VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
LÊ THỊ DIỆU LINH
GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG
MUA BÁN HÀNG HÓA TỪ THỰC TIỄN XÉT XỬ
CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP HUYỆN VÀ
CẤP TỈNH Ở THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI, năm 2018
VIỆN HÀN LÂM KHOA
HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM HỌC
VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
LÊ THỊ DIỆU LINH
GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG
MUA BÁN HÀNG HÓA TỪ THỰC TIỄN XÉT XỬ
CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP HUYỆN VÀ
CẤP TỈNH Ở THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
Chuyên ngành: Luật Kinh tế
Mã số: 838.01.07
VÀ CẤP TỈNH Ở THÀNH PHỐ ĐÀ
62
3.1.
Phương hướng hoàn thiện pháp luật Việt Nam về giải quyết tranh chấp hợp
đồng
KẾT LUẬN.......................
TÀI LIỆU THAM KHẢO
BLTTDS
HĐMBHH
TAND
WTO
: Bộ luật Tố tụng dân sự : Hợp đồng mua bán hàng hóa : Tòa án nhân
dân
: Tổ chức Thương mại Thế giới (World Trade Organization)
Số hiệu bảng
Tên bảng
Trang
hiện thông qua hình thức pháp lý là hợp đồng mua bán hàng hóa. Việc nắm bắt, hiểu rõ và
thực hiện hiệu quả các quy định của pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa là điều kiện
tất yếu giúp các chủ thể kinh doanh ký kết và thực hiện hoạt động kinh doanh thuận lợi,
tránh được những hậu quả không mong muốn. Tuy nhiên, cùng với sự chuyển mình lớn
mạnh của nền kinh tế, các quan hệ thương mại ngày càng phát triển mạnh mẽ, đa dạng và
phức tạp, tranh chấp xảy ra là điều không thể tránh khỏi. Để giải quyết tranh chấp trong
kinh doanh thương mại mà cụ thể là tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa, các bên cần
phải lựa chọn một phương thức giải quyết tranh chấp phù hợp, có thể là Thương lượng, Hòa
giải, hay Tòa án hoặc Trọng tài tùy vào mục đích, nhu cầu của các chủ thể và hiệu quả của
từng giải pháp.
Thực tế cho thấy, giải quyết tranh chấp bằng Tòa án thường được các chủ thể lựa
chọn khi các phương thức Thương lượng, Hòa giải, Trọng tài không mang lại hiệu quả. Bởi
ngoài những ưu điểm là cơ quan tài phán quốc gia, phán quyết mang tính cưỡng chế nghiêm
ngặt thì phương thức này tồn tại một số bất cập khiến các doanh nghiệp băn khoăn trong
việc lựa chọn như: thủ tục rườm rà, thiếu linh hoạt, thời gian giải quyết kéo dài, nguyên tắc
7
xét xử công khai có thể ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp khi bí mật
kinh doanh bị tiết lộ... Ở vấn đề này, pháp luật Việt Nam quy định khá đầy đủ về nguyên
tắc, thẩm quyền, trình tự thủ tục thụ lý và xét xử đối với tranh chấp liên quan đến hợp đồng
mua bán hàng hóa. Tuy nhiên, trong quá trình áp dụng, các quy định dần bộc lộ những hạn
chế của mình. Điều này thể hiện rõ trong thực tiễn xét xử của một số Tòa án ở các trung tâm
kinh tế của nước ta, trong đó có thành phố Đà Nẵng.
Thành phố Đà Nẵng là một trong năm thành phố trực thuộc Trung ương, đây cũng là
một trong những trung tâm kinh tế lớn của nước ta. Với điều kiện giao thông thuận lợi, là
cầu nối giữa nền kinh tế miền Bắc và miền Nam, hoạt động mua bán hàng hóa tại đây vô
cùng phát triển, kéo theo đó là các tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa diễn ra nhiều
hơn. Nghiên cứu các quy định về giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa từ thực
lý của hợp đồng mua bán hàng hóa qua thực tiễn xét xử của tòa án và trọng tài tại Việt
Nam, Trường Đại học Luật TP.HCM; ...
