BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LÊ THỊ MAI CHI
CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN VIỆC LỰA CHỌN
CHÍNH SÁCH KẾ TOÁN CỦA DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ
VỪA – NGHIÊN CỨU ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP SẢN
XUẤT NGÀNH DỆT MAY TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ
CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP. HỒ CHÍ MINH – NĂM 2017
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LÊ THỊ MAI CHI
CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN VIỆC LỰA CHỌN
CHÍNH SÁCH KẾ TOÁN CỦA DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ
VỪA – NGHIÊN CỨU ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP SẢN
XUẤT NGÀNH DỆT MAY TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ
CHÍ MINH
Chuyên ngành: Kế Toán
Mã số: 60340301
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu. ------------------------------------------------------ 3
5. Phương pháp nghiên cứu ----------------------------------------------------------------- 3
6. Đóng góp mới của luận văn -------------------------------------------------------------- 4
7. Bố cục của nghiên cứu --------------------------------------------------------------------- 4
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU ------------------------------------5
1.1. Các nghiên cứu nước ngoài------------------------------------------------------------- 5
1.2. Các nghiên cứu trong nước------------------------------------------------------------ 10
1.3. Nhận xét chung về các nghiên cứu--------------------------------------------------- 14
1.4. Khe hổng và định hướng nghiên cứu ----------------------------------------------- 14
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT --------------------------------------------------------------- 16
2.1. Chính sách kế toán ---------------------------------------------------------------------- 16
2.1.1. Khái niệm chính sách kế toán ----------------------------------------------------------------- 16
2.1.2. Vai trò của chính sách kế toán ---------------------------------------------------------------- 17
2.1.3. Mục tiêu của việc lựa chọn chính sách kế toán --------------------------------------------- 18
2.2. Các văn bản quy định liên quan đến chính sách kế toán hiện hành tại Việt
Nam --------------------------------------------------------------------------------------------- 18
2.3. Định nghĩa doanh nghiệp nhỏ và vừa ----------------------------------------------- 20
2.4. Đặc điểm ngành sản xuất dệt may ảnh hưởng đến việc lựa chọn CSKT ---- 22
2.5. Các nhân tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn chính sách kế toán ---------------- 26
2.6. Lý thuyết nền ---------------------------------------------------------------------------- 27
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ----------------------------------------------- 30
3.1. Quy trình nghiên cứu ------------------------------------------------------------------ 30
3.2. Phương pháp nghiên cứu -------------------------------------------------------------- 31
3.3. Mô hình nghiên cứu và phát triển giả thuyết nghiên cứu ---------------------- 33
: Chính sách kế toán
DN
: Doanh nghiệp
DNNVV
: Doanh nghiệp nhỏ và vừa
TP
: Thành Phố
TP.HCM
: Thành Phố Hồ Chí Minh
BCTC
: Báo cáo tài chính
TNDN
: Thu nhập doanh nghiệp
TSCĐ
: Tài sản cố định
DANH MỤC HÌNH VẼ, SƠ ĐỒ
Hình 3.1. Quy trình nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến Sự lựa chọn
chính sách kế toán
Hình 3.2. Mô hình nghiên cứu đề xuất các nhân tố ảnh hưởng đến việc lựa
chon chính sách kế toán tại các doanh nghiệp sản xuất ngành dệt may có quy
mô nhỏ và vừa trên địa bàn TP. HCM
1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
CSKT là các nguyên tắc, cơ sở và phương pháp kế toán cụ thể mà DN áp
dụng để trình bày BCTC. Lựa chọn chính sách kế toán là việc thiết lập các nguyên
tắc, cơ sở và phương pháp kế toán cụ thể mà doanh nghiệp áp dụng để lập và trình
bày báo cáo tài chính (VAS 29, 2005) nhằm đảm bảo sự phản ánh trung thực hợp lý
tình hình tài chính, tình hình hoạt động của doanh nghiệp, đáp ứng nhu cầu cung
cấp thông tin hữu ích cho số đông những người sử dụng báo cáo tài chính trong việc
đưa ra quyết định kinh tế (VAS 21, 2003). Như vậy CSKT của mỗi DN bị chi phối
bởi nhiều nhân tố chủ quan của DN đó.
