VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
PHẠM VĂN TOÀN
GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP VỀ THỪA KẾ THEO
PHÁP LUẬT TỪ THỰC TIỄN XÉT XỬ CỦA TÒA ÁN
NHÂN DÂN TẠI PHÚ THỌ
Ngành: Luật kinh tế
Mã số: 8 38 01 07
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. HỒ NGỌC HIỂN
Hà Nội - 2020
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi.
Các số liệu ghi trong luận văn là trung thực. Những kết luận khoa học của
luận văn chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác.
Tác giả luận văn
Phạm Văn Toàn
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
- BLTTDS: Bộ luật Tố tụng dân sự
- HĐXX: Hội đồng xét xử
- HTND: Hội thẩm nhân dân
- HĐTP: Hội đồng Thẩm phán
- TANDTC: Tòa án nhân dân tối cao
- TTLT: Thông tư liên tịch
- UBND: Ủy ban nhân dân
- VKSNDTC: Viện kiểm sát nhân dân tối cao
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1. Số lượng án tranh chấp di sản thừa kế trên địa bàn tỉnh Phú Thọ.. 52
Bảng 2.2. Bảng biểu số liệu án tranh chấp di sản thừa kế .............................. 54
Bảng 2.3. Số lượng án tranh chấp di sản thừa kế theo pháp luật Bị hủy, sửa
theo trình tự phúc thẩm, giám đốc thẩm ......................................................... 60
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong bất kỳ chế độ xã hội có giai cấp nào thì vấn đề thừa kế cũng có vị trí
đặc biệt quan trọng trong các chế định pháp luật, đây là một hình thức pháp lý
quan trọng để bảo vệ các quyền công dân nói chung. Chính vì vậy, thừa kế đã trở
thành một nhu cầu không thể thiếu được đối với đời sống của mỗi cá nhân, gia
đình, cộng đồng xã hội. Trong mỗi nhà nước, mỗi giai cấp, mỗi giai tầng chính
trị mặc dù có những xu thế chính trị khác nhau, nhưng đều coi vấn đề thừa kế là
một trong những quyền cơ bản của công dân, điều đó đều được quy định rất cụ
thể trong Hiến pháp (đạo luật cao nhất) của quốc gia mình.
Thừa kế và di sản thừa kế là vấn đề mang tính kinh tế, mang tính xã hội
truyền thống nhưng cũng là vấn đề phức tạp về mặt pháp lý. Có thể nói, di sản
nói chung, pháp luật về thừa kế nói riêng; Bộ luật Dân sự năm 2005 được xem là
thành quả của quá trình pháp điển hóa những quy định của pháp luật về quyền
thừa kế, nó kế thừa và phát triển những quy định phù hợp với thực tiễn, không
ngừng hoàn thiện để bảo vệ quyền lợi của công dân nói chung, nhất là những
người được hưởng thừa kế; Chưa dừng lại ở đó, Hiến pháp năm 2013 còn quy
định khá chặt chẽ về quyền thừa kế, cụ thể tại Điều 32 “Quyền sở hữu tư nhân và
quyền thừa kế được pháp luật bảo hộ”, thể chế hóa tinh thần của Hiến pháp năm
2013, Bộ luật Dân sự năm 2015 đã quy định khá chặt chẽ về quyền thừa kế nhằm
bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của công dân.
Các tranh chấp về thừa kế có xu hướng ngày càng tăng trong thực tế với
tính chất ngày càng phức tạp. Sự áp dụng pháp luật không thống nhất giữa các
cấp Tòa án, sự hiểu biết pháp luật còn hạn chế của các cá nhân là những yếu tố
làm cho tranh chấp về thừa kế, đặc biệt là các tranh chấp liên quan đến việc xác
định di sản thừa kế và cách phân chia di sản thừa kế ngày một tăng, làm cho các
vụ kiện tranh chấp về bị kéo dài, không dứt điểm. Hơn nữa, khi cơ chế thị trường
được mở ra, con người có điều kiện lao động tốt hơn, vì vậy mà khối tài sản họ
làm ra trước khi chết đi là rất lớn, đồng nghĩa với đó là quyền lợi của những
người được thừa kế khối tài sản đó cùng bị ảnh hưởng rất nhiều. Nếu như không
xác định đúng di sản thừa kế, ngay cả khi xác định đúng di sản thừa kế mà cách
phân chia di sản sai thì cũng ảnh hưởng rất nhiều đến quyền lợi của người thừa
2
kế. Xác định di sản thừa kế và cách phân chia di sản thừa kế là hai mặt của một
vấn đề, nó không chỉ có ý nghĩa về mặt lý luận mà thực tiễn cũng rất quan trọng.
