skkn một số biện pháp giúp trẻ hứng thú với hoạt động làm quen tác phẩm văn học lớp mẫu giáo 5 6 tuổi tại trường mầm non nga liên - Pdf 49

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TỈNH THANH HÓA
PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HUYỆN NGA SƠN

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG
PHÁT TRIỂN NGÔN NGỮ CHO TRẺ MẪU GIÁO 5 – 6 TUỔI
THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG LÀM QUEN VỚI TÁC PHẨM
VĂN HỌC TẠI TRƯỜNG MẦM NON NGA LIÊN

Người thực hiện: Lê Thị Vân
Chức vụ: Giáo Viên
Đơn vị công tác: Trường Mầm non Nga Liên
SKKN thuộc lĩnh vực: Chuyên môn

THANH HÓA, NĂM 2018


MỤC LỤC
NỘI DUNG

Trang

1. MỞ ĐẦU
* Lý do chọn đề tài.
* Mục đích nghiên cứu.
* Đối tượng nghiên cứu.
* Phương pháp nghiên cứu.
2. NÔI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
2.1. Cơ sở lý luận.
2.2. Thực trạng của vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm.

2.2. Thông qua thể loại truyện kể.
2.3. Thông qua trò chơi đóng kịch.
Biện pháp 3. Tạo môi trường văn học phong phú cho trẻ tham gia vào
hoạt động làm quen với tác phẩm văn học.
3.1. Xây dựng môi trường trong lớp học
3.2. Môi trường ngoài lớp học.
Biện pháp 4. Phát triển ngôn ngữ cho trẻ ở mọi lúc mọi nơi.
Biện pháp 5. Sử dụng đồ dùng trực quan sinh động khi cho trẻ làm
quen với văn học để kích thích trẻ phát triển từ.
Biện pháp 6. Phát triển ngôn ngữ cho trẻ thông qua hệ thống câu hỏi
đàm thoại.
2.4. HIỆU QUẢ CỦA SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM.
C. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
Kết luận.
Kiến nghị.
Tài liệu tham khảo

4

5
5
7
7
9
10
12
14
15

17

cạnh đó ngôn ngữ còn là phươg tiện để giáo dục trẻ một cách toàn diện bao gồm sự
phát triển về đạo đức, tư duy nhận thức và chuẩn mực hành vi văn hoá. Đối với trẻ
mầm non nói chung và trẻ 5-6 tuổi nói riêng trẻ rất nhạy cảm với nghệ thuật ngôn
từ. Âm điệu hình tượng của các bài hát ru đồng dao dân ca đi vào tâm hồn tuổi thơ,
những câu chuyện cổ tích thần thoại đặc biệt hấp dẫn trẻ. Khi trẻ được tiếp xúc
thường xuyên với ngôn ngữ văn học qua các bài ca dao, đồng dao, các câu chuyện
kể, bài thơ qua giao tiếp hàng ngày ở trường mầm non... đã giúp trẻ cảm nhận được
cái hay, cái đẹp trong ngôn ngữ tiếng mẹ đẻ, cái đẹp trong hành vi, trong cuộc sống.
Từ đó giúp trẻ thêm yêu quê hương, yêu đất nước. Ngôn ngữ giúp trẻ tìm hiểu,
khám phá và nhận thức về khám phá khoa học, thông qua cử chỉ và lời nói của
người lớn trẻ làm quen với các sự vật, hiện tượng có trong môi trường xung quanh,
trẻ hiểu những đặc điểm, tính chất, công dụng của các sự vật cùng với từ tương ứng
với nó. Đặc biệt nhờ có ngôn ngữ, thông qua các câu chuyện trẻ dễ dàng tiếp nhận
những chuẩn mực đạo đức của xã hội và hoà nhập vào xã hội tốt hơn. Nó ảnh
hưởng rất lớn đến quá trình phát triển trí tuệ, đạo đức, thẩm mỹ của trẻ.
Trẻ lên 5-6 tuổi là thời kì phát cảm ngôn ngữ. Ở thời kì này trẻ luôn tích
cực tham gia vào quá trình giao tiếp, trải nghiệm, khám phá. Trẻ nói nhiều và
thường xuyên tìm đến người lớn để thoả mãn nhu cầu nhận thức bằng giao tiếp,
vì vậy ở giai đoạn này số lượng từ tăng nhanh, và đa dạng đặc biệt là ở trẻ 5-6
1


tuổi vốn từ của trẻ phần lớn là những danh từ và động từ, tính từ, các loại khác
như đại từ, trạng từ xuất hiện rất ít. Bằng hình thức văn học mở ra cho trẻ cuộc
sống xã hội và thiên nhiên, các quan hệ qua lại của con người, những hình tượng
đó giúp trẻ nhận thức rõ ràng, chính xác của từ ngữ, làm tăng vốn từ, nói rõ
ràng, chính xác.
Như vậy, đối với trẻ độ tuổi này chúng ta cần phải giúp trẻ phát triển mở
rộng các loại từ trong các từ, biết sử dụng nhiều loại câu, thông qua làm quen
với văn học. Không những vậy văn học có vai trò tích cực trong việc hình thành

2. NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

2.1. Cơ sở lí luận.
Sự phát triển ngôn ngữ của trẻ là một quá trình từ thấp đến cao với các giai
đoạn mang những đặc trưng khác nhau tùy thuộc vào độ tuổi của trẻ.
Trẻ 5-6 tuổi sự phát triển ngôn ngữ mạch lạc, phát triển vốn từ chịu ảnh
hưởng lớn vào việc tích cực hóa vốn từ, ngôn ngữ của trẻ đã trở nên được mở
rộng hơn, có trật tự hơn, khả năng nói trình bày ý nghĩa, hiểu ngôn ngữ hoàn
2


cảnh của trẻ cũng đã phát triển, điều đó một phần cũng nhờ vào hoạt động cho
trẻ làm quen với các tác phẩm văn học.
Văn học là hoạt động rất quan trọng đối với trẻ mầm non, là phương tiện
phát triển ngôn ngữ cho trẻ có đủ vốn từ để giúp trẻ nói năng lưu loát, diễn đạt
gãy gọn biết sử dụng từ đúng lúc, đúng chỗ, không những thế mà việc dạy trẻ
làm quen với những từ ngữ nghệ thuật như từ tượng hình, từ tượng thanh giúp
trẻ phát triển trí tưởng tượng, óc quan sát, khả năng tư duy độc lập trong suy
nghĩ. Thông qua nội dung các tác phẩm văn học giáo dục trẻ biết yêu quý người
hiền lành, biết ơn và kính yêu ông bà, bố mẹ, anh chị, bạn bè,...Vì vậy việc nâng
cao chất lượng dạy trẻ làm quen với tác phẩm văn học là vấn đề quan trọng
trong đổi mới hình thức tổ chức giáo dục mầm non.
Làm quen với tác phẩm văn học chỉ ra mức độ, giới hạn, yêu cầu của việc
cho trẻ tiếp xúc với tác phẩm văn học qua nghệ thuật đọc và kể chuyện của cô
giáo. Hoạt động làm quen với văn học này nhằm dẫn dắt, hướng dẫn trẻ cảm
nhận những giá trị nội dung, nghệ thuật phong phú trong tác phẩm, khơi gợi ở
trẻ sự rung động, hứng thú đối với văn học, có ấn tượng về những hình tượng
nghệ thuật, cái hay cái đẹp của tác phẩm và thể hiện sự cảm nhận đó qua các
hoạt động mang tính chất văn học nghệ thuật như đọc thơ, kể chuyện, chơi trò
chơi đóng kịch góp phần hình thành và phát triển toàn diện nhân cách cho trẻ.

tôi tự tìm tòi ứng dụng công nghệ thông tin, tôi đã chủ động trong việc lên kế
hoạch, nội dung, biện pháp sử dụng loại hình hoạt động, thay đổi hình thức dạy
học cho từng câu chuyện bài thơ với HĐ LQVVH.
- Bên cạnh đó có hội phụ huynh luôn sát cánh cùng với nhà trường cho nên
công tác phối kết hợp giữa gia đình trẻ và cô giáo đã đạt hiệu quả cao.
- Năm học 2017-2018 tôi được nhà trường phân công phụ trách đứng lớp
mẫu giáo 5-6 tuổi với tổng số trẻ trong lớp là 37 học sinh, trong đó có 17 cháu
gái và 20 cháu trai, là một giáo viên phụ trách đứng lớp nên tôi nắm vững được
khả năng tiếp thu của từng cháu.
- Về phía học sinh : Các em cũng được quan tâm nhiều hơn, mức sống của
các bé cũng khá đầy đủ, các bé đã được tiếp xúc với các phương tiện truyền
thông hiện đại ngay từ khi còn rất nhỏ và có khoảng 95% các bé đã được đi học
từ lớp nhà trẻ bé(12 – 18 tháng tuổi). Cho nên các bé rất là mạnh dạn tự tin,
năng động và thông minh.
* Khó khăn:
Song nhìn chung mỗi cháu có một đặc điểm riêng mỗi cá tính khác nhau
nhưng đều có một điểm chung đó là trẻ mầm non tiếp thu bài rất nhanh nhưng
lại quên trong chốc lát. Vì thế để thực hiện đề tài này tôi đã gặp không ít khó
khăn cụ thể như sau:
+ Đa số trẻ trong lớp đều là con em nằm trong vùng thiên chúa giáo, nhận
thức và hiểu biết của người dân còn rất hạn chế. Nhiều Gia đình có bố mẹ làm
nông nghiệp, bố mẹ đi làm ăn xa nên điều kiện kinh tế còn gặp nhiều khó khăn.
+ Sự phát triển về ngôn ngữ của mỗi trẻ tuy cùng một lứa tuổi nhưng lại ở
mức độ khác nhau, trẻ còn nói ngọng, nói lắp, nói tiếng địa phương nhiều, Trẻ
chưa được học qua các lớp bé, nhỡ nên khi lên lớp lớn trẻ còn nhút nhát trong
mọi hoạt động.
+ Khả năng ngôn ngữ của trẻ về tính lôgic của câu, biết sử dụng từ trong
các loại câu, ngôn ngữ nói chưa rõ rành mạch lạc, chính xác. Từ thực trạng trên
để công việc đạt hiệu quả tốt hơn, qua khảo sát chất lượng đầu năm tôi thấy kết
quả như sau:

