Phân chia di sản thừa kế theo quy định bộ luật dân sự năm 2005 - Pdf 49

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

LÊ VĂN MINH

PHÂN CHIA DI SẢN THỪA KẾ
THEO QUY ĐỊNH BỘ LUẬT DÂN SỰ NĂM 2005
Chuyên ngành: LUẬT DÂN SỰ
Mã số: 60 38 30

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Cán bộ hướng dẫn khoa học: PGS.TS PHÙNG TRUNG TẬP

HÀ NỘI - 2012


LỜI CAM ĐOAN


Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các kết
quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác. Các số
liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực.
Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính
theo quy định của Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội.
Vậy, tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo
vệ Luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƯỜI CAM ĐOAN

Lê Văn Minh


1.4.3..........................................................................Theo quy định của pháp luật
28
1.5. Khái lược quy định của pháp luật về phân chia di san thưa kê
32C h ư ơ n g 2 : PHÂN CHIA DI SẢN THỪA KẾ, THỰC TRẠNG ÁP
DỤNG PHÁP LUẬT VÀ ĐỊNH HƯỚNG HOÀN THIỆN....................39
2.1. Khái niệm phân chia di sản thừa kế..........................................................39
2.2. Nguyên tắc phân chia di

san thừa kê..................................................39

2.2.1.Nguyên tắc phân chia di

sản thừa kế theo di chúc..............................39

2.2.2.Nguyên tắc phân chia di

sản thừa kế theo pháp luật...........................42

2.3.................................................................................Phân chia theo di chúc
................................................................................................................ 45
2.3.1......................................Phân chia di sản trong trừờng hợp có di tăng
........................................................................................................... 45
2.3.2.

Phân chia di san t hừa kê theo di chuc trong trừơng hợp co di

sản dùng vào việc thờ cúng.....................................................................46
2.3.3.


2.7.3........Về thời điểm phân chia di sản theo di chúc chung của vợ chồng
........................................................................................................... 80
2.7.4.

Thợi điêm xac lâp quyên sợ hừu cho ngừợi thừa kê va nhừng

ngừợi hừợng di san thừa kê khác.............................................................81
KẾT LUẬN.............................................................................................................83
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO.................................................................85


MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
Khi còn sống và lao động có ích, con người tạo ra của cải cho xã hội, vì vậy
họ không chỉ muốn mình có quyền năng đối với khối tài sản của mình khi còn sống,
mà còn muốn chi phối nó ngay cả khi đã chết. Khi họ chết, các tài sản của họ để lại
sẽ trở thành di sản và được phân chia cho các thế hệ con cháu. Và nếu như con cháu
chính là sự hóa thân của ông bà, bố mẹ, là sự kéo dài nhân thân của mỗi người thì sự
chuyển dịch di sản theo chế định thừa kế chính là sự nối tiếp về quyền sở hữu. Vì
vậy, một người coi là đã chết nhưng chết chưa hẳn là đã chấm dứt mà một phần con
người đó còn hiện hữu, tồn tại trong con cháu, trong những di sản mà họ để lại. Pháp
luật công nhận quyền thừa kế của cá nhân đã đáp ứng một phần mong mỏi của con
người là tồn tại mãi mãi. Chính vì thế, pháp luật thừa kế trên thế giới nói chung và
pháp luật thừa kế ở Việt Nam nói riêng đã không ngừng phát triển và hoàn thiện.
Trong hệ thống pháp luật Việt Nam, sau Hiến pháp 1992, Bộ Luật Dân sự
chiếm vị trí đặc biệt quan trọng, tạo lập hành lang pháp lý cho các cá nhân khi thực
hiện quyền thừa kế. Được quy định tại phần thứ tư, bao gồm 4 chương, 56 điều, từ
Điều 631 đến Điều 687 của Bộ luật Dân sự năm 2005 chế định thừa kế đã tạo chuẩn
mực pháp lý cho cách ứng xử của các chủ thể khi tham gia quan hệ thừa kế, góp

nghiên cứu, làm sáng tỏ nội dung, bản chất củ a phân chia di sản thừa kế được quy
định trong hệ thống pháp luật của Việt Nam, trên cơ sở đó đưa ra một số kiến nghị
mang tính giải pháp để ngày càng hoàn thiện hơn những quy định về nội dung này
trong Luật.