Báo cáo tài chính là sản phẩm cuối cùng của công tác kế toán, là mục tiêu
của bộ phận kế toán để cung cấp thông tin tài chính cho các đối tượng bên trong và
bên ngoài công ty. Do tính đa dạng của đối tượng sử dụng thông tin nên thông tin
mà báo cáo tài chính cung cấp và mức độ chính xác, chi tiết của thông tin luôn là
chủ đề được nhiều đối tượng quan tâm. Với mỗi chính sách kế toán được lựa chọn
thì thông tin trình bày trên báo cáo tài chính là khác nhau và mỗi đơn vị kinh doanh
các ngành nghề khác nhau thì sự lựa chọn chính sách kế toán cũng khác nhau, với
mỗi loại hình doanh nghiệp sẽ có nhiều chiến lược kinh doanh và các nguồn thông
tin tài chính khác nhau nhằm thu hút vốn đầu tư từ bên ngoài, mà các thông tin tài
chính này do kế toán cung cấp. Chính vì vậy thông tin kế toán cung cấp ngày càng
thương hiệu của mình trên thị trường quốc tế. Riêng so với trong vùng và cả nước
thì tỷ trọng ngành dệt may tại TP. HCM chiếm một tỷ trọng khá lớn.
Xuất phát từ thực tế trên tác giả chọn đề tài “Các nhân tố ảnh hưởng đến
việc lựa chọn chính sách kế toán của DNNVV – Nghiên cứu đối với DN sản xuất
ngành dệt may trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh” nhằm tìm kiếm bằng chứng
thực nghiệm trong phạm vi cụ thể cho mối quan hệ này.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Bài nghiên cứu hướng đến mục tiêu chung: tìm hiểu các nhân tố ảnh hưởng
đến sự lựa chọn CSKT của doanh nghiệp sản xuất ngành dệt may có quy mô nhỏ và
vừa trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh.
3
Từ mục tiêu chung đã đề ra, tác giả đi vào chi tiết với hai mục tiêu cụ thể cho
bài nghiên cứu:
Thứ nhất: Nhận diện các nhân tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn chính sách kế
toán của các doanh nghiệp sản xuất ngành dệt may có quy mô nhỏ và vừa trên địa
bàn Thành Phố Hồ Chí Minh
Thứ hai: Đo lường mức độ tác động của các nhân tố ảnh hưởng đến sự lựa
chọn CSKT của doanh nghiệp sản xuất ngành dệt may có quy mô nhỏ và vừa trên
địa bàn thành phố Hồ Chí Minh hiện nay.
3. Câu hỏi nghiên cứu
Tương ứng với hai mục tiêu cụ thể như đã nêu ở trên, bài nghiên cứu trả lời
hai câu hỏi:
Câu hỏi thứ 1: Có những nhân tố nào ảnh hưởng đến sự lựa chọn CSKT của
doanh nghiệp sản xuất ngành dệt may có quy mô nhỏ và vừa trên địa bàn thành phố
Hồ Chí Minh hiện nay?
Câu hỏi thứ 2: Mức độ tác động của các nhân tố ảnh hưởng đến sự lựa chọn
CSKT của doanh nghiệp sản xuất ngành dệt may có quy mô nhỏ và vừa trên địa bàn
Luận văn được chia thành 05 chương với nội dung cụ thể như sau:
Chương 1: Tổng quan về vấn đề nghiên cứu
Chương 2: Cơ sở lý thuyết
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu
Chương 4: Kết quả nghiên cứu và bàn luận
Chương 5: Kết luận và gợi ý chính sách
5
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến sự lựa chọn chính sách kế toán trong
doanh nghiệp không phải là đề tài mới trong thời gian gần đây, hướng nghiên cứu
này đã được phát triển từ những năm 1980 với các nghiên cứu thực nghiệm của
Healy (1985) cho đến nghiên cứu của Watts và Zimmerman (1990) làm nền tảng
cho rất nhiều nghiên cứu sau này. Vì vậy trong chương này, tác giả tiến hành lược
khảo các nghiên cứu có liên quan đến việc lựa chọn chính sách kế toán trong và
ngoài nước nhằm làm cơ sở cho việc xây dựng mô hình trong đề tài ở các chương
sau.