68

12

32

37

25

68

12

32

37

24

65

13

35

TT

Nội dung


2.3. Những biện pháp thực hiện.
Biện pháp 1. Tự học, tự bồi dưỡng nâng cao kiến thức, kỹ năng sư
phạm về nội dung giáo dục phát triển ngôn ngữ cho trẻ thông qua làm quen
với tác phẩm văn học.
Mặc dù chuyên đề “Phát triển ngôn ngữ ” cho trẻ đã được triển khai và
tổ chức thực hiện trong nhiều năm qua, bản thân tôi đã nắm được bản chất của
chuyên đề và vận dụng vào hoạt động giảng dạy. Nhưng trong quá trình thực
hiện tôi vẫn còn lúng túng, chưa tích cực sáng tạo vì thế trong năm học 2017 2018 Trường mầm non Nga Liên vẫn tiếp tục chỉ đạo thực hiện chuyên đề này.
Là một giáo viên đứng lớp 5 - 6 tuổi để nâng cao chất lượng cho trẻ làm quen
với tác phẩm văn học ở lớp, tôi đã không ngừng tự học tập, tự bồi dưỡng để nắm
chắc nội dung, phương pháp, sáng tạo trong khi dạy trẻ. Tôi đã sử dụng bằng
một số hình thức như:
Tham gia học tập chuyên đề do Phòng giáo dục, trường mầm non tổ chức.
Tham gia các buổi hội thảo, các buổi dự giờ, thao giảng của các bạn đồng
nghiệp cũng như các trường trọng điểm trong huyện. Qua đó tôi cùng bạn bè
đồng nghiệp được tìm hiểu những kiến thức vô cùng bổ ích như:
+ Làm quen với tác phẩm văn học cho trẻ mẫu giáo là gì?
+ Mục tiêu giáo dục cho trẻ mẫu giáo làm quen tác phẩm văn học là gì?
+ Nội dung làm quen tác phẩm văn học được tiến hành thông qua những
hoạt động nào?
+ Để giúp trẻ hứng thú tham gia hoạt động với tác phẩm văn học bạn sẻ
làm như thế nào?...
Ngoài ra tôi còn tự học tập, tự nghiên cứu qua các tài liệu, các tạp san, qua
mạng Internet về những kiến thức có liên quan như:
+ Phương pháp làm quen tác phẩm văn học cho trẻ mầm non.
+ Phương pháp tổ chức hoạt động cho trẻ làm quen với tác phẩm văn học.
+ Phương pháp kể chuyện sáng tạo.
Như vậy: Qua việc được tiếp thu các chuyên đề, dự các buổi hội thảo,
tham gia dự giờ thao giảng các đồng ngiệp, học hỏi trường bạn để kịp thời uốn
nắn bổ sung những hạn chế tồn tại của bản thân.

Chuẩn bị đầy đủ về giáo án, đồ dùng trực quan,... cũng như việc khai thác
những hình ảnh đẹp là vô cùng quan trọng vì qua đó sẽ giúp trẻ hoà mình vào
thiên nhiên, trẻ dễ cảm nhận được cảm xúc như đến với chính mình.
Ví dụ: Khi dạy trẻ bài Thơ :“ Gà nở” Tôi đã khai thác được hình ảnh đẹp
trong bài thơ đó là “một đàn gà”, bắt đầu là một “ổ trứng lặng im” giờ
kêu“Kêu chiếp chiếp” hay “con mẹ đẹp sao, những hòn tơ nhỏ, chạy như lăn
tròn”,…,để làm toát lên trọng tâm của bài thơ tôi đã chuẩn bị một mô hình ngôi
nhà có phong cảnh, đàn gà rất đẹp và ngộ nghĩnh để gây sự chú ý cho trẻ từ mô
hình đó trẻ nhìn vào trẻ đọc rất hứng thú và nhanh thuộc thơ hơn.