3. Tính mới và những đóng góp của đề tài
Từ trước đến nay đã có rất nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến lĩnh
vực thừa kế. Có những công trình khoa học nghiên cứu vấn đề nội dung này một
cách toàn diện, bao quát, nhưng cũng có những công trình chỉ nghiên cứu một khía
cạnh nhỏ của chế định thừa kế trong Luật. Tuy nhiên, chưa có công trình nào nghiên
cứu cụ thể về phân chia di sản thừa kế theo quy định của pháp luật dân sự hiện hành.
Đây là luận văn ở cấp độ Thạc sĩ nghiên cứu chi tiết quy định về phân chia di sản
thừa kế. Trên cơ sở đó, tác giả nghiên cứu làm sáng tỏ những quy định của pháp luật
hiện hành, tìm ra những vướng mắc còn tồn tại trên thực tế và đề xuất một số kiến
nghị góp phần hoàn thiện pháp luật về thừa kế trong Bộ Luật Dân sự.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
* Đ ố i t ư ợ n g : Các quy định của pháp luật về phân chia di sản thừa kế hiện
nay.
* P h ạ m v i : Đề tài tập trung nghiên cứu các vấn đề lý luận, bản chất quy
định của pháp luật về thừa kế nhằm làm rõ những quy định về phân chia di sản thừa
kế. Khi nghiên cứu đề tài, tác giả đã tham khảo toàn bộ các quy định hiện hành của
pháp luật nước ta về phân chia di sản thừa kế gắn với nghiên cứu các sách chuyên
khảo và những tài liệu liên quan đến vấn đề này.
5. Nội dung và phương pháp nghiên cứu
* N ộ i d u n g : Nghiên cứu các quy định của pháp luật về thừa kế nói chung,
và phân chia di sản nói riêng để đánh giá thực trạng pháp luật về thừa kế ở Việt
Nam. Trên cơ sở đó, nêu lên những quan điểm, giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật
về thừa kế ở nước ta hiện nay.
* Phương pháp.

nhiều hơn, không những bảo đảm cho sinh hoạt và đời sống của cộng đồng thị tộc,
bộ lạc, mà còn có nhiều của cải dư thừa. Khi mà tư liệu sản xuất đóng vai trò quan
trọng trong quá trình làm ra của cải vật chất và quan hệ xã hội cũng có sự phân hóa...
thì việc chiếm hữu tư liệu sản xuất và của cải vật chất dư thừa đã trở thành nguyên
nhân của việc phân hóa giữa các tầng lớp người trong mỗi thị tộc, bộ lạc. Sự phân
hóa này về cơ bản dựa theo mức độ, giá trị tài sản, tư liệu sản xuất mà họ chiếm hữu


được khác nhau, từ đó hình thành nên chế độ tư hữu về tài sản đối với tư liệu sản
xuất.
Chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất được xác lập đã phá vỡ tính cộng đồng của
thị tộc, bộ lạc trong việc chiếm hữu, sử dụng và định đoạt đối với tài sản chung và
đương nhiên kết quả cuối cùng của sự phân hóa này chính là việc phân chia xã hội
thành các giai cấp thống trị và bị trị. Chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất được xác lập
cũng đương nhiên phá vỡ việc kế thừa, hưởng dụng chung của thị tộc, bộ lạc đối với
tài sản của người chết để lại và như vậy việc kế thừa, hưởng dụng chung của thị tộc,
bộ lạc đối với tài sản của người chết để lại cũng không thể còn môi trường để tồn tại.
Có chế độ tư hữu về tài sản tất dẫn đến nhu cầu bảo vệ quyền tư hữu đó khi chủ sở
hữu tài sản chết.
Khi giai cấp đã xuất hiện, có giai cấp thống trị và có giai cấp bị trị, đương
nhiên đối kháng giai cấp trong xã hội là điều không tránh khỏi. Kết quả của sự đối
kháng giai cấp là nhà nước của chế độ tư hữu ra đời và trở thành công cụ chuyên chế
của giai cấp thống trị. Nhà nước của chế độ tư hữu đã phải sử dụng sức mạnh áp chế
để bảo vệ quyền, lợi ích của giai cấp mình. Song song với quyền sở hữu tài sản,
quyền thừa kế tài sản cũng được bảo vệ bằng những sức mạnh đó. Những trật tự
trong quan hệ về sở hữu tài sản nói chung và trong quan hệ về thừa kế nói riêng được
nhà nước của chế độ tư hữu thiết lập trong giai đoạn này phù hợp với tính tất yếu
khách quan, nhưng mang bản chất giai cấp sâu sắc. Quyền lợi của giai cấp thống trị
luôn được bảo vệ bằng chính những thiết chế của sức mạnh trấn áp hay sức mạnh
kinh tế.