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu về vấn đề giải quyết tranh chấp HĐMBHH
khá nhiều. Mỗi công trình đều có những giá trị riêng, đóng góp vào quá trình hoàn thiện
pháp luật Việt Nam về giải quyết tranh chấp HĐMBHH. Tuy nhiên, ở mỗi thời kỳ phát triển
của nền kinh tế đất nước, đặt ra những thách thức khác nhau và ở mỗi địa phương khi thực
hiện pháp luật lại bộc lộ những vướng mắc cụ thể. Do đó, một công trình nghiên cứu
chuyên sâu, đánh giá các quy định pháp luật hiện hành về giải quyết tranh chấp HĐMBHH
từ thực tiễn xét xử của Tòa án nhân dân cấp huyện và cấp tỉnh ở thành phố Đà Nẵng và từ
đó đưa ra được giải pháp cụ thể nhằm nâng cao hiệu quả giải quyết tranh chấp HĐMBHH
tại Việt Nam là một đề tài cấp thiết và có tính ứng dụng.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu một cách có hệ thống nội dung của các phương thức giải quyết
tranh chấp HĐMBHH, liên hệ thực tiễn từ việc xét xử các vụ tranh chấp tại Tòa án nhân dân
cấp huyện và cấp tỉnh ở thành phố Đà Nẵng. Từ đó, phân tích nguyên nhân, đánh giá thực
trạng nhằm đề ra những giải pháp hoàn thiện pháp luật Việt Nam về lĩnh vực giải quyết
tranh chấp HĐMBHH, nâng cao hiệu quả xét xử tại TAND hai
1
0
cấp ở thành phố Đà Nẵng.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Thứ nhất, tìm hiểu và phân tích các khái niệm, đặc điểm của HĐMBHH và tranh chấp
HĐMBHH. Làm rõ những vấn đề lý luận của các phương thức giải quyết tranh chấp
HĐMBHH. Từ đó, rút ra ý nghĩa của việc giải quyết hiệu quả những tranh chấp đó.
Thứ hai, phân tích các quy định pháp luật của Việt Nam về giải quyết tranh chấp
pháp luật, các vụ việc trong thực tiễn giải quyết tranh chấp.
Phương pháp phân tích, tổng hợp được tác giả sử dụng chủ yếu trong chương một.
Qua việc thu thập các tài liệu, tác giả tiến hành so sánh, tổng hợp các quan điểm, ý kiến
khác nhau để hệ thống hóa các vấn đề lý luận về giải quyết tranh chấp HĐMBHH.
Phương pháp phân tích, thống kê được sử dụng chủ yếu ở chương hai luận văn để từ
đó đánh giá thực trạng các quy định pháp luật về giải quyết tranh chấp HĐMBHH bằng Tòa
án và thực tiễn giải quyết tranh chấp HĐMBHH tại Tòa án nhân dân cấp huyện và cấp tỉnh
ở thành phố Đà Nẵng.
Chương ba của luận văn được tác giả sử dụng phương pháp diễn giải, quy nạp để đưa
ra các yêu cầu, phương hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về giải quyết tranh chấp
HĐMBHH, nâng cao hiệu quả xét xử, thực thi pháp luật về giải quyết tranh chấp HĐMBHH
tại tòa án nhân dân cấp huyện và cấp tỉnh ở thành phố Đà Nang.
Ngoài ra, luận văn còn sử dụng một số vụ án trên thực tế phát sinh để phân tích, bình
luận dưới góc độ khoa học.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1. Ý nghĩa lý luận
Kết quả của luận văn góp phần làm sáng tỏ các vấn đề lý luận về HĐMBHH, về tranh
chấp và giải quyết tranh chấp HĐMBHH theo những quy định của pháp luật Việt Nam hiện
hành trong thời kỳ hội nhập kinh tế mới.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Luận văn góp phần hoàn thiện những quy định của pháp luật về giải quyết tranh chấp
HĐMBHH, nâng cao hiệu quả công tác trong ngành Tòa án nói chung và TAND cấp huyện
và cấp tỉnh ở thành phố Đà Nang nói riêng.