(Hình ảnh dạy bài thơ Gà nở)
Với bài thơ: “Trăng ơi từ đâu đến” đây là bài thơ hay, có tác dụng luyện
âm cho trẻ. Nên tôi cần hướng dẫn cho trẻ nhấn vào các câu, các từ mang hình
ảnh so sánh “Trăng hồng như quả chín”, “Trăng bay như quả bóng”, “Trăng
tròn như mắt cá”, trẻ biết đọc chậm rãi, biểu lộ sự băn khoăn, tự hỏi ở các câu:
“Trăng ơi từ đâu đến?
Hay từ một sân chơi ...”
6


Hay với câu thơ

“Hoa cà tim tím
Hoa mướp vàng vàng
Hoa lựu chói chang
Đỏ như đốm lửa.”
Để trẻ biết được màu sắc của các loài hoa thì tôi cần nhấn mạnh vào các từ:
“Tim tím”, “ vàng vàng”, “chói chang”, “đốm lửa”.
Với các thanh hỏi, ngã, và các âm tr, ch, s, x. Trong bài “Chú giải phóng
quân”

2.2. Thông qua thể loại truyện kể.
Phát triển ngôn ngữ cho trẻ thông qua thể loại truyện kể không như cách
đọc chuyện bình thường chỉ dùng giọng điệu của mình thành giọng điệu của tác
phẩm mà phải cần giúp trẻ nghe, cảm nhận như có sự hiện hữu của các nhân vật
trong truyện biến nhân vật trong truyện thành hình ảnh sống động có cá tính.
- Ví dụ 2: Câu chuyện “Cô bé quàng khăn đỏ” tôi đã xây dựng đoạn phim
hoạt hình về nội dung câu chuyện đó tôi trình chiếu cho trẻ xem, khi bắt đầu mở
7


phim tôi đã cảm nhận được chất lượng của bài dạy đối với trẻ, trẻ ngồi rất ngoan
và im lặng để theo dõi . Từ sự im lặng và chú ý nghe nhìn trẻ rất nhập tâm vào
cốt truyện và nhớ rất kỹ từng tình tiết, từng tính cách của các nhân vật đến đoạn
nào mà trẻ yêu thích và hứng thú là trẻ sẽ thể hiện cảm xúc theo nhân vật đó
VD: Đến đoạn cô bé đi vào rừng vừa đi vừa hát để đuổi bướm, hái hoa thì trẻ
cũng hát theo cô bé ấy .
(Hình ảnh: Về đoạn phim “Cô bé quàng khăn đỏ”)
Ngày nay việc giảng dạy và ứng dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy
không còn là điều mới mẻ với chúng ta, nhưng ở cấp bậc mầm non thì vấn đề
này chưa được phổ biến rộng rãi. Việc sử dụng đồ dùng trực quan trên máy vi
tính còn mang lại cho trẻ hứng thú và kích thích trẻ tham gia vào hoạt động hơn
nữa bởi trên máy vi tính các hình ảnh xuất hiện và mất đi hay kèm theo các hiệu
ứng mới lạ hấp dẫn theo ý muốn của giáo viên, trẻ sẽ tập trung sự chú ý trước
những điều mới lạ, tiết học sẽ càng đạt hiệu quả hơn.
- Với câu chuyện “Quả bầu tiên” tôi đã xây dựng đoạn phim hoạt hình về
nội dung câu chuyện, khi tôi mở phim bằng hình ảnh trên máy mà không có lời
kể trẻ sẽ nhìn và kể lần lượt câu chuyện dưới sự gợi ý của cô. Ngoài ra tôi còn
làm đoạn phim về các nhân vật kết hợp với nhạc đệm rất hứng thú, làm cho trẻ
dễ nhớ nội dung truyện, thấy được nét đặc trưng của các nhân vật và nói được
tên của các nhân vật xuất hiện trên màn hình. Ý tưởng này tôi thấy 100% trẻ