từ một người đã chết cho người còn sống đã có sự tác động bằng ý chí của Nhà nước.
Giai cấp thống trị thông qua quyền lực nhà nước để áp dụng các phương pháp cưỡng
chế nhằm tác động đến các quan hệ xã hội làm cho các quan hệ đó phát sinh, phát
triển theo hướng có lợi cho giai cấp mình. Nghĩa là khi có Nhà nước thì mọi quan hệ


cũng như mọi sự kiện xẩy ra trong đời sống xã hội đều được pháp luật điều chỉnh.
Thừa kế trong xã hội đã có nhà nước cũng không nằm ngoài sự điều chỉnh của pháp
luật.
Quan hệ pháp luật về thừa kế có tính khả biến. Tính khả biến được thể hiện
bằng các quy phạm pháp luật, mà các quy phạm này không những phụ thuộc vào sự
thay đổi của quan hệ sở hữu trong các chế độ xã hội khác nhau, mà còn phụ thuộc
vào mức độ phát triển trong một chế độ xã hội nhất định, nghĩa là trong mỗi giai
đoạn phát triển kinh tế - xã hội của chế độ xã hội đó pháp luật cũng có quy định khác
nhau trong việc điều chỉnh mối quan hệ về thừa kế. Quan hệ thừa kế khi đó không
những là phạm trù pháp luật, mà còn được hiểu như là một phạm trù lịch sử, bởi vì
nó thể hiện rõ nét sự phát triển kinh tế - xã hội của các chế độ xã hội khác nhau và
của một chế độ xã hội trong từng giai đoạn phát triển nhất định.
Với những phân tích trên đây, quan hệ thừa kế cần được hiểu là một loại quan
hệ pháp luật phát sinh từ sự kiện chết của một cá nhân - chủ sở hữu tài sản và khi có
người thừa kế thực hiện quyền thừa kế của họ, theo đó tài sản và quyền sở hữu tài
sản (di sản) của người chết được chuyển giao cho người (cá nhân hoặc tổ chức) thừa
kế.
1.1.2. Khái niệm quyền thừa kế
Quyền thừa kế là một chế định của ngành luật dân sự bao gồm một tổng hợp
các quy phạm pháp luật do Nhà nước đặt ra hoặc thừa nhận nhằm điều chỉnh quá
trình dịch chuyển những lợi ích vật chất từ người chết cho những người còn sống
khác.
Việc ghi nhận và xác định các quyền, nghĩa vụ nói trên không phải hoàn toàn
do ý chí chủ quan tuyệt đối của giai cấp lãnh đạo xã hội, dù rằng pháp luật là ý chí

nghĩa mà Luật Hôn nhân và Gia đình đã quy định.


