GTVT; do những hành vi cản trở GTVT; do đưa vào
sử dụng các phương tiện GTVT không bảo đảm an toàn hoặc điều động người không
đủ điều kiện điều khiển phương tiện GTVT; do gặp sự cố đột xuất không thể xử lý
được hoặc do các trường hợp bất khả kháng.
Mặt thứ hai là hậu quả của TNGT. Hậu quả của TNGT có thể làm thiệt hại về tính

khác vẫn chưa có khái niệm cụ thể về nguồn nguy hiểm cao độ mà chỉ dừng lại dưới
dạng liệt kê nguồn nguy hiểm cao độ. Theo đó, nguồn nguy hiểm cao độ được hiểu là
những vật đang tồn tại hiện hữu mà hoạt động vận hành, sản xuất, vận chuyển, bảo
quản... chúng luôn chứa đựng khả năng gây thiệt hại cho môi trường và những người
xung quanh mà con người không thể kiểm soát hoàn toàn nguy cơ gây thiệt hại.
Nguồn nguy hiểm cao độ được xác định là phương tiện giao thông vận tải cơ
giới bao gồm phương tiện giao thông đường bộ, đường thủy, đường sắt, đường hàng
không. Trong đó, phương tiện giao thông đường bộ được xác định là xe ô tô; máy kéo;
rơ moóc hoặc sơ mi rơ moóc được kéo bởi xe ô tô, máy kéo; xe mô tô hai bánh; xe mô
tô ba bánh; xe gắn máy (kể cả xe máy điện) và các loại xe tương tự (khoản 18 Điều 3
Luật giao thông đường bộ); các phương tiện giao thông đường thủy như tàu biển;
phương tiện giao thông đường không như tàu bay, đường sắt như tàu hỏa. Các hệ
thống điện lực theo quy định của Luật điện lực cũng được xem như là nguồn nguy
hiểm cao độ bởi nó chứa đựng khả năng gây thiệt hại cho con người và tài sản. Ngoài
ra, nhà máy công nghiệp đang hoạt động; vũ khí quân dụng, vũ khí thể thao; các loại

8


thú dữ như hổ, báo, sư tử..; chất nổ, chất cháy, chất phóng xạ đang trong quá trình vận
hành, hoạt động và các nguồn nguy hiểm cao độ khác được quy định trong các văn
bản pháp luật khác [1]. Tuy nhiên, để xác định nguồn nguy hiểm cao độ cần phải căn
cứ vào khoản 1 Điều 601 BLDS 2015 và văn bản quy phạm pháp luật khác có liên
quan hoặc quy định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền về lĩnh vực cụ thể đó.
Theo chúng tôi thì để xác định nguồn nguy hiểm cao độ cần dựa trên đặc trưng
như: Tài sản được coi là nguồn nguy hiểm cao độ tiềm ẩn nhiều nguy cơ gây thiệt hại
cho con người, ngay cả khi đã kiểm soát chúng một cách chặt chẽ; Nguồn nguy hiểm
cao độ luôn phải đặt trong một sự chiếm hữu, quản lý, sử dụng của chủ thể nào đó, khi
ấy mới có thể đặt trách nhiệm cho chủ thể
đang chiếm hữu, quản lý, sử dụng.

người khác
được hiểu là bồi thường thiệt hại.
Theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành thì trách nhiệm BTTH được
BLDS 2015 quy định về trách nhiệm dân sự nói chung và chương XX về trách nhiệm
BTTH ngoài hợp đồng. Tuy nhiên, trong cả hai phần này đều không nêu rõ khái niệm
trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng mà chỉ nêu lên căn cứ phát sinh trách nhiệm,
nguyên tắc bồi thường, năng lực chịu trách nhiệm bồi thường và thời hạn hưởng bồi
thường...
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng được áp dụng với mọi cá nhân,
pháp nhân và các chủ thể khác. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là
quy định của pháp luật dân sự, xác định người có hành vi xâm phạm đến tài sản, sức
khỏe, tính mạng, danh dự, nhân phẩm, uy tín, các quyền và lợi ích hợp pháp khác của
các chủ thể khác và gây ra thiệt hại thì phải bồi thường những thiệt hại do mình gây
ra.
Như vậy, có thể hiểu trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng là một loại trách nhiệm
dân sự mà theo đó một người vi phạm nghĩa vụ ngoài hợp đồng xâm phạm đến quyền
và lợi ích hợp pháp của người khác phải bồi thường những tổn thất mà mình gây ra.
Là một dạng cụ thể của trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng. Trách nhiệm bồi
thường thiệt hại trong các vụ tai nạn giao thông phát sinh khi các vụ tai nạn giao thông
đường bộ xảy ra làm thiệt hại đến tính mạng, sức khỏe, tài sản của con người, của tổ

10


chức, Nhà nước. Từ đó, có thể đưa ra khái niệm trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong
các vụ TNGTĐB: “Trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong các vụ tai nạn giao thông
đường bộ là một loại trách nhiệm dân sự, phát sinh khi một người có hành vi vi phạm
các quy định về an toàn giao thông đường bộ xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe tài
sản của cá nhân, xâm phạm đến tài sản của pháp nhân, của Nhà nước thì phải bồi
thường thiệt hại do mình gây ra ".