1.1.
Các nghiên cứu nước ngoài
Nghiên cứu của Healy (1985): Ảnh hưởng của kế hoạch tiền thưởng đến lựa
chọn chính sách kế toán. Healy đã thực hiện nghiên cứu về ảnh hưởng của kế hoạch
tiền thưởng đối với người quản lý đến số liệu kế toán trên BCTC nhằm thu thập
bằng chứng rằng liệu các kế hoạch này có ảnh hưởng đến sự lựa chọn CSKT của
người quản lý không. Nghiên cứu đã khảo sát cách thức tính khoản thưởng cho nhà
quản lý và tính hiệu số giữa lợi nhuận trong kỳ và lợi nhuận tối thiểu:
Pt {max [Et – Lt]} hoặc Pt (min {Ut, max [ Et – Lt], 0})
với giả thiết người quản lý là người theo chủ nghĩa cơ hội và giả thiết chi phí kết
hợp đồng hiệu quả.
Giả thuyết kế hoạch tiền thưởng là giả thuyết nhà quản lý của các DN chi trả
tiền thưởng theo lợi nhuận có nhiều khả năng sẽ sử dụng phương pháp kế toán làm
tăng lợi nhuận kỳ báo cáo để tăng giá trị các khoản tiền thưởng theo lợi nhuận kỳ
báo cáo nhằm tăng giá trị khoản tiền thưởng trả cho mình. Tuy nhiên những thử
nghiệm ban đầu của giả thiết tiền thưởng cho thấy nó không thích hợp trong nhiều
trường hợp. Giả thuyết nợ (còn gọi là giả thuyết nợ trên vốn chủ sở hữu) cho rằng
nếu tỷ lệ nợ trên vốn chủ sở hữu của DN càng cao thì nhà quản lý có nhiều khả
năng sử dụng các phương pháp kế toán làm tăng lợi nhuận để tránh vi phạm trong
những cam kết vay vốn. Cuối cùng, giả thuyết chi phí chính trị cho rằng các DN lớn
có nhiều khả năng lựa chọn CSKT làm giảm lợi nhuận báo cáo hơn là các DNNVV
để giảm thiểu chi phí chính trị. Bằng chứng thực nghiệm thu được nhìn chung phù
hợp với giả thuyết chi phí chính trị. Sau Watts và Zimmerman có rất nhiều nghiên
7
cứu được xây dựng trên các giả thuyết này và có thể được phát triển thêm để dự
đoán những quy luật thực nghiệm mới.
Nghiên cứu của Steven Young (1998): Mục đích của nghiên cứu Steven
Young là xác định các nhân tố quyết định sự lựa chọn CSKT quản trị ở nước Anh
được thực hiện tại các công ty thuộc ngành công nghiệp và thương mại. Các giả
thuyết nghiên cứu của tác giả kế thừa từ nghiên cứu của Watts và Zimmerman trên
cơ sở lý thuyết chi phí ký kết hợp đồng, lý thuyết ổn định lợi nhuận và lý thuyết tín
hiệu thông tin. Lý thuyết chi phí ký kết hợp đồng chi phối giả thuyết nợ và giả
thuyết kế hoạch tiền thưởng dựa trên lợi nhuận có mối quan hệ tích cực với sự lựa
chọn kế toán.
Kết quả nghiên cứu cho thấy việc lựa chọn CSKT ổn định lợi nhuận là theo
nguyên tắc kế toán thận trọng và các nhà quản lý sử dụng CSKT để thấy được dấu
công bố nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến sự lựa chọn CSKT của các DN
thông qua một cuộc khảo sát các nhà quản lý tài chính của 200 DN lớn nhất ở Hy
Lạp. Theo những người tham gia vào cuộc khảo sát, sự lựa chọn CSKT chịu ảnh
hưởng bởi nhận thức các bên liên quan, mục tiêu lợi nhuận, mục tiêu tối thiểu hóa
nghĩa vụ thuế của DN tuy nhiên những mục tiêu này có thể không đồng nhất thậm
chí mâu thuẫn với nhau bởi chiến lược giảm thuế có nhiều khả năng làm phát sinh
chi phí ngoài thuế đáng kể mà những chi phí này có thể sẽ thúc đẩy DN đi lệch với
chiến lược giảm thuế.