Tuy vậy, nếu không hiểu rõ những quy định của pháp luật về xác định di sản
thừa kế và cách phân chia di sản để nhận thức được quyền định đoạt tài sản của
người để lại di sản cũng như cách phân chia di sản, thì việc để lại thừa kế lại là
nguyên nhân làm bùng phát tranh chấp giữa những người thừa kế của họ về sau
chỉnh pháp luật về diện và hàng thừa kế trong pháp luật dân sự Việt Nam.
+ Phạm Văn Tuyết: “Thừa kế theo di chúc trong Bộ luật Dân sự Việt Nam”.
Đề tài nghiên cứu những vấn đề như: khái niệm về di chúc, quyền của người lập
di chúc, các điều kiện có hiệu lực của di chúc.
+ Trần Thị Huệ: “Di sản thừa kế theo pháp luật Việt Nam- những vấn đề lý
luận và thực tiễn”. Luận án tập trung nghiên cứu về những vấn đề như: cơ sở lý
luận về di sản thừa kế, quy định của pháp luật dân sự Việt Nam về di sản thừa kế,
thanh toán và phân chia di sản thừa kế, thực tiễn áp dụng trong việc xác định,
thanh toán, phân chia di sản thừa kế và kiến nghị hoàn thiện quy định của pháp
luật về di sản thừa kế.
- Luận văn cao học:
+ Nguyễn Thị Vĩnh: “Thừa kế theo pháp luật trong BLDS Việt Nam”. Nội
dung chủ yếu gồm các vấn đề sau: khái niệm thừa kế theo pháp luật, diện và
hàng thừa kế, thừa kế thế vị, các trường hợp thừa kế theo pháp luật.
+ Nguyễn Thị Hồng Bắc: “Một số vấn đề thừa kế theo pháp luật trong
BLDS Việt Nam”.
- Các công trình nghiên cứu khác:
+ Viện Khoa học Pháp lý: “Bình luận khoa học một số vấn đề cơ bản của
BLDS”. Các tập bình luận phân tích nội dung cơ bản của các qui định trong
BLDS 1995 nói chung và các qui định về thừa kế nói riêng.
+ Viện Nghiên cứu về Nhà nước và pháp luật: “Những vấn đề cơ bản về
BLDS Việt Nam”. Đây là số tạp chí chuyên đề về BLDS (số 5/ 1995).Trong đó
có chuyên đề về chế định thừa kế trong BLDS. Chuyên đề này nghiên cứu các
nguyên tắc cơ bản của điều chỉnh pháp luật về thừa kế, căn cứ khoa học để phân
chia các hàng thừa kế.
+ Tòa án Nhân dân Tối cao: “Những vấn đề lý luận và thực tiễn nhằm nâng
cao hiệu quả công tác giải quyết các tranh chấp thừa kế tại Tòa án nhân dân”.
4
5
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện mục đích trên, luận văn có những nhiệm vụ sau:
- Nghiên cứu pháp luật giải quyết tranh chấp thừa kế theo pháp luật theo
thủ tục tố tụng dân sự;
- Nghiên cứu, đánh giá thực trạng giải quyết tranh chấp thừa kế theo pháp
luật và thực tiễn giải quyết tranh chấp tại Tòa án tỉnh Phú Thọ;
- Đề xuất giải pháp, kiến nghị hoàn thiện pháp luật về giải quyết tranh chấp
thừa kế quyền sử dụng đất và thực tiễn giải quyết tranh chấp tại Tòa án các cấp.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Luận văn chủ yếu nghiên cứu các quy định của pháp luật hiện hành về giải
quyết tranh chấp về thừa kế theo pháp luật và một số công trình nghiên cứu cũng
như những vụ việc cụ thể có liên quan đến vấn đề này.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi nội dung: Luận văn nghiên cứu các quy định của pháp luật về
thừa kế theo pháp luật trong một số văn bản pháp luật như: BLDS (các năm
1995, 2005, 2015); Pháp lệnh thừa kế; Luật Hôn nhân và gia đình (HN&GĐ); và
các văn bản pháp luật khác có liên quan. Trong đó, luận văn tập trung nghiên
cứu các quy định về thừa kế theo pháp luật của công dân Việt Nam.