7. Cơ cấu của luận văn:
Ngoài Mục lục, Danh mục từ viết tắt, Lời mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu
tham khảo, Luận văn gồm có 3 chương:
1
nhưng có thể xác định được bản chất của HĐMBHH thông qua khái niệm Hợp đồng mua
bán tài sản trong Bộ Luật dân sự. Cụ thể, Điều 430 BLDS 2015 quy định: “Hợp đồng mua
bán tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên bán chuyển quyền sở hữu tài sản
cho bên mua và bên mua trả tiền cho bên bán”. Đồng thời, tại Khoản 2 Điều 3 Luật Thương
mại 2005 cũng quy định hàng hóa bao gồm “tất cả các loại động sản, kể cả động sản hình
thành trong tương lai; Những vật gắn liền với đất đai”.
Như vậy, có thể thấy HĐMBHH trong thương mại là sự thỏa thuận giữa các bên, theo
đó bên bán chuyển giao quyền sở hữu hàng hóa cho bên mua và bên mua thanh toán tiền
cho bên bán. Đây là một dạng cụ thể của hợp đồng mua bán tài sản trong luật dân sự Việt
Nam với đối tượng là hàng hóa nói riêng và với mục đích sinh lời.
1.1.2. Đặc điểm của hợp đồng mua bán hàng hóa
Cũng như những loại hợp đồng khác, HĐMBHH mang những đặc điểm chung của
một hợp đồng như:
Đầu tiên, đây là sự thỏa thuận giữa hai hay nhiều bên chủ thể, là sự thống nhất ý chí
để tạo lập một quan hệ pháp lý trên tinh thần tự nguyện, không trái pháp luật và đạo đức xã
hội. Thêm vào đó, sự thống nhất ý chí của các bên làm phát sinh quyền và nghĩa vụ đối ứng
giữa các bên với nhau. Tức là mỗi bên trong hợp đồng mua bán đều bị ràng buộc bởi nghĩa
vụ đối với bên kia, đồng thời cũng là bên có quyền đòi hỏi bên kia thực hiện nghĩa vụ đối
với mình. Trong HĐMBHH hóa tồn tại các quyền và nghĩa vụ chính mang tính chất qua lại
và liên quan mật thiết với nhau: là nghĩa vụ giao hàng đúng thỏa thuận của bên bán và
nghĩa vụ thanh toán của bên mua; quyền nhận hàng và quyền nhận thanh toán. Ngoài ra,
hiệu lực của hợp đồng là hiệu lực bắt buộc riêng, được các bên tự thỏa thuận chứ không
phải hiệu lực bắt buộc chung như pháp luật.
Bên cạnh những đặc điểm chung kể trên, là một hình thức pháp lý của quan hệ mua
bán hàng hóa nói riêng, HĐMBHH còn có những đặc điểm cụ thể sau:
Thứ nhất, về chủ thể của HĐMBHH. Hợp đồng mua bán hàng hóa được thiết lập chủ
yếu giữa các thương nhân. Theo Khoản 1 Điều 6 Luật Thương mại 2005, “ Thương nhân
bao gồm tổ chức kinh tế được thành lập hợp pháp, cá nhân hoạt động thương mại một cách
bản, điển hình là hợp đồng giao thương quốc tế. Trên thực tế, tuy có nhiều hình thức khác
nhau nhưng trong hoạt động kinh doanh thương mại, nhất là hoạt động mua bán hàng hóa,
với đối tượng là hàng hóa có quy mô lớn và giá trị lớn, để đảm bảo tính an toàn, minh bạch
và lợi ích của các bên thì hình thức hợp đồng bằng văn bản hay được các bên ưu tiên lựa
chọn.
Thứ ba, về đối tượng của HĐMBHH. Hợp đồng mua bán hàng hóa có đối tượng là
hàng hóa, cụ thể là tất cả các loại động sản, kể cả động sản được hình thành trong tương lai
hoặc bất động sản được phép lưu thông thương mại [19, Đ.3]. Theo quy định của pháp luật
dân sự, động sản là những tài sản không phải là bất động sản, còn bất động sản bao gồm:
đất đai, nhà, công trình xây dựng gắn liền với đất đai; tài sản khác gắn liền với đất đai, nhà,
công trình xây dựng và tài sản khác theo quy định của
pháp luật [13, Đ.107].