Tác giả đã ghi lại bằng chứng về mức độ mà DN muốn báo cáo lợi nhuận
giảm (để giảm nghĩa vụ thuế) và mức độ DN muốn báo cáo lợi nhuận tăng (để tác
động tích cực đến quyết định cho vay của ngân hàng, tránh vi phạm cam kết vay
vốn hay tăng giá trị cổ phiếu của DN). Kết quả nghiên cứu này cũng có thể áp dụng
cho những DN hoạt động trong các quốc gia có môi trường tương tự như Hy Lạp,
những phát hiện của nghiên cứu này có thể tạo điều kiện cho các chuyên gia tiến
hành phân tích tài chính quốc tế, đồng thời góp phần vào việc giải thích các quyết
định kế toán của những DN ở Hy Lạp. Bên cạnh đó, nghiên cứu vẫn còn có hạn chế
nhất định như không thể đảm bảo loại trừ hết câu trả lời mang tính chủ quan cá
nhân, vì vậy cần có một cuộc điều tra thực nghiệm nữa dựa trên báo cáo hàng năm
để cung cấp thêm bằng chứng liên quan đến các nhân tố ảnh hưởng đến CSKT của
DN và cần điều tra khả năng lựa chọn CSKT chịu tác động bởi chiến lược tối thiểu
9
hóa thuế TNDN dựa trên tấm chắn thuế vì ở Hy Lạp nhiều DN sử dụng tỷ lệ nợ vay
cao.
Nghiên cứu của Colin R. Dey và cộng sự (2007): Colin R. Dey và cộng sự
tiến hành nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến sự lựa chọn CSKT dưới những giả
thuyết của lý thuyết thực chứng đã có (Watts và Zimmerman (1990)) là giả thuyết
thuế. Bằng chứng thu thập được phù hợp với giả thuyết tiền thưởng, giả thuyết nợ
CSKT của các DNNVV ở Rumani. Nhóm dựa trên bảng tổng hợp nhân tố đã nghiên
cứu của Bosnyák (2003) tại các DNNVV ở Hungary có sự điều chỉnh. Dữ liệu được
thu thập thông qua khảo sát yêu cầu người trả lời chỉ ra mức độ mà mỗi nhân tố
được liệt kê trong bảng câu hỏi ảnh hưởng đến sự lựa chọn phương pháp kế toán
của DN.
Kết quả có 6 nhân tố ảnh hưởng đến sự lựa chọn CSKT ở Rumani là nhân tố:
thông tin, thuế, sự tin cậy của các đối tượng bên ngoài doanh nghiệp, đáp ứng yêu
cầu các đối tượng bên trong, chi phí, tính trung thực và hợp lý báo cáo tài chính thu
được từ phân tích nhân tố khám phá. Trong đó nhân tố thông tin có tác động mạnh
nhất đến sự lựa chọn phương pháp kế toán, tiếp theo là nhân tố thuế, các nhân tố
còn lại tác động yếu. Tuy nhiên đó không phải là kết quả mong đợi của nhóm tác
giả bởi vì theo lý thuyết kế toán tài chính, DN lựa chọn những phương pháp kế toán
để lập BCTC phản ánh trung thực và hợp lý tình hình tài chính, tình hình hoạt động
của DN, nhưng nhân tố này là nhân tố yếu nhất trong việc giải thích sự thay đổi của
CSKT. Ngoài ra, có thể thấy nghiên cứu này tập hợp khá đầy đủ các nhân tố ảnh
hưởng đến sự lựa chọn CSKT của DNNVV đã được khám phá trước đó.
1.2.
Các nghiên cứu trong nước
Nghiên cứu của Bùi Thị Thu Lan (2016): Nghiên cứu các nhân tố ảnh
hưởng đến việc lựa chọn CSKT của các DN thủy sản trên địa bàn Tỉnh Bạc Liêu.