Luận văn chỉ tập trung nghiên cứu các quy định pháp luật tố tụng dân sự về
giải quyết tranh chấp thừa kế theo pháp luật và các quy định của pháp luật nội
dung liên quan đến các vấn đề về tố tụng.
Luận văn chỉ tập trung nghiên cứu trình tự, thủ tục giải quyết tranh chấp
pháp luật về giải quyết tranh chấp thừa kế theo pháp luật.
- Phương pháp trừu tượng hóa, khái quát hóa được sử dụng trong Chương 3
nhằm đề xuất kiến nghị hoàn thiện pháp luật về thừa kế.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
Trên cơ sở kiến giải làm sáng tỏ những vấn đề lý luận của các qui định
chung về thừa kế theo pháp luật, nhằm phát triển, mở rộng đối tượng nghiên cứu
quan trọng của ngành khoa học pháp lý dân sự về tài sản. Hiện nay, khoa học
pháp lý thừa nhận quyền thừa kế là quyền để lại tài sản cho người khác hưởng, là
7
quyền hưởng tài sản của người để lại thừa kế. Thời điểm mở thừa kế là thời điểm
phát sinh quyền và nghĩa vụ của người thừa kế và các chủ thể khác.
Các kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần bổ sung vào lý luận pháp
luật về thừa kế đặc biệt là việc giải quyết tranh chấp về thừa kế theo pháp luật
nhằm thống nhất nhận thức về bản chất và nguyên tắc về giải quyết tranh chấp
thừa kế theo pháp luật, góp phần bảo vệ các quyền, lợi ích của cá nhân, tổ chức.
- Luận văn có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho các Tòa án và
các cá nhân, cơ quan, tổ chức liên quan trong việc nghiên cứu, áp dụng pháp luật
về thừa kế theo pháp luật, đồng thời có thể sử dụng được cho việc giảng dạy tại
các cơ sở đào tạo các chuyên gia pháp luật.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của
luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về thừa kế theo pháp luật và giải quyết tranh
chấp thừa kế theo pháp luật
Chương 2: Thực trạng pháp luật về giải quyết tranh chấp thừa kế theo pháp luật
Chương 3: Thực tiễn áp dụng tại địa bàn tỉnh Phú Thọ và kiến nghị hoàn thiện
quy định về thừa kế theo pháp luật
thức thừa kế: thừa kế theo di chúc và thừa kế theo pháp luật.
9
Nếu như thừa kế theo di chúc là sự dịch chuyển di sản của một người đã
chết cho người khác theo sự định đoạt hợp pháp của người lập di chúc khi còn
sống thì thừa kế theo pháp luật có thể được hiểu là sự dịch chuyển di sản của
người chết cho người còn sống trên cơ sở quan hệ huyết thống, quan hệ hôn
nhân, quan hệ nuôi dưỡng hay quan hệ thân thuộc giữa người có tài sản để lại
sau khi họ chết và người nhận di sản.
Thừa kế theo pháp luật là sự dịch chuyển tài sản của người chết cho những
người còn sống theo hàng thừa kế. Như phân tích ở trên, cá nhân có quyền sở
hữu đối với tài sản của mình, sau khi cá nhân chết, số tài sản còn lại được chia
đều cho những người thừa kế. Người được thừa kế theo pháp luật là những
người có quan hệ huyết thống, quan hệ hôn nhân và quan hệ nuôi dưỡng với
người để lại di sản thừa kế. Những người được hưởng thừa kế theo quy định của
pháp luật không phụ thuộc vào mức độ năng lực hành vi. Mọi người đều bình
đẳng trong việc hưởng di sản thừa kế của người chết, thực hiện nghĩa vụ mà
người chết chưa thực hiện trong phạm vi di sản nhận.
Như vậy, thừa kế theo pháp luật được hiểu một cách đơn giản là quá trình
dịch chuyển di sản của người chết sang những người còn sống theo quy định của
pháp luật về thừa kế. Mặt khác, theo quy định của pháp luật thì khi không có căn
cứ để dịch chuyển di sản của người chết theo ý chí của họ thì di sản đó phải dịch
chuyển theo quy định của pháp luật về hàng thừa kế, điều kiện và trình tự thừa
kế. Điều 649 BLDS năm 2015 đã định nghĩa về thừa kế theo pháp luật như sau:
“Thừa kế theo pháp luật là thừa kế theo hàng thừa kế, điều kiện và trình tự
thừa kế do pháp luật quy định”.