Ngoài việc mở rộng quyền lập di chúc để cá nhân định đoạt tài sản của mình
sau khi chết, thừa kế theo quan hệ huyết thống vẫn được duy trì và theo đó số người
thuộc diện thừa kế theo pháp luật cũng được mở rộng theo từng thời kỳ phát triển
kinh tế - xã hội của đất nước. Từ Pháp lệnh thừa kế, pháp luật đã thừa nhận hàng
thừa kế thứ ba, không còn những tư tưởng bảo vệ quyền thừa kế của những người có
quan hệ huyết thống theo quan niệm đích tử, đích tôn, đồng tông, đồng tộc... như
trong pháp luật thừa kế dưới thời thực dân, phong kiến trước đây. Pháp luật thừa kế
của chế độ mới đã kết hợp hài hòa việc bảo vệ quyền lợi của những người có quan hệ
huyết thống, quan hệ hôn nhân và quan hệ nuôi dưỡng với người để lại di sản trong
việc xác định người thừa kế theo diện và các hàng thừa kế. Quan hệ hôn nhân và
quan hệ nuôi dưỡng được đặt ngang hàng với quan hệ huyết thống trong việc xác
định các hàng thừa kế trong số những người thuộc diện thừa kế theo pháp luật. Đây
là điểm khác biệt cơ bản của pháp luật thừa kế dưới chế độ mới ở nước ta so với các
quy định thừa kế dưới chế độ thực dân, phong kiến.
Dưới chế độ mới, quan hệ hôn nhân được coi trọng theo nguyên tắc vợ chồng
bình đẳng trong việc để lại di sản và quyền thừa kế tài sản của nhau khi một bên chết
trước. Người vợ góa hoặc người chồng góa có quyền thừa kế theo pháp luật cùng
hàng với cha, mẹ và các con của người để lại di sản. Đây là một nét khác biệt cơ bản
của pháp luật thừa kế Việt Nam so với pháp luật thừa kế của một số nước trong khu
vực và trên thế giới.
Quyền thừa kế về phương diện khách quan còn được thể hiện ở việc pháp luật
bảo đảm cho công dân có quyền bình đẳng trong việc hưởng di sản thừa kế, không
phân biệt giới tính, già trẻ, có năng lực hành vi dân sự hay không có năng lực hành vi
dân sự.
- Về phương diện chủ quan, quyền thừa kế được hiểu là quyền dân sự cơ bản
của công dân được để lại tài sản của mình cho những người còn sống và quyền của
công dân được nhận di sản theo sự định đoạt của người có tài sản (bằng di chúc)


đảm khi "người thừa kế là cá nhân phải là người còn sống vào thời điểm mở thừa kế
hoặc sinh ra và còn sống sau thời điểm mở thừa kế nhưng đã thành thai trước khi
người để lại di sản chết" [6, Đ. 638].
Quyền thừa kế của công dân còn được pháp luật bảo vệ trong những trường
hợp riêng biệt khác như thừa kế thế vị, thừa kế giữa con riêng với cha kế, mẹ kế...
khi thỏa mãn các điều kiện do pháp luật quy định. Người thừa kế theo di chúc hoặc
theo pháp luật đều có quyền hưởng di sản và quyền từ chối hưởng di sản. Người thừa
kế hưởng di sản là những người có quyền và nghĩa vụ liên quan đến di sản thừa kế và
trong phạm vi giá trị di sản thừa kế. Người thừa kế có quyền từ chối nhận di sản theo
thời hạn, hình thức pháp luật đã quy định [6, Đ. 645].
Quyền định đoạt của người thừa kế được pháp luật bảo hộ trong việc từ chối
hưởng di sản, nếu việc từ chối đó không nhằm mục đích trốn tránh việc thực hiện
nghĩa vụ tài sản của người đó đối với người khác [6, Đ. 645].
Quyền thừa kế của công dân còn quy định những người thừa kế (kể cả thừa
kế theo di chúc và thừa kế theo pháp luật) không được hưởng di sản do đã có hành vi
trái pháp luật mà hành vi đó là nguyên nhân làm triệt tiêu quyền thừa kế. Những
người bị pháp luật tước quyền thừa kế chỉ được thừa kế trong trường hợp người để
lại di sản đã biết hành vi trái pháp luật của người đó, nhưng vẫn cho họ hưởng di sản
theo di chúc [6, Đ. 646]. Quyền thừa kế còn bị triệt tiêu trong trường hợp những
người có quyền thừa kế của nhau cùng chết vào một thời điểm.
Với những phân tích trên đây, có thể xác định rằng: Quyền thừa kế là một
phạm trù pháp luật phản ánh quan hệ kinh tế - xã hội nói chung và lịch sử phát triển
kinh tế xã hội nói riêng, nó xuất hiện và tồn tại cùng với sự xuất hiện và phát triển
của xã hội có phân chia giai cấp dựa trên cơ sở tư hữu về tài sản (từ chế độ chiếm
hữu nô lệ đến xã hội hiện đại ngày nay). Với tư cách là một phạm trù pháp luật, thừa
kế chính là sự chuyển dịch tài sản và quyền sở hữu tài sản của cá nhân người đã chết