Như vậy, với tư cách là đối tượng của HĐMBHH, hàng hóa trong pháp luật Việt Nam
được hiểu là hàng hóa đã tồn tại vào thời điểm thiết lập hợp đồng hoặc hàng hóa sẽ hình
thành trong tương lai. Đồng thời, hàng hóa trong HĐMBHH cũng không thuộc hàng cấm
kinh doanh, trường hợp hàng hóa thuộc danh mục hạn chế kinh doanh hoặc kinh doanh có
điều kiện thì cần phải đáp ứng các điều kiện theo quy định tại Nghị định 59/2006/NĐ-CP
ngày 12 tháng 06 năm 2006 quy định chi tiết Luật Thương mại về hàng hóa, dịch vụ cấm
kinh doanh, hạn chế kinh doanh và kinh doanh có điều kiện (Ngoại trừ khoản 3 của phụ lục
II đã bị bãi bỏ theo quy định của Nghị định 39/2009/NĐ-CP về vật liệu nổ công nghiệp).
Thứ tư, về nội dung của HĐMBHH. Nội dung của hợp đồng mua bán hàng hóa bắt
buộc theo quy định pháp luật của mỗi quốc gia. Cũng như một hợp đồng dân sự, HĐMBHH
yêu cầu phải có các điều khoản thể hiện quyền và nghĩa vụ của mỗi bên giao kết theo thỏa
thuận. Nội dung này không trái với đạo đức xã hội và những quy định của pháp luật thương
mại và pháp luật có liên quan. Trong đó, phải đảm bảo những quyền và nghĩa vụ cơ bản
như: bên bán có nghĩa vụ chuyển hàng hóa và quyền sở hữu cho bên mua và nhận thanh
toán, bên mua có nghĩa vụ thanh toán và nhận hàng hóa, quyền sở hữu từ bên bán. Luật
Thương mại 2005 không quy định cụ thể nội dung, tuy nhiên dựa vào đặc điểm chung của
luật Việt Nam là HĐMBHH được thực hiện dưới một trong các hình thức: xuất khẩu, nhập
khẩu, tạm nhập, tái xuất, tạm xuất, tái nhập và chuyển khẩu [19, Đ27]. Hợp đồng này được
thực hiện bởi ít nhất một bên chủ thể là tổ chức, cá nhân nước ngoài với đối tượng hàng hóa
là động sản. Hay nói cách khác, hàng hóa này có thể được dịch chuyển qua biên giới của
một quốc gia hoặc đưa vào khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ của Việt Nam được coi là
khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật.
1.2. Khái quát về giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa
1.2.1.
Khái niệm tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa
Hiểu theo nghĩa thông thường, tranh chấp là “giành nhau một cách giằng co cái
không rõ thuộc về bên nào, là đấu tranh giằng co khi có ý kiến bất đồng, thường là trong
vấn đề quyền lợi giữa hai bên" [11, tr 973]. Trong thực tiễn đời sống, quyền lợi đó có thể là
lao động, dân sự, kinh doanh thương mại... mà các bên mong muốn có được. Trên phương
diện pháp lý, tranh chấp là sự không thỏa thuận được các vấn đề về sự kiện pháp lý.
Trong quá trình thực hiện hoạt động thương mại nói chung hay hoạt động mua bán
hàng hóa nói riêng, việc tranh chấp giữa các chủ thể kinh doanh là điều không thể tránh
khỏi. Vì hoạt động mua bán hàng hóa là một trong những hoạt động thương mại quy định
tại Luật thương mại 2005 nên có thể hiểu tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa chính là
tranh chấp thương mại theo quy định của pháp luật thương mại.
Trước đây, ở Việt Nam trong thời gian dài, khái niệm tranh chấp phát sinh từ hoạt
động sản xuất, kinh doanh và chủ yếu từ hợp đồng kinh tế đầu tiên được sử dụng rộng rãi là
tranh chấp kinh tế. Song song tồn tại với khái niệm tranh chấp kinh tế là tranh chấp thương
mại được quy định tại điều 238 Luật thương mại năm 1997: “Tranh chấp thương mại là
tranh chấp phát sinh do việc không thực hiện hoặc thực hiện không đúng hợp đồng trong
hoạt động thương mại”.
thương mại, các bên vừa hợp tác đồng thời vừa cạnh tranh nhau để đạt được những mục
đích đề ra. Do đó, việc phát sinh những mâu thuẫn, bất đồng trong quá trình thực hiện
quyền và nghĩa vụ của các bên là điều tất yếu.
Thứ tư, việc giải quyết tranh chấp HĐMBHH do các bên tranh chấp tự định đoạt.