hiện của giáo viên khi nhập vai vào các nhân vật.
Từ khâu xác định giọng kể, chuẩn bị đồ dùng trực quan, giáo án.. đến hệ
thống câu hỏi đàm thoại đến hình thức tạo hứng thú bằng các cách khác nhau:
Hội thi, trò chuyện, câu đố…với những hình ảnh đẹp, ngộ nghĩnh sáng tạo ứng
dụng vào công nghệ thông tin để trẻ hoà nhập vào, hoá thân vào trong các tác
phẩm truyện kể. Với những hình ảnh sinh động hấp dẫn kèm theo giọng kể rõ
ràng mạch lạc của giáo viên sẽ giúp trẻ chăm chú xem, lắng nghe, trẻ sẽ chủ
động nắm bắt được nội dung câu chuyện. Làm tốt các hình thức này chắc chắn
trẻ sẽ giúp trẻ cảm thụ truyện một cách tích cực hơn, trẻ nhớ nội dung câu
chuyện lâu hơn và khi cho trẻ đóng kịch trẻ sẽ tái tạo tính cách của nhân vật tự
nhiên hơn. Và đặc biệt khi trẻ trả lời các câu hỏi sẽ giúp cho ngôn ngữ của trẻ
phát triển hơn.
2.3. Thông qua trò chơi đóng kịch.
Đóng kịch là hình thức hoạt động chơi đặc biệt và độc lập thực sự của trẻ
nhằm phát triển trí nhớ và giáo dục trẻ tinh thần tập thể. Qua hoạt động này, trẻ
truyền đạt lại nội dung câu chuyện và làm sống lại tâm trạng, hành động và ngôn
ngữ hội thoại của các nhân vật đồng thời trẻ biết thể hiện tình cảm và đánh giá
các nhân vật trong truyện. Khi đóng kịch trẻ dễ dàng nắm được nội dung, ý
nghĩa của tác phẩm, nắm được tính liên tục của câu chuyện, điều này góp phần
đẩy mạnh sự phát triển tư duy và khả năng cảm thụ tác phẩm một cách sâu sắc ở
trẻ.
Trước hết, để có một vở kịch cho trẻ đóng tôi chuyển thể tác phẩm văn học
sang thành kịch. Tôi đã lựa chọn những tác phẩm văn học có nội dung tư tưởng
sáng rõ để chuyển thể thành những kịch bản trò chơi đóng vai ngắn gọn. Nội
dung cốt truyện phát triển mạch lạc, nhân vật giàu màu sắc thẩm mỹ và tính
cách, hành động, ngôn ngữ rõ ràng.
Để giúp trẻ hiểu nội dung câu chuyện, nắm vững cốt truyện theo vai, nhớ
tên nhân vật, tính cách và hình dung ra dáng điệu, nét mặt, hành động của từng
nhân vật thì tôi đã cùng trẻ đọc diễn cảm kịch bản và trò chơi về các nhân vật
trong kịch bản để trẻ đưa ra ý kiến nhận xét của mình. Từ đó giúp trẻ có những

Khi xác định tính cách nhân vật. Trong câu chuyện “Quả bầu tiên”
+ Cậu bé: Hiền lành tốt bụng, yêu qúy chăm sóc bảo vệ các loài động vật.
+ Lão địa chủ tham lam độc ác.
- Xác định tính chất ngôn ngữ của nhân vật.
Ví dụ: Trong câu chuyện “Chú dê đen” truyện kể mở đầu có đoạn: “Có một
chú dê trắng đi vào rừng kiếm lá non để ăn, nước suối mát để uống...” Nhưng
khi chuyển thể sang kịch bản giáo viên có thể chuyển thành “Ôi mùa xuân tươi
đẹp đã về mình phải đi vào rừng kiếm lá non để ăn và nước suối mát để uống
mới được...” Như vậy khi xem người nghe có thể nhận ra đây là lời độc thoại
của nhân vật với khán giả.
* Rèn luyện kỹ năng thể hiện ngôn ngữ và hành động của nhân vật cho
trẻ.
Muốn giúp trẻ nắm được vai diễn của mình tôi đã tạo điều kiện thật tốt cho
trẻ hiểu tác phẩm, hiểu về vai mình đóng, đồng thời cho trẻ luyện tập vai diễn
của mình. Ngôn ngữ của nhân vật phải ngắn gọn, đủ ý, dễ hiểu, chuyển tải đủ
nội dung. Câu đối thoại phải có đầy đủ chủ ngữ, vị ngữ, rõ ràng mạch lạc, cần
loại bỏ những từ ngữ không phù hợp nhưng vẫn không làm thay đổi ngữ điệu và
tính cách nhân vật.
- Khi hướng dẫn trẻ đóng kịch cần chú ý sửa sai cho những trẻ nói ngọng,
nói lắp, trẻ nói tiếng địa phương…
- Luyện cho trẻ cách thể hiện ngữ điệu, giọng điệu của các nhân vật. Cần
nhấn mạnh vào các từ cần nhấn mạnh trong các câu nói của nhân vật.
Ví dụ: Câu nói của lão địa chủ trong truyện “Quả bầu tiên” trong đoạn thả
chim én lên trời: “...Bay đi én con, mau hãy mang hạt bầu tiên về đây cho ta...”
Thể hiện sự độc ác tham lam của lão địa chủ.
10


Đi liền với ngôn ngữ là cử chị điệu bộ, nét mặt luôn đóng vai trò quan trọng
làm nổi bật tính cách nhân vật tạo nên sự sinh động hấp dẫn của vở kịch.

chuyện, bài thơ phù hợp đối với trẻ để những lúc trẻ hoạt động ở góc sách, trẻ
mang ra xem hình ảnh để trẻ kể chuyện sáng tạo… Bên cạch đó, trong lớp tôi
luôn tận dụng diện tích phòng học xây dựng góc mở tạo môi trường học tập
thoải mái cho trẻ. Tôi đặt tên cho góc là “Thư viện của bé” Bên trong góc này
Tôi tạo mô hình khu rừng có cỏ cây hoa lá và chuẩn bị sẵn hình ảnh các nhân vật
phù hợp với nội dung từng chủ đề, để ở tủ sách khi cho trẻ hoạt động ở góc này
trẻ thích câu truyện gì thì trẻ sẽ lấy hình ảnh của nhân vật đó và gắn lên rồi tự kể
chuyện sáng tạo theo ý hiểu của trẻ. VD: Truyện Chú dê đen hay Truyện Thỏ và
rùa thông qua kể chuyện đọc thơ cũng phần nào luyện từ và phát triển ngôn ngữ
cho trẻ.
11


Để trẻ có thể lĩnh hội những kiến thức đã học hay thích khám phá những đề
tài mới tôi đã tạo cho trẻ một góc thư giãn nhỏ để trẻ có thể tự do xem tranh,
ảnh, theo các nội dung câu chuyện, nghe những bài thơ, bài hát mà tôi đã ghi
âm…qua đó trẻ cảm thấy hứng thú hơn khi tham gia các hoạt động.