cho những người còn sống theo điều kiện, hình thức, trình tự và thủ tục do pháp luật

những tài sản mà họ có thì còn có các khoản nợ (nghĩa vụ tài sản) khác. Những nghĩa
vụ này phát sinh từ các quan hệ dân sự như: nghĩa vụ bồi thường thiệt hại, nghĩa vụ
trả nợ trong hợp đồng vay, nghĩa vụ trả tiền thuê nhà... Các nghĩa vụ về tài sản họ để
lại khi chết đi sẽ được dịch chuyển cho những người thừa kế thực hiện đồng thời với
việc dịch chuyển các tài sản. Pháp luật nói chung và pháp luật thừa kế Việt Nam nói
riêng trong thời kỳ phong kiến phổ biến với quan điểm này vì luật tục “phụ trái tử
hoàn”. Người thừa kế sẽ phải thực hiện việc thanh toán nợ của người chết để lại kể
cả trong trường hợp tài sản của người chết để lại không đủ để trả hết nợ và phải chịu
trách nhiệm vô hạn với nghĩa vụ đó. Quan điểm này đã không còn phù hợp với sự
phát triển của đất nước, cho thấy sự bất công của chế độ cũ, chế độ bóc lột người dân
của bọn cường hào, địa chủ. Quy định của Sắc lệnh số 97/SL ngày 22/5/1950 đã xóa
bỏ quy lệ bất công này.
- Quan điểm thứ hai: Di sản thừa kế chỉ bao gồm các tài sản của người chết để
lại mà không bao gồm các nghĩa vụ tài sản. Đây là quan điểm phù hợp với những
quy định của Bộ luật Dân sự năm 1995 và Bộ luật Dân sự năm 2005. Vì thừa kế là
thừa hưởng của cải của người đã khuất. Theo từ điển Tiếng Việt, thì thừa kế được
định nghĩa là: “ hưởng của người chết để lại cho ” [11, Tr 972]. Với ý nghĩa này thì
không thể nói người thừa kế “ được hưởng nghĩa vụ tài sản ” hay “ được hưởng các
tài sản nợ". Những “giá trị” không mang đến lợi ích cho người tiếp nhận thì không
được coi là di sản.Vì vậy, không thể coi các nghĩa vụ là được thừa hưởng.
Mặt khác, về phương diện đạo đức truyền thống, theo suy nghĩ của người Việt
Nam cha mẹ sinh con thì có nghĩa vụ chăm lo, nuôi nấng con nên người. Những việc
làm mang tính “bổn phận” không chỉ là trong hiện tại mà còn cho cả tương lai sau
này của người con, tạo ra “tiền đề vật chất” ban đầu cho con, cho cháu. Người con,
người cháu được thừa hưởng tài sản khi cha mẹ chết đi, dựa vào đó mà làm ăn phát


triển cuộc sống và sau này lại tích lũy tài sản cho con cái của họ. Và tất nhiên những
tài sản mà người chết để lại cho người được hưởng phải thuộc quyền sở hữu của họ,
không trái với các quy định của pháp luật. Quyền thừa kế và quyền sở hữu có mối