Thừa kế theo pháp luật về bản chất vừa bảo vệ quyền đương nhiên người có
tài sản được để lại tài sản của họ khi họ chết, vừa bảo vệ quyền của những người
chúc theo quy định cuả Pháp luật dẫn đến di chúc vô hiệu (không có giá trị pháp
lý, di sản sẽ được chia theo pháp luật.
Ba là, những người thừa kế theo di chúc đều chết trước hoặc chết cùng thời
điểm với người lập di chúc; cơ quan, tổ chức được hưởng thừa kế theo di chúc
không còn vào thời điểm mở thừa kế. Trường hợp này, di chúc bị coi là vô hiệu
căn cứ khoản 2 Điều 643 Bộ luật dân sự 2015. Tuy nhiên, cần lưu ý rằng trong
trường hợp nếu chỉ có một trong số những người thừa kế theo di chúc chết trước
11
hoặc chết cùng thời điểm với người để lại di sản hoặc một trong số các cơ quan,
tổ chức không còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế thì chỉ phần di sản liên quan
đến cá nhân, cơ quan, tổ chức này vô hiệu và được chia thừa kế theo pháp luật.
Bốn là, những người được chỉ định làm người thừa kế theo di chúc mà
không có quyền hưởng di sản hoặc từ chối quyền nhận di sản. Khi mở thừa kế nếu
người thừa kế theo di chúc vi phạm khoản 1 Điều 621 Bộ luật dân sự 2005 thì không
có quyền hưởng di sản. Trường hợp người được chỉ định trong di chúc có quyền
hưởng di sản nhưng từ chối nhận di sản thì di sản được chia theo pháp luật.
Năm là, phần di sản không được định đoạt trong di chúc. Trường hợp này
xảy ra khi người để lại di sản có nhiều tài sản khác nhau nhưng lại chỉ định đoạt
trong di chúc một phần tài sản trong khối di sản này. Khi đó, phần di sản không
được thể hiện trong di chúc sẽ được chia theo pháp luật.
Sáu là, phần di sản có liên quan đến phần của di chúc không có hiệu lực.
Theo tinh thần của Khoản 4 Điều 643 Bộ luật dân sự 2015 thì trong trường hợp
di chúc có phần không hợp pháp mà không ảnh hưởng đến hiệu lực của các phần
còn lại thì chỉ phần đó không có hiệu lực pháp luật. Điều này có nghĩa là di sản
liên quan đến phần di chúc vô hiệu thì sẽ được chia theo pháp luật còn các phần
khác sẽ được chia theo di chúc.
Bảy là, phần di sản có liên quan đến người được thừa kế theo di chúc
Pháp luật thừa kế của Việt Nam cũng như pháp luật thừa kế của nhiều quốc
gia trên thế giới điều ghi nhận hai hình thức thừa kế theo di chúc và thừa kế theo
pháp luật. Giữa hai hình thức thừa kế này có mối quan hệ qua lại mật thiết với
nhau, có thể cùng được áp dụng trong việc phân chia di sản hoặc mang tính chất
loại trừ nhau, có thể áp dụng độc lập một hình thức. Phân biệt thừa kế theo di
chúc và thừa kế theo pháp luật để tìm ra điểm giống và khác nhau là hết sức cần
thiết. Trên cơ sở đó tạo điều kiện cho việc nhìn nhận vấn đề chia thừa kế một
cách toàn diện, áp dụng quy định của Pháp luật một cách chính xác nhằm bảo
đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người có quyền thừa kế. Hai hình thức thừa
kế này có nhiều điểm tương đồng nhưng cũng có những điểm khác biệt nhau.
Dưới đây là những điểm chung và điểm khác biệt cơ bản.
Điểm giống nhau cơ bản, nổi trội nhất của hai hình thức thừa kế này được
thể hiện ở chỗ: Thứ nhất, đều là sự dịch chuyển tài sản của người chết cho người
sống và Thứ hai, người để lại di sản thừa kế đều là cá nhân.
13
Điểm khác nhau :
+ Thứ nhất, về ý chí của người để lại tài sản:
Thừa kế theo di chúc được thể hiện cụ thể trong những nội dung của di chúc.