Pháp luật không áp đặt mà ghi nhận nhiều phương thức giải quyết tranh chấp HĐMBHH
như: thương lượng, hòa giải, Trọng tài và Tòa án. Do đó, các bên trong tranh chấp có thể tự
do lựa chọn phương pháp phù hợp để đạt được kết quả tốt nhất trên cơ sở tôn trọng pháp
luật về giải quyết tranh chấp HĐMBHH.
1.2.3. Khái niệm, yêu cầu giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa Hoạt
động mua bán hàng hóa diễn ra thường xuyên và liên tục trên thương trường. Cùng với đó,
là những hệ quả phát sinh có thể do sự cố ý của một trong các bên chủ thể hoặc cũng có thể
phát sinh ngoài phạm vi kiểm soát của các chủ thể tham gia. Để bảo vệ quyền lợi và lợi ích
chính đáng của các chủ thể, tạo nên một môi trường kinh doanh công bằng, lành mạnh, bên
cạnh sự tất yếu là phải có khung pháp lý bao quát, chặt chẽ thì sự cần thiết phải có những
giải pháp phù hợp nhằm giải quyết khi tranh chấp xảy ra.
Giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa có thể hiểu là những cách thức,
phương pháp nhằm hạn chế, xóa bỏ những bất đồng, xung đột, loại trừ những tranh chấp đã
phát sinh và khắc phục hậu quả không mong muốn.
1.2.4. Các phương thức giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa
Trong quá trình hoạt động kinh doanh thương mại mua bán hàng hóa, tranh chấp
xảy ra là điều khó tránh khỏi. Vì vậy, một khi tranh chấp xảy ra, việc cần thiết là tìm được
một giải pháp thật sự phù hợp nhằm giải quyết hiệu quả, bảo vệ quyền lợi và lợi ích của bên
bị vi phạm, hàn gắn quan hệ kinh doanh giữa các bên tranh chấp và ở mặt nào đó hạn chế
những thiệt hại cho nền kinh tế.
Pháp luật dân sự Việt Nam nói chung và thương mại hàng hóa nói riêng không bắt
buộc các chủ thể phải giải quyết tranh chấp bằng một biện pháp cụ thể nào mà tôn trọng sự
thỏa thuận, tự định đoạt của các chủ thể. Do đó, có nhiều hình thức giải quyết tranh chấp
mà các bên tự do lựa chọn phù hợp với từng hoàn cảnh cụ thể. Đó có thể là thương lượng,
chấm dứt những mâu thuẫn đang tồn tại.
Giải quyết tranh chấp từ HĐMBHH bằng phương thức hòa giải có những ưu điểm và
hạn chế sau:
về ưu điểm: Hình thức này cũng giống thương lượng có ưu điểm là đơn giản, thuận
tiện, nhanh chóng và linh hoạt, ít tốn kém vì hơn ai hết, các bên tranh chấp là những người
hiểu rõ nhất tranh chấp của mình. Với hòa giải, các bên còn có thể chủ động xử lý trong
nhiều tình huống khác nhau vì họ không bị ràng buộc trong việc thực hiện các trình tự, thủ
tục cụ thể nào. Thêm vào đó, bên trung gian hòa giải thường là người có trình độ chuyên
môn và kinh nghiệm về lĩnh vực tranh chấp, họ có khả năng làm cho ý chí của các bên đồng
thuận và dễ gặp nhau, do đó hiệu quả thành công cao. Kết quả hòa giải được ghi nhận và
chứng kiến cuả người thứ ba nên mức độ tôn trọng và khả năng tuân thủ cam kết cũng cao
hơn. Thêm một ưu điểm không nhỏ của hòa giải là quá trình giải quyết tranh chấp bằng hòa
giải các bên được phép bảo mật mọi thông tin. Trong khi giải quyết tại Tòa án thì điều này
không được đảm bảo do Tòa án thực hiện xét xử theo nguyên tắc công khai. Trong tố tụng,
việc hòa giải thành còn giảm áp lực xét xử đáng kể cho Tòa án.
Bên cạnh những ưu điểm trên, việc giải quyết tranh chấp bằng hòa giải cũng có
những hạn chế như việc hoà giải thành hay không còn phụ thuộc phần nhiều vào ý chí tự
nguyện của các bên. Bên cạnh đó, so với thương lượng, phương thức này tốn kém hơn do
các bên tranh chấp phải trả chi phí cho bên trung gian hòa giải; vấn đề đảm bảo uy tín và bí
mật kinh doanh cũng hạn chế hơn do chịu ảnh hưởng ít nhiều của bên thứ ba.