Nghiên cứu sử dụng phương pháp định tính thực hiện nghiên cứu tại bàn để tìm
hiểu các nhân tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn CSKT sau đó thảo luận tay đôi với
các chuyên gia để khám phá, điều chỉnh và bổ sung thang đo lựa chọn CSKT, thang
đo các nhân tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn CSKT của các DN thủy sản trên địa
bàn tỉnh Bạc Liêu. Nghiên cứu cũng sử dụng phương pháp định lượng áp dụng mô
11
12
hồi quy bội (MLR) tìm ra mô hình các nhân tố ảnh hưởng. Dựa vào các nghiên cứu
trước, tác giả đưa ra giả thuyết ảnh hưởng của nhân tố “Thuế” đến sự lựa chọn
CSKT của các DNNVV. Kết quả của bài nghiên cứu cho thấy sự thay đổi trong lựa
chọn CSKT ảnh hưởng 92,4% bởi nhân tố “Thuế”, 7,6% còn lại là do sai số ngẫu
nhiên hoặc nhân tố khác ngoài mô hình.
Nghiên cứu của Nguyễn Thị Phương Hồng và Nguyễn Thị Kim Oanh
(2014): nghiên cứu chỉ ra các nhân tố ảnh hưởng đến sự lựa chọn CSKT dựa trên
ảnh hưởng kinh tế mà các chính sách này mang lại. Nhóm tác giả xác định sơ bộ các
nhân tố ảnh hưởng đến sự lựa chọn CSKT là: chi phí thuế TNDN, mức vay nợ, khả
năng vi phạm hợp đồng vay nợ, chính sách thưởng dành cho nhà quản trị, tình
trạng niêm yết, sự ổn định giữa các mức lợi nhuận, mức độ sử dụng các hợp đồng
liên quan các chỉ tiêu kế toán. Nghiên cứu đã sử dụng phương pháp thống kê mô tả
để tìm ra các nhân tố có giá trị trung bình cao, sau đó sử dụng T-test để kiểm định
sự khác biệt trong quan điểm về các nhân tố ảnh hưởng đến sự lựa chọn CSKT của
hai nhóm đối tượng khảo sát và đề xuất một số kiến nghị để cải thiện chất lượng
BCTC. Nghiên cứu đã hệ thống lại các nghiên cứu trước về vấn đề xác định và đo
lường tác động của các nhân tố ảnh hưởng đến sự lựa chọn CSKT, tuy nhiên vẫn
còn hạn chế vì chỉ tổ hợp các nhân tố rời rạc trong các nghiên cứu trước mà chưa
tìm được mô hình mối quan hệ giữa các nhân tố ảnh hưởng đến sự lựa chọn CSKT
của DN.
Phạm Thị Bích Vân (2013): thực hiện nghiên cứu các cách đo lường sự
trung thực của chỉ tiêu lợi nhuận trên BCTC giúp cho nhà đầu tư lựa chọn danh mục
cổ phiếu tránh nguy cơ mất vốn đồng thời giúp các nhà hoạch định chính sách nắm
bắt tình hình quản trị lợi nhuận của DN niêm yết để ban hành các giải pháp bảo vệ
nhà đầu tư vào thị trường chứng khoán Việt Nam. Trong nghiên cứu tác giả cũng đã
đi sâu tìm hiểu động cơ quản trị lợi nhuận cũng là động cơ dẫn đến sự lựa chọn
nghiệp, kết quả nghiên cứu của tác giả cho thấy với mỗi loại hình doanh nghiệp sẽ
có các nguyên nhân điều chỉnh lợi nhuận khác nhau. Thường đối với các công ty cổ
phần, động cơ điều chỉnh lợi nhuận nhằm tiết kiệm chi phí thuế thu nhập doanh
nghiệp không phải lúc nào cũng được ưu tiên lựa chọn mà có thể động cơ điều
chỉnh tăng lợi nhuận thu hút vốn đầu tư từ bên ngoài chiếm ưu thế hơn. Các loại
14
hình doanh nghiệp còn lại thường sẽ ưu tiên lựa chọn điều chỉnh giảm lợi nhuận
nhằm tiết kiệm chi phí thuế TNDN vì ít quan tâm đến việc điều chỉnh tăng lợi
nhuận để thu hút vốn đầu tư từ bên ngoài hay bán cổ phần.