Thừa kế theo pháp luật: Không có sự thể hiện ý chí của người để lại di sản
hoặc có ý chí của người để lại di sản nhưng hình thức di chúc không tuân thủ
đúng quy định của Pháp luật dẫn đến không được pháp luật thừa nhận. Di sản
đương nhiên được chia theo pháp luật.
+ Thứ hai, về người thừa kế:
Người thừa kế là người được hưởng tài sản của người chết để lại theo di
chúc hoặc theo quy định của Pháp luật.
Người thừa kế theo di chúc là người được hưởng di sản theo di chúc do
người lập di chúc định đoạt khi còn sống. Do đó người thừa kế theo di chúc có
tranh chấp là quyền sử dụng đất), Luật doanh nghiệp (trong trường hợp di sản
thừa kế là các quyền tài sản, quyền sở hữu về cổ phiếu, cổ phần…). Tuy nhiên,
theo quy định pháp luật hiện hành, việc xác định thẩm quyền giải quyết tranh
chấp thừa kế tài sản căn cứ quy định của BLTTDS. Theo đó Tòa án là cơ quan
duy nhất có thẩm quyền giải quyết tranh chấp thừa kế theo thủ tục tố tụng dân
sự. Ủy ban nhân dân hoặc văn phòng công chứng chỉ có thẩm quyền công nhận,
công chứng sự thỏa thuận phân chia di sản thừa kế. Đây không phải là việc giải
quyết tranh chấp mà chỉ là một hành vi pháp lý công nhận hoặc công chứng một
sự kiện pháp lý trên cơ sở sự thống nhất và thỏa thuận các bên trong quan hệ
pháp luật về thừa kế
1.3.1.2. Đặc trưng về đương sự
Theo quy định tại khoản 1, Điều 68 BLTTDS: “Đương sự trong vụ án dân
sự là cơ quan, tổ chức, cá nhân bao gồm nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi
nghĩa vụ liên quan” [BLTTDS]. Như vậy đương sự trong vụ án dân sự nói
chung gồm 3 đối tượng. Nguyên đơn là người khởi kiện hoặc được cá nhân, cơ
quan, tổ chức khác do BLTTDS quy định khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết
vụ án dân sự. Bị đơn là người bị nguyên đơn khởi kiện hoặc cá nhân, cơ quan, tổ
chức khác do BLTTDS quy định khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án
dân sự. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là người tuy không khởi kiện,
không bị kiện, nhưng việc giải quyết vụ án dân sự có liên quan đến quyền lợi,
15
nghĩa vụ của họ nên họ được tự mình đề nghị hoặc các đương sự khác đề nghị và
được Tòa án chấp nhận đưa họ vào tham gia tố tụng.
Cũng như các vụ án tranh chấp dân sự khác, đương sự trọng vụ án tranh
chấp thừa kế theo pháp luật cũng gồm nguyên đơn, bị đơn và người có quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan. Tuy nhiên, đương sự trong vụ án tranh chấp thừa kế theo
pháp luật có những đặc thu riêng. Họ thường là những người thân trong một gia
phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng có thể dẫn việc bản án đã tuyên của Tòa án bị
hủy. Chính vì vậy, việc lập sơ đồ, thống kê một cách đầy đủ và chính xác hàng
thừa kế là rất quan trọng. Để thực hiện được vấn đề này, cần phải xem xét nhiều
văn bản, tài liệu khác nhau như giấy khai sinh, giấy tờ liên quan đến nhận nuôi
con nuôi, giấy đăng ký kết hôn… Việc kiểm tra, xác minh các giấy tờ này càng
trở nên khó khăn, mất nhiều thời gian, chi phí hơn khi đối tượng thừa kế thuộc
diện, hàng thừa kế là người Việt nam định cư ở nước ngoài.