hành chính hoặc trách nhiệm hình sự về hành vi tương ứng của họ. [13]
Trong trường hợp tai nạn giao thông đường bộ do phương tiện giao thông vận tải
cơ giới gây ra thì trách nhiệm bồi thường thiệt hại phát sinh chỉ cần thỏa mãn ba điều
kiện: Có sự kiện gây thiệt hại trái pháp luật; Có thiệt hại thực tế xảy ra; Có mối quan
hệ nhận quả giữa sự kiện gây thiệt hại trái pháp luật và hậu quả xảy ra.
Sẽ là không hợp lý khi tự bản thân phương tiện giao thông vận tải cơ giới gây
thiệt hại mà lại xem xét đến yếu tố hành vi gây thiệt hại. Bởi vì, thuật ngữ hành vi gây
thiệt hại chỉ đúng khi thiệt hại do con người gây ra. Do vậy, trong các vụ TNGT
đường bộ do bản thân phương tiện giao thông cơ giới đường bộ gây ra chỉ cần xác
định chính xác sự kiện gây thiệt hại là nguyên nhân trực tiếp làm phát sinh thiệt hại
xảy ra có mối quan hệ nhân quả với nhau thì sẽ làm phát sinh trách nhiệm bồi thường
thiệt hại của các chủ thể.
Trường hợp TNGT đường bộ do nguồn nguy hiểm cao độ là phương tiện giao
thông cơ giới đường bộ gây ra thì yếu tố lỗi không được coi là một trong những căn
cứ làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại. Bởi vì, theo quan niệm truyền
thống thì lỗi chỉ được xem xét gắn với con người. Vì vậy, không gắn yếu tố lỗi khi bản
thân phương tiện giao thông cơ giới đường bộ gây thiệt hại. Chủ sở hữu, người được
chủ sở hữu giao chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ thì phải chịu trách
nhiệm bồi thường ngay cả khi không có lỗi.
Hai là, về đổi tượng xâm hại. Nếu như trong BTTH ngoài hợp đồng nói chung
đối tượng xâm hại có thể là tài sản, tính mạng, sức khỏe , danh dự, nhân phẩm của cá
nhân, pháp nhân thì trong các vụ tai nạn giao thông đường bộ, đối tượng xâm hại chỉ

12


có thể là tính mạng, sức khỏe, tài sản. Do đó, trong các vụ tai nạn giao thông bộ sẽ
không phát sinh trách nhiệm BTTH về danh dự, nhân phẩm, uy tín. Ngoài ra, đối
tượng xâm hại trong các vụ TNGT đường bộ có thể làm phát sinh trách nhiệm BTTH
về môi trường và khắc phục hậu quả gây ra ô nhiễm môi trường như lỗi thải mùi hôi


Trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong các vụ án tai nạn giao thông đường bộ có
ý nghĩa nhằm khôi phục những tổn thất vật chất, bù đắp những tổn thất về tinh thần
cho người bị thiệt hại và thân nhân người bị thiệt hại do tai nạn giao thông gây ra.
Ngoài ra trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong các vụ tai nạn giao thông còn có ý
nghĩa quan trọng góp phần ngăn ngừa hành vi vi phạm pháp luật giao thông, giáo dục
các chủ thể có ý thức tuân thủ pháp luật nói chung và luật giao thông đường bộ nói
riêng. Từ đó, góp phần hạn chế tai nạn giao thông, giảm thiểu thiệt hại về người và tài
sản do TNGT gây ra.
Trong vụ tai nạn giao thông, việc áp dụng trách nhiệm BTTH còn có ý nghĩa
quan trọng nhằm nâng cao ý thức trách nhiệm của chủ sở hữu, người có trách nhiệm
quản lý, bảo quản phương tiện giao thông đường bộ, không để phương tiện giao thông
đường bộ cơ giới đường bộ gây thiệt hại cho những người xung quanh. Để thực hiện
nghĩa vụ đó, họ phải tuân thủ đầy đủ các quy định về bảo quản, sử dụng phương tiện
giao thông, kịp thời phát hiện ra những nguy cơ có khả năng gây ra TNGT có thể sửa
chữa, khắc phục kịp thời.
1.2.