(Hình ảnh: Xây dựng môi trường văn học trong lớp)
3.2. Môi trường ngoài lớp học.
Bên cạnh đó môi trường ngoài lớp cũng được tôi quan tâm như: Tạo môi
trường văn học và chữ viết bằng cách tận dụng những khoảng tường trống để vẽ
các nhân vật có trong các câu chuyện, các bài thơ, ca dao, đồng dao, xây dựng
vườn cổ tích,... giúp trẻ cảm thấy gần gũi với các nhân vật hơn, biết yêu cái tốt,
học tập cái tốt, ghét cái xấu, lên án cái xấu... gợi mở cho trẻ cùng nhau kể
chuyện, đọc thơ.

(Hình ảnh: Truyện: Cô bé quàng khăn đỏ - Nàng Bạch tuyết và 7 chú lùn)
Ngoài ra tôi đã tham mưu với nhà trường để xây dựng “Vườn cổ tích”
của bé với các câu chuyện có trong chương trình như: Truyện tấm cám, Ông

Ngoài ra, trong giờ đón trẻ, tôi trao đổi với phụ huynh về các phương pháp
dạy truyện, thơ cho trẻ như khi dạy bài thơ: “Mèo đi câu cá” của chủ đề thế
giới động vật, tôi đánh máy in bài thơ rồi gửi cho phụ huynh, hướng dẫn phụ
huynh dạy đọc thơ như: Phụ huynh đọc mẫu cho trẻ nghe 2- 3 lần, sau khi đọc
xong giảng nội dung cho trẻ nghe, rồi tập cho trẻ đọc theo mình từng câu, từng
đoạn. Đọc xong, có thể hỏi trẻ tên bài thơ, tên tác giả, hỏi theo nội dung bài
thơ…để giúp trẻ nhanh nhớ tác phẩm, nhớ tên tác giả, nhớ nội dung tác phẩm.
- Trong giờ hoạt động góc.
Để tạo hứng thú cho trẻ tôi cho trẻ đọc bài thơ phù hợp với nội dung
chương trình và đàm thoại với trẻ về buổi chơi.
Trong giờ hoạt động góc mở của chủ đề: “Thế giới động vật”. Tôi cho trẻ
chơi với lô tô các con vật sống trong rừng. Yêu cầu trẻ lấy ba lô- tô động vật
thích ăn cà rốt. Trẻ lấy các chú thỏ, từ các chú thỏ, tôi yêu cầu trẻ kể chuyện
sáng tạo về các chú thỏ. Trẻ có thể kể sáng tạo theo ý của mình như: “Ngày xửa
ngày xưa, trong một khu rừng nọ có ba anh em nhà thỏ sống với nhau, cha mẹ
Thỏ mất sớm. Thỏ anh thì rất là ích kỷ, không thương hai chú em…” Sau khi trẻ
kể sáng tạo theo ý của mình xong tôi gợi ý để trẻ nghĩ ra tên truyện phù hợp với
nội dung câu chuyện, trò chuyện với trẻ về nội dung câu chuyện trẻ vừa kể.
- Hoạt động ngoài trời.
Với hoạt động ngoài trời việc lồng ghép cho trẻ làm quen tác phẩm văn học
càng gây được hứng thú nhiều hơn cho trẻ thông qua hoạt động quan sát và
thông qua trò chơi. Khi cho trẻ quan sát một đối tượng nào đó tôi cho trẻ đọc
một bài thơ và đi đến nơi quan sát.
13


Ví dụ: Trong chủ đề “Thế giới thực vật ” khi cho trẻ quan sát cây bắp cải
tôi cho trẻ đọc bài thơ “Cây bắp cải ” rồi đàm thoại cùng trẻ.
Khi tổ chức chơi trò chơi cho trẻ thì các bài đồng dao trong dân gian là tác
phẩm văn học dễ lôi cuốn trẻ với các câu từ gần gũi dễ hiểu, ngắn gọn và vui

thiếu trong hoạt động cho trẻ làm quen với văn học, nó xuất phát từ đặc điểm
nhận thức của trẻ, từ tư duy trực quan cụ thể đến tư duy trừu tượng, từ cảm tính
đến lý tính và khả năng chú ý của trẻ thiếu bền vững dễ phân tán, chóng chán,
mệt mỏi. Sử dụng đồ dùng trực quan sẽ khắc sâu tác phẩm một cách dễ dàng. Đồ
dùng trực quan phong phú có thể là tranh ảnh, các con rối, mô hình minh họa có
từ và phù hợp mới gây hứng thú cho trẻ và khơi dậy những rung cảm thẩm mỹ ở
trẻ. Tạo cho trẻ phát triển ngôn ngữ một cách tốt nhất.
- Sử dụng đồ dùng trực quan thông qua nghệ thuật múa rối:
Việc sử dụng rối trong tiết học gây được sự chú ý, tò mò của trẻ tạo điều
kiện cho trẻ tiếp cận với nghệ thuật múa rối.
14