1.3. Nhận xét chung về các nghiên cứu
Trong các công trình nghiên cứu trên thế giới có rất nhiều nhân tố ảnh hưởng
đến sự lựa chọn CSKT được khám phá, mỗi công trình đều có ý nghĩa nghiên cứu
riêng và trong mỗi công trình các nhân tố được nghiên cứu không hoàn toàn giống
nhau vì mục tiêu nghiên cứu của các công trình này khác nhau và xuất phát từ sự
khác biệt về đối tượng, phương pháp nghiên cứu, và đặc điểm nền kinh tế của các
quốc gia nghiên cứu. Do đó tác giả tìm kiếm mô hình phù hợp với mục tiêu nghiên
cứu và đặc điểm của doanh nghiệp sản xuất ngành dệt may có quy mô nhỏ và vừa
trong bối cảnh nền kinh tế ở Việt Nam cụ thể là TP.HCM.
Đối với các nghiên cứu trong nước, hướng nghiên cứu các nhân tố ảnh
hưởng đến sự lựa chọn CSKT không phải là hướng nghiên cứu mới vì trên thế giới
đã có rất nhiều nghiên cứu lý thuyết lẫn thực nghiệm, tuy nhiên ở Việt Nam đến
thời điểm hiện tại còn rất ít công trình nghiên cứu thực nghiệm nào đi sâu vào phân
tích mối quan hệ và mức độ tác động của các nhân tố ảnh hưởng đến sự lựa chọn
CSKT một cách đầy đủ, dưới quan điểm của các nhóm đối tượng khảo sát, hoặc chỉ
chú trọng đến nhân tố “Thuế” mà xem nhẹ các yếu tố khác.
1.4. Khe hổng và định hướng nghiên cứu
Từ việc xem xét tổng quan các công trình nghiên cứu trong nước và quốc tế,
16
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT
Nội dung chính chương này trình bày các khái niệm và vấn đề có liên quan
trong luận văn như CSKT, vai trò của CSKT, mục tiêu của CSKT, các tiêu chí xác
định DNNVV, các quy định hiện hành về CSKT ở Việt Nam, lý thuyết nền dùng để
giải thích cho các nhân tố ảnh hưởng sẽ nghiên cứu và thang đo các nhân tố ảnh
hưởng đến sự lựa chọn CSKT của DNNVV
2.1. Chính sách kế toán
2.1.1. Khái niệm chính sách kế toán
Theo chuẩn mực kế toán quốc tế số 8 (IAS 8) chính sách kế toán là nguyên
tắc cụ thể, căn cứ, quy ước, quy tắc và thông lệ được áp dụng bởi một thực thể trong
việc chẩn bị và trình bày báo cáo tài chính. Các chính sách kế toán là các chính sách
và thủ tục cụ thể được sử dụng bởi một công ty để chuẩn bị báo cáo tài chính.
Theo chuẩn mực kế toán Việt Nam số 29 (VAS 29, 2005) chính sách kế toán
là các nguyên tắc, cơ sở và phương pháp kế toán cụ thể được DN áp dụng trong việc
lập và trình bày BCTC. CSKT áp dụng ở mỗi DN được quy định trong chuẩn mực
kế toán và chế độ kế toán hiện hành cho phép lựa chọn phù hợp với quy mô, đặc
điểm và tính chất hoạt động sản xuất kinh doanh của DN đó.
Tổng hợp từ các nội dung có liên quan trong Hệ thống chuẩn mực kế toán
Việt Nam, Trần Đình Khôi Nguyên (2012) cho rằng CSKT bao gồm ba phần lớn:
Phần thứ nhất, CSKT là những nguyên tắc chung mà tất cả mọi DN phải áp
dụng (cơ sở dồn tích, nguyên tắc thận trọng, nguyên tắc phù hợp, nguyên tắc giá
gốc…).
Phần thứ hai, CSKT là những lựa chọn về phương pháp kế toán trong khuôn khổ
phạm vi từng chuẩn mực cho phép, tùy thuộc vào đặc điểm của giao dịch, điều kiện
và khả năng vận dụng của từng DN (phương pháp tính giá hàng tồn kho, phương
pháp khấu hao TSCĐ…).