1.3.1.3. Đặc trưng về áp dụng pháp luật
Giải quyết tranh chấp về di sản thừa kế theo pháp luật là một loại tranh
chấp dân sự đặc thù, về bản chất là tranh chấp thừa kế nhưng tài sản tranh chấp
lại là căn cứ để xác định văn bản áp dụng. Do đó, để giải quyết loại tranh chấp
này cần áp dụng nhiều văn bản pháp luật khác nhau như Luật đất đai, Bộ luật
dân sự, Luật hôn nhân và gia đình, Luật nuôi con nuôi, Bộ luật tố tụng dân sự…
Chẳng hạn, di sản thừa kế là quyền sử dụng đất thì cần xem xét các quy định của
Luật đất đai; xác định chính xác những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của
người để lại di sản thì cần tham chiếu quy định của Luật hôn nhân gia đình; Luật
nuôi con nuôi để xác định quan hệ hôn nhân, quan hệ cha, mẹ và các con, quan
hệ nuôi dưỡng theo đúng quy định của pháp luật. Mặt khác, để xác định di sản là
tài sản do người chết để lại có hợp pháp không? Do đó, nghiên cứu một cách
toàn diện, đầy đủ và thống nhất các văn bản pháp luật có liên quan khi giải quyết
tranh chấp về thừa kế theo pháp luật là rất quan trọng, có vai trò quyết định trong
việc giải quyết vụ án đúng và hiệu quả.
1.3.1.4. Đặc trưng về thu thập, xác minh tài liệu chứng cứ giải quyết các
tranh chấp thừa kế theo pháp luật
Xác định tài liệu, chứng cứ luôn là một vấn đề quan trọng bậc nhất để giải
quyết các vụ án dân sự. Trong vụ án tranh chấp thừa kế thì việc xác định, xác
17
18
1.4. Nội dung pháp luật về giải quyết tranh chấp thừa kế theo pháp luật
1.4.1. Pháp luật nội dung về giải quyết tranh chấp thừa kế theo pháp luật
Thừa kế được xác định là một chế định quan trọng trong Pháp luật Việt
Nam. Do đó ngay từ trước cách mạng tháng tám năm 1945, pháp luật thời kỳ
phong kiến, thời kì pháp thuộc đã có những quy định về thừa kế nói chung và
thừa kế theo pháp luật nói riêng. Trong đó thừa kế theo pháp luật đã xuất hiện ở
Luật Hồng Đức, Luật Gia Long cũng như pháp luật thời pháp thuộc. Tuy nhiên ở
những thời kì này, do bản chất của giai cấp thống trị, những quy phạm này chủ
yếu để bảo vệ tôn ti trật tự của chế độ phong kiến dẫn tới sự bất bình đẳng trong
quan hệ thừa kế, đặc biệt là giữa vợ và chồng, giữa nam và nữ.
Ngay sau khi cách mạng tháng 8 thành công, ngày 10/10/1945, Chính phủ
lâm thời của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đã ban hành Sắc lệnh cho phép áp
dụng luật lệ của chế độ cũ trong đó có những quy định về thừa kế. Ngày
22/5/1950, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kí sắc lệnh số 97/SL sửa đổi một số quy lệ
và chế định trong dân luật. Ngày 18/9/1956, Bộ tư pháp đã ban hành thông tư số
1742-BNC quy định một số nội dung về thừa kế theo pháp luật.
Hiến pháp 1959 ra đời tiếp tục ghi nhận về quyền thừa kế tài sản của công
dân. Trên tinh thần của Hiến pháp, Luật HNGĐ năm 1959 đã cụ thể hóa quyền
thừa kế tài sản của vợ chồng, con cái.
Sau khi miền Nam hoàn toàn giải phóng, cách mạng Việt Nam chuyển sang
một giai đoạn mới, giai đoạn cả nước độc lập thống nhất. Cùng với sự thống nhất
về chính trị, kinh tế, đòi hỏi thiết yếu phải có sự thống nhất về việc áp dụng pháp
luật. Hiến pháp 1980 được ban hành là cơ sở, nền tảng cho bước phát triển mới
của pháp luật về thừa kế. Để có đường lối thống nhất cho Tòa án các cấp trong
việc giải quyết các tranh chấp về thừa kế, ngày 24/7/1981, Tòa án nhân dân tối
cao ban hành thông tư số 81/TANDTC. Nội dung của thông tư 81 đã bao quát
khá toàn diện các vấn đề thừa kế so với các văn bản trước đó. Để phù hợp với sự
Lịch sử tố tụng kể từ sau cách mạng tháng 8 năm 1945 cho đến nay xác
định, cơ quan giải quyết tranh chấp về thừa kế theo pháp luật thuộc thẩm quyền
của Tòa án. Những tranh chấp về thừa kế thuộc thẩm quyền giải quyết của
TAND cấp huyện, trừ trường hợp đương sự hoặc tài sản ở nước ngoài thì tranh
chấp sẽ thuộc thẩm quyền giải quyết của TAND cấp tỉnh.
20