Với truyện “Sự tích hoa hồng” tôi sử dụng mô hình sân khấu có rất nhiều
hoa hồng với nhiều màu sắc khác nhau như màu Đỏ, Vàng, Trắng và bộ rối
Nàng tiên, Thần mặt trời, Nữ Thần mặt trăng kể đến đâu cô di chuyển các nhân
vật đến đó trẻ rất hứng thú và đam mê. Nhờ vào việc sử dụng nghệ thuật rối
trong hoạt động học mà số trẻ có khả năng cảm thụ tác phẩm văn học đạt hiệu
quả cao, đa số trẻ nhớ được nội dung câu truyện, lời thoại của các nhân vật trong
truyện và qua đó trẻ biết nhận xét đánh giá tính cách của nhân vật trong truyện
như ai là người xấu? Ai là người tốt?. Từ đó tạo cho trẻ phát triển ngôn ngữ
mạch lạc và vốn từ được tốt hơn.
(Hình ảnh: dạy truyện sự tích hoa hồng)
* Kết quả: Như vậy thông qua biện pháp sử dụng đồ dùng trực quan đã
giúp 100% trẻ lớp tôi hứng thú tham gia trong các hoạt động, đặc biệt là thông
qua hoạt động làm quen với tác phẩm văn học.
Biện pháp 6. Phát triển ngôn ngữ cho trẻ thông qua hệ thống câu hỏi
đàm thoại.
Đàm thọai là một quá trình hỏi và đáp, trao đổi giữa cô và trẻ, trong đó cô
giữ vai trò chủ đạo giúp trẻ hiểu sâu và nhớ lại tác phẩm văn học. Câu hỏi đàm

Dạng câu hỏi này giúp trẻ tăng vốn từ, phát triển trí tưởng tượng phong phú và
kích thích tư duy của trẻ phát triển. Loại câu hỏi này thường dùng cho những
cháu giỏi trong lớp.
Ví dụ: Chuyện “Ba cô gái” Tôi hỏi trẻ: Hành động nào cho con biết cô út
thật lòng thương mẹ? Nếu cô út không về thăm mẹ thì chuyện gì sẽ xảy ra? Theo
con cô út sẽ làm gì khi thấy hai chị mình bị biến thành rùa và nhện?
Ngoài những dạng câu hỏi trên, tôi còn sử dụng loại câu hỏi giải thích và
phỏng đoán suy luận nâng cao. Đây là những câu hỏi khó có tính thu hút trẻ và
đòi hỏi trẻ phải có khả năng phỏng đoán, suy luận cao.
Ví dụ: Trong truyện “Chú Dê đen” tôi đưa ra các câu hỏi như:
- Tại sao Chó Sói lại có thể to tiếng quát nạt Dê Trắng như thế ?
- Thái độ của Dê Đen trước con Sói hung ác ấy có giống Dê Trắng không?
Tại sao?
- Vở kịch này đã gợi lên cho chúng ta điều gì?
Khi trao đổi với trẻ về kịch bản, tôi gợi ý trẻ tưởng tượng ra vẻ ngoài của
các nhân vật và phẩm chất, tính cách nhân vật. Trẻ tưởng tượng ra vẻ ngoài của
các nhân vật, khung cảnh của hành động và nhanh chóng có những ấn tượng như
đã xem kịch, trẻ như nhìn thấy được toàn bộ cảnh trong kịch, như thấy mình
được diễn.
Tôi đưa ra những câu hỏi giúp trẻ suy nghĩ về nội dung tư tưởng của tác
phẩm bằng cách tôi hướng trẻ suy nghĩ vào nhân vật chính, phát hiện ra những
phẩm chất của nhân vật, đưa ra nhận xét về hình tượng nhân vật và xác định thái
độ của mình đối với các nhân vật.
Tôi đặt ra các câu hỏi: Các con thấy Tích Chu là người như thế nào? (trong
truyện “Tích Chu”) Các con có nhận xét gì về người anh và người em? (Trong
truyện “Hai anh em”)…Con thích nhân vật nào nhất trong câu chuyện “Cáo,
Thỏ và Gà Trống?” Vì sao con lại thích nhân vật đó?
Để giúp trẻ hiểu sâu sắc nội dung tư tưởng của tác phẩm, tôi thường đặt câu
hỏi để tạo cơ hội cho trẻ tự bày tỏ thái độ của mình đối với nhân vật. Trẻ tự đặt
mình vào hoàn cảnh của nhân vật để tìm ra cách giải quyết.