Chế độ sở hữu, mà đặc biệt là sở hữu đất đai và các tư liệu sản xuất quan
trọng khác ở Việt Nam luôn được ghi nhận trong các Hiến pháp 1946, 1959, 1980,
1992. Tuy nhiên, do tình hình lịch sử và hoàn cảnh đất nước nên trong mỗi giai đoạn
lịch sử, hiến pháp và pháp luật Việt Nam quy định chủ thể, phạm vi, nội dung của
chế độ sở hữu tài sản không giống nhau và cơ chế thực hiện, bảo vệ các quyền sở
hữu cũng khác nhau.
Hiến pháp năm 1946: Dưới chế độ phong kiến thực dân, ruộng đất tập trung
trong tay địa chủ phong kiến, nông dân phải cày thuê cuốc mướn, cuộc sống vô cùng
khó khăn nên sau khi Cách mạng tháng Tám năm 1945 ở Việt Nam thành công, Nhà
nước Việt Nam đã ban hành Hiến pháp năm 1946 để quy định, bảo hộ các quyền
công dân của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà mà quan trọng hơn cả là quyền sở
hữu tài sản và các quyền tài sản khác để thực hiện khẩu hiệu “Người cày có ruộng”.
Bởi, quyền sở hữu là tiền đề phát sinh các quyền kinh tế, dân sự khác như quyền
thừa kế tài sản, quyền tham gia các giao dịch... Điều 12 Hiến pháp năm 1946 ghi:
“Quyền tư hữu tài sản của công dân Việt Nam được bảo đảm ". Tài sản là quyền lợi
mà thần thánh không thể xâm phạm được, trừ khi có những nhu cầu xã hội cần thiết
và với điều kiện được bồi thường một cách thoả đáng. Quy định này của Hiến pháp
năm 1946 thật sự dân chủ, nhân quyền, xuất phát từ thực tiễn, yêu cầu nhiệm vụ của
cách mạng khi đó là: “bảo toàn lãnh thổ, giành độc lập hoàn toàn và kiến thiết quốc
gia trên nền tảng dân chủ”.
Hiến pháp năm 1959: Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, miền Bắc Việt Nam
được giải phóng, nhân dân miền Bắc xây dựng hậu phương vững mạnh để chi viện
sức người, sức của cho đồng bào miền Nam tiếp tục thực hiện cách mạng dân tộc,


dân chủ nhân dân ở miền Nam. Để tạo cơ sở pháp lý cho các chủ thể trong các thành
phần kinh tế khác nhau trong xã hội, Nhà nước công nhận và bảo hộ quyền sở hữu
của người lao động riêng lẻ và quyền sở hữu của các nhà tư bản đối với các tư liệu
sản xuất họ đang được phép sản xuất kinh doanh. Điều 11 Hiến pháp năm 1959 quy
định: “Ở nước Việt Nam dân chủ cộng hòa trong thời kỳ quá độ, các hình thức sở

quốc doanh; ngân hàng và tổ chức bảo hiểm; công trình phục vụ lợi ích công cộng;
hệ thống đường sắt, đường bộ, đường sông, đường biển, đường không; đê điều và
công trình thuỷ lợi quan trọng; cơ sở phục vụ quốc phòng; hệ thống thông tin liên
lạc, phát thanh, truyền hình, điện ảnh; cơ sở nghiên cứu khoa học, kỹ thuật, cơ sở
văn hoá và xã hội cùng các tài sản khác mà pháp luật quy định là của Nhà nước đều thuộc sở hữu toàn dân
Nếu như Hiến pháp năm 1959 ghi nhận sở hữu riêng là quyền cơ bản của
công dân thì ở Hiến pháp năm 1980, nó không còn được thừa nhận. Điều 27 của
Hiến pháp chỉ quy định: “Nhà nước bảo hộ quyền sở hữu của công dân về thu nhập
hợp pháp, của cải để dành, nhà ở, tư liệu sinh hoạt, những công cụ sản xuất dùng
trong những trường hợp được phép lao động riêng lẻ. Pháp luật bảo hộ quyền thừa
kế tài sản của công dân ”. Như vậy, Nhà nước không thừa nhận sự tồn tại của sở
hữu tư nhân và các thành phần kinh tế tương ứng, coi nó là kinh tế phi Xã hội chủ
nghĩa và tìm cách thủ tiêu. Tư duy làm chủ tập thể, bao cấp bao trùm hầu hết các quy
định của Hiến pháp năm 1980, do vậy, tuy Hiến pháp quy định cho công dân có rất
nhiều quyền, nhưng trên thực tế chỉ có một số quyền được thực hiện đối với một số
người.
Hiến pháp quy định cá nhân, hộ gia đình không có quyền sở hữu về đất đai
nhưng có quyền sử dụng khai thác đất đai, có quyền chuyển nhượng tài sản trên đất.
Nếu trên đất không có tài sản thì không có quyền chuyển nhượng quyền sử dụng đất,
kể cả việc thừa kế quyền sử dụng đất. Trường hợp người được giao đất chết thì



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status