Nguyên tắc bồi thường thiệt hại trong các vụ tai nạn giao thông

đường bộ
Để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị xâm phạm đòi hỏi những
người tiến hành tố tụng, cũng như người tham gia tố tụng phải tuân thủ những nguyển
tắc nhất định. Nguyên tắc đó là những chuẩn mực, những yêu cầu được Nhà nước quy
định một cách cụ thể trong các văn bản pháp luật. Tuy nhiên, việc giải quyết bồi
thường thiệt hại nói chung là một vấn đề phức tạp. Việc giải quyết đúng đắn các yêu
cầu bồi thường thiệt hại nhằm đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp cho bên bị thiệt hại,
đảm bảo tính công bằng xã hội là một yêu cầu cấp thiết. Và việc bồi thường thiệt hại
trong các vụ án tai nạn giao thông phải tuân thủ nguyên tắc bồi thường thiệt hại ngoài
hợp đồng được quy định tại Điều 585 BLDS 2015.

luật xâm phạm đến sức khỏe, tính mạng, uy tín, danh dự của người khác thì phải bồi
thường thiệt hại do mình gây ra. Trường hợp thiệt hại xảy ra do lỗi hỗn hợp, người bị

16


thiệt hại cũng có lỗi thì người gây thiệt hại chỉ phải chịu trách nhiệm bồi thường tương
ứng với phần lỗi của mình gây ra. Trường hợp hoàn toàn do lỗi của người bị thiệt hại
thì người gây thiệt hại không phải bồi thường.
Cần chú ý là đối với trường hợp pháp luật có quy định việc bồi thường thiệt hại
cả khi không có lỗi, thì trách nhiệm bồi thường của người gây thiệt hại trong trường
hợp này được thực hiện theo quy định của văn bản quy phạm pháp luật đó. [20]
1.2.3. Tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận
Đây là một trong những nguyên tắc cơ bản, nó thể hiện đặc trưng của quan hệ
dân sự. Theo khoản 2 Điều 3 BLDS 2015: “Cá nhân, pháp nhân xác lập, thực hiện,
chấm dứt quyền, nghĩa vụ của mình trên cơ sở tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận.
Mọi cam kết, thỏa thuận không vi phạm điều cấm của luật, không trái với đạo đức xã
hội có hiệu lực thực hiện đối với các bên và phải được chủ thể khác tôn trọng”[13].
Vì vậy, trong trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng: “Các bên có thể thỏa thuận về mức
bồi thường, hình thức bồi thường bằng tiền, bằng hiện vật hoặc thực hiện một công
việc, phương thức bồi thường một lần hoặc nhiều lần, trừ trường hợp pháp luật có quy
định khác” (khoản 1 Điều 585 BLDS).
Nguyên tắc này hoàn toàn dựa trên cơ sở tự nguyện và sự thỏa thuận của các
bên. Theo quy định của BLDS thì sự thỏa thuận của các bên đương sự được pháp luật
thừa nhận có giá trị pháp lý. Các bên hoàn toàn được quyền thỏa thuận mức bồi
thường thiệt hại đã xảy ra.
1.2.4. Mức bồi thường phù hợp với thực tế
Khoản 3 Điều 585 quy định “Khi mức bồi thường không còn phù hợp với thực
tế thì bên bị thiệt hại hoặc bên gây thiệt hại có quyền yêu cầu Tòa án hoặc cơ quan
nhà nước có thẩm quyền khác thay đổi mức bồi thường ”

viện. Mọi chi phí hợp lý để cấp cứu, điều trị nạn nhân; chi phí lo mai táng; nuôi con
anh này (hiện mới 03 tuổi); ...ước tính khoảng 250 triệu. Số tiền này rõ ràng là quá lớn
so với mức thu nhập của người lái xe ba gác đã ngoài 65 tuổi. Trong trường hợp này,

18


người lái xe ba gác có thể được giảm mức bồi thường bởi đáp ứng đủ điều kiện nói
trên
1.2.5. Bên có quyền, lợi ích bị xâm phạm không được bồi thường nếu thiệt
hại xảy ra do không áp dụng các biện pháp cần thiết, hợp lý để ngăn chặn, hạn chế
thiệt hại chính cho mình
Đây là nguyên tắc mới được ghi nhận trong BLDS 2015. Việc xác định như vậy
có ý nghĩa quan trọng đảm bảo tính công bằng cho các bên khi phát sinh quan hệ pháp
lý. Nếu bên có quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm không áp dụng các biện pháp
cần thiết, hợp lý để ngăn chặn, hạn chế thiệt hại cho chính mình thì không được bồi
thường nếu có thiệt hại xảy ra. Quy định như vậy sẽ hạn chế được việc được trách
nhiệm không đáng có cho bên có trách nhiệm bồi thường thiệt hại. Tuy nhiên, việc xác
định được bên bị thiệt hại không áp dụng biện pháp cần thiết hay để mặc cho hậu quả
xảy ra là một vấn đề phức tạp. Điều này đòi hỏi những người tiến hành tố tụng, các
bên tham gia tố tụng phải chứng minh được có hay không việc áp dụng những biện
pháp cần thiết, hợp lý thực sự để ngăn chặn thiệt hại xảy ra.
1.3. Chủ thể của bồi thường thiệt hại trong các vụ tai nạn giao thông đường
bộ
Chủ thể của bồi thường thiệt hại trong các vụ tai nạn giao thông đường bộ bao
gồm chủ thể chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại và chủ thể được bồi thường thiệt
hại.
1.3.1 Chủ thể bồi thường
Điều 586 Bộ luật dân sự 2015 quy định về năng lực chịu trách nhiệm bồi thường
thiêt hại và được Nghị quyết số 03/2006/NQ-HĐTP hướng dẫn tai mục 3 phần I, theo


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status