I.2.4.3. Trọng tài
Trọng tài là một phương thức giải quyết tranh chấp được sử dụng phổ biến trên thế
giới, đặc biệt để giải quyết những tranh chấp kinh doanh thương mại có yếu tố nước ngoài.
Đây là một biện pháp giải quyết tranh chấp ngoài Tòa án với cách thức giải quyết do các
bên tranh chấp thỏa thuận lựa chọn thông qua hoạt động của hội đồng Trọng tài hoặc Trọng
tài viên theo trình tự, thủ tục luật định. Hội đồng Trọng tài hoặc Trọng tài viên có vai trò là
bên thứ ba độc lập sẽ thực hiện nhiệm vụ của mình nhằm tháo gỡ mâu thuẫn, đưa ra một
phán quyết pháp lý buộc các bên tranh chấp phải thực hiện. Tại Việt Nam, tổ chức và hoạt
hòa giải không đạt hiệu quả trong khi hình thức Trọng tài vẫn còn khá mới mẻ trong vấn đề
giải quyết tranh chấp ở nước ta.
Giải quyết tranh chấp HĐMBHH bằng Tòa án phải tuân thủ nghiêm ngặt các quy
định về thẩm quyền, trình tự, thủ tục, nguyên tắc theo pháp luật tố tụng mà cụ thể là theo
quy định của BLTTDS 2015 và dựa trên các văn bản pháp luật liên quan như Bộ luật dân
sự, Luật Thương mại... Việc giải quyết tranh chấp có thể trải qua hai cấp xét xử là sơ thẩm
và phúc thẩm. Điều này tạo cho các bên tranh chấp thực hiện quyền tố tụng của mình, được
đảm bảo quyền lợi khi Tòa án cấp phúc thẩm xem xét lại bản án sơ thẩm xét xử không
đúng. Trong một số trường hợp bản án đã có hiệu lực pháp luật còn có thể được xét lại theo
thủ tục đặc biệt: giám đốc thẩm hoặc tái thẩm. Vì là hình thức giải quyết mang tính chất
quyền lực nhà nước nên các phán quyết của Tòa án bị ràng buộc về mặt pháp lý. Nếu một
trong các bên không tuân thủ sẽ bị cưỡng chế thi hành theo quy định của pháp luật bằng bộ
máy cưỡng chế nhà nước. Do đó, quyền lợi của bên bị vi phạm sẽ được đảm bảo cao nhất.
Thêm vào đó, nguyên tắc xét xử công khai gây áp lực để Tòa án xét xử khách quan, minh
bạch và đúng pháp luật, mặt khác còn có tính răn đe đối với
những chủ thể kinh doanh cố tình sai phạm.
Tuy nhiên, do trình tự, thủ tục giải quyết tranh chấp bằng Tòa án nghiêm ngặt, khuôn
khổ nên các bên buộc phải tuân theo trình tự, thủ tục đó, dẫn đến việc thiếu linh hoạt, thời
gian xét xử kéo dài gây ảnh hưởng đến hoạt động của các doanh nghiệp. Thời hạn giải
quyết tranh chấp HĐMBHH được BLTTDS 2015 quy định là là 02 tháng, kể từ ngày thụ lý
vụ án, trừ các vụ án được xét xử theo thủ tục rút gọn hoặc vụ án có yếu tố nước ngoài. Tuy
nhiên, đối với những trường hợp vụ án bị đình chỉ do sai sót trong quá trình xét xử, vụ án có
thể kéo dài vài năm.
Thêm vào đó, việc Tòa án xét xử công khai vừa là ưu điểm vừa là hạn chế khi không
đảm bảo được bí mật kinh doanh, vấn đề sở hữu trí tuệ... của các doanh nghiệp. Khi đưa vụ
án ra giải quyết trước Tòa, uy tín của doanh nghiệp cũng ít nhiều bị ảnh hưởng. Như thế,
quan hệ hợp tác giữa các bên khó có thể duy trì, việc kinh doanh của doanh nghiệp cũng
phần nào bị tổn thất.