0
0
16


Trẻ trả lời được các câu hỏi
đàm thoại.
Trẻ thể hiện được cảm xúc
3
của mình với cô và các bạn.
Hiểu được một số từ đơn
4
giản gần gũi với trẻ .
Trẻ diễn đạt được câu, từ rõ
5 ràng mạch lạc, chính xác
không nói ngọng, nói lắp.
2

37

37

100

0

0

37


phát triển ngôn ngữ, nhận thức được tầm quan trọng của việc cho trẻ cảm thụ tác
phẩm văn học được thực hiện thường xuyên, liên tục, đạt hiệu quả cao, tôi thấy
mình thêm tự tin và sáng tạo trong hoạt động dạy.
Bản thân được nhà trường đánh giá cao về phương pháp dạy trẻ và được
Ban giám hiệu đánh giá và xếp loại có nhiều giờ dạy giỏi.
Bản thân đã nâng cao được trình độ chuyên môn trong việc xây dựng kế
hoạch và thiết kế hoạt động phù hợp với lứa tuổi của trẻ. Từ đó bản thân có
nhiều kinh nghiệm trong việc thiết kế môi trường giáo dục cho trẻ hoạt động,
sưu tầm đồ dùng, đồ chơi phù hợp, phong phú cho trẻ.
- Bản thân tôi luôn luôn tích cực học tập, học hỏi để nâng cao trình độ tay
nghề.
- Chịu khó sưu tầm, nghiên cứu để tìm những hình thức tổ chức cũng như
các biện pháp dạy học phù hợp nhất với mỗi tiết dạy.
- Kết hợp với phụ huynh để có biện pháp giáo dục trẻ một cách tốt nhất ở
gia đình và nhà trường.
- Đối với đồng nghiệp:
Với những biện pháp trên đã giúp cho các đồng nghiệp làm tài liệu tham
khảo. Được đồng nghiệp đánh giá cao với những biện pháp đưa ra trong sáng
kiến.
- Đối với nhà trường:
Sáng kiến này đã được hội đồng khoa học nhà trường đánh giá và xếp loại
và đã được triển khai nhân rộng ra toàn trường nhà trường sử dụng và lưu lại
làm tài liệu cho đồng nghiệp tham khảo.
3. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
3.1. Kết luận.
Muốn giúp trẻ 5-6 tuổi phát triển ngôn ngữ thông qua cho trẻ làm quen với
văn học tôi rút ra một số bài học kinh nghiệm như sau:
- Nắm vững đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi của trẻ để có biện pháp giáo dục
phù hợp. Vận dụng các biện pháp giáo dục mọi lúc, mọi nơi. Chú ý đến trẻ cá
biệt, luôn tạo ra niềm tin, sự hứng thú cho trẻ.

trách. Trong quá trình thực hiện đề tài này chắc chắn không thể tránh khỏi
những thiếu sót. Rất mong được sự đóng góp ý kiến của hội đồng khoa học, các
cấp và bạn bè đồng nghiệp để SKKN của tôi được hoàn thiện hơn, nhằm không
ngừng nâng cao chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ mầm non.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
XÁC NHẬN CỦA THỦ TRƯỞNG
ĐƠN VỊ

Nga Liên, ngày 10 tháng 04 năm 2018
Tôi xin cam đoan đây là SKKN
do chính tôi viết, không sao chép
của người khác.

Lê Thị Hương

Lê Thị Vân

18


TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Chương trình giáo dục mầm non (ban hành kèm theo thông tư số
28/2016/ BGD&ĐT ngày 30 tháng 12 năm 2016.)
2. Hướng dẫn thực hiện chương trình giáo dục mầm non cho trẻ em 5 – 6
tuổi.
3. Bồi dưỡng thường xuyên dành cho giáo viên mầm non.
4. Trò chơi, câu đố, thơ ca truyện kể theo chủ đề cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi.
5. Hướng dẫn tổ chức hoạt động cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi lĩnh vực phát
triển ngôn ngữ.
6. Môt số biện pháp hướng dẫn tổ chức hoạt động cho trẻ 5 – 6 tuổi làm

Một số biện pháp cho trẻ 5 - 6
tuổi làm quen với tác phẩm văn
học.
Một số biện pháp giúp trẻ 5 – 6
tuổi làm quen với hoạt động
khám phá khoa học.
Một số biện pháp giúp trẻ 5 – 6
tuổi hứng thú với hoạt động
làm quen với toán.

Cấp đánh giá
xếp loại
( Ngành GD
cấp
huyện/tỉnh;
Tỉnh..)
Ngành
GD&ĐT

Kết quả
đánh giá
xếp loại
( A, B hoặc
C)

Năm học
đánh giá
xếp loại

B


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status