Thực hiện chính sách bồi thường, hỗ trợ giải phóng mặt bằng trên địa bàn huyện Thạch Thất, thành phố Hà Nội - Pdf 49

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.
2.
3.
4.
5.

Hiến Pháp 2013
Luật Đất đai 2013
Luật Đất đai 2003
Giáo trình Luật Đất đai – Trường Đại học Luật Hà Nội
Nghị định 43/2014/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật
Đất đai

6. Nghị định 47/2014/NĐ-CP ngày 15/05/2014 Quy định về bồi thường, hỗ trợ,

tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất
7. Thông tư 37/2014/TT-BTNMT ngày 30/06/2014 Quy định chi tiết về bồi

thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất
8. Nghị định số 01/2017/NĐ-CP của Chính phủ Sửa đổi, bổ sung một số nghị
định quy định chi tiết thi hành Luật đất đai
9. Quyết định 10/2017/QĐ-UBND về ban hành quy định các nội dung thuộc
thẩm quyền của UBND thành phố Hà Nội về bồi thường, hỗ trợ và tái định
cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn thành phố Hà Nội
10. Bảng khung giá đất thành phố Hà Nội áp dụng từ năm 2015 đến 2019 được
ban hành kèm theo Quyết định 96/2014/QĐ-UBND ngày 29 tháng 12 năm
2014.


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

GCN


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài

Vấn đề đất đai luôn là vấn đề cực kỳ lớn, bức xúc cả về phương diện lý luận và thực
tiễn, vi mô lẫn vĩ mô, chính sách và thực thi chính sách; đối với người dân cũng như
với các cấp chính quyền; là vấn đề vô cùng “nóng” và luôn nhận được sự quan tâm
của toàn thể người sử dụng đất. Đất đai là một loại tài sản đặc biệt, bất khả xâm
phạm, đóng vai trò đặc biệt quan trọng việc khẳng định chủ quyền của quốc gia.
Đối với các doanh nghiệp, đất đai là nền tảng, là cơ sở để tiến hành những hoạt
động sản xuất kinh doanh; còn với mỗi người dân, cá nhân sử dụng đất thì đất đai
vừa là nơi ăn chốn ở, là tư liệu sản xuất giúp người dân duy trì và ổn định cuộc
sống. Ở nước ta, “Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu
và thống nhất quản lý”1 vậy nên Nhà nước có quyền phân bổ và điều chỉnh đất đai
ở như: giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất,..
Trong những vấn đề về đất đai, không thể không kể đến vấn đề bồi thường
khi nhà nước thu hồi đất - một trong nhưng vấn đề nhận được sự quan tâm của đông
đảo cộng đồng xã hội nói chung và người dân tại Thủ đô Hà Nội nói riêng vì tốc độ
đô thị hóa ở Hà Nội hiện nay diễn ra rất nhanh, các dự án đầu tư xây dựng các công
trình công cộng, các khu công nghiệp, khu đô thị,… ngày càng nhiều do đó, số
lượng người mất đất, mất tư liệu sản xuất, mất kế mưu sinh, mất chỗ ở, nơi sản xuất
kinh doanh cũng với số lượng lớn.
Nhà nước khi thu hồi đất phải có trách nhiệm bù đắp những tổn thất đó cho người
dân và một trong những phương thức đó là bồi thường. Pháp luật về bồi thường khi
Nhà nước thu hồi đất qua mỗi thời kỳ đã có nhiều sửa đổi để phù hợp hơn với sự
thay đổi và phát triển của đất nước nên quá trình bồi thường GPMB cũng đã đạt
được nhiều thành tựu trong thời gian qua. Đây là một chế định vô cùng quan trọng
trong Luật Đất Đai, nhưng khi đưa vào thực tiễn áp dụng, lại có rất nhiều vướng

độ khác nhau và khía cạnh khác nhau, những sách báo pháp lý về vấn đề này cả
dưới góc độ lý luận và trên thực tế, tiêu biểu như:
Đề tài “Thực hiện chính sách bồi thường, hỗ trợ giải phóng mặt bằng trên địa
bàn huyện Thạch Thất, thành phố Hà Nội” : Luận văn Thạc sĩ của Lê Thị Tình năm
2015. Đề tài đã tập trung nghiên cứu công tác thực hiện chính sách bồi thường, hỗ
trợ giải phóng mặt bằng khi thực hiện dự án trên địa bàn huyện Thạch Thất nói
chung trong khoảng thời gian từ 2010 đến 2014, trong đó tập trung nghiên cứu sâu
công tác này tại dự án “Xây dựng Khu CNC Hòa Lạc 600 ha” và dự án “Đầu tư xây
dựng đường tỉnh lộ 419”; đề tài còn đưa ra 6 giải pháp chủ yếu nhằm hoàn thiện
công tác thực hiện chính sách bồi thường, hỗ trợ giải phóng mặt bằng ở huyện
Thạch Thất.


Ngoài ra còn có đề tài “Thực thi chính sách thu hồi đất nông nghiệp, bồi
thường giải phóng mặt bằng tại huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội” Luận văn ThS.
Kinh doanh và quản lý của Nguyễn Văn Hiền năm 2015 đã hệ thống hoá cơ sở lý
luận về thực hiện chính sách thu hồi đất, bồi thường GPMB đồng thời phân tích,
đánh giá thực trạng, thực thi chính sách thu hồi đất nông nghiệp, bồi thường giải
phóng mặt bằng trên địa bàn huyện Quốc Oai; và cũng đã đưa ra một số nhóm giải
pháp và khuyến nghị để hoàn thiện thực thi chính sách thu hồi đất nông nghiệp,
bồi thường giải phóng mặt bằng trên địa bàn.
Bên cạnh đó còn có đề tài “Đánh giá thực trạng công tác thu hồi đất, giải
phóng mặt bằng của dự án xây dựng khu đô thị mới Thịnh Liệt, Quận Hoàng Mai,
Thành phố Hà Nội” luận văn thạc sĩ của Trần Mai Phương năm 2011; “Công khai
minh bạch để bảo vệ quyền lợi của người bị thu hồi đất” Tạp chí Luật học, số
3/2012 của Ts. Nguyễn Quang Tuyến; “Pháp luật về định giá đất trong bồi thường,
giải phóng mặt bằng ở Việt Nam” - sách chuyên khảo, nhà xuất bản tư pháp 2013
của TS. Doãn Hồng Nhung (Chủ Biên). Ngoài ra còn có chuyên đề “ Bình luận và
góp ý đối với các quy định bồi thường về đất, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước
thu hồi đất trong dự thảo Luật Đất đai sửa đổi” tổ chức tại Đại học Luật Hà Nội của

hạn chế còn tồn tại về việc thi hành và thực tiễn áp dụng các quy định này trên địa
bàn thành phố Hà Nội.
+ Đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện và nâng cao chất lượng trong
việc áp dụng thực thi pháp luật cũng như các quy định của pháp luật về bồi thường
khi Nhà nước thu hồi đất.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1.
Đối tượng nghiên cứu:

Đề tài nghiên cứu hướng đến các vấn đề về bồi thường giải phóng mặt bằng
trên địa bàn thành phố Hà Nội, không nghiên cứu các vấn đề về hỗ trợ, tái định cư
khi Nhà nước thu hồi đất. Đặc biệt, trong đề tài nghiên cứu của mình em sẽ chỉ tập
chung nghiên cứu về các vấn đề bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất vì mục đích
quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng quy
định tại Điều 61 và Điều 62 của Luật Đất đai 2013 và sẽ không nghiên cứu các
trường hợp bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất do các mục đích khác được quy
định tại Điều 64,65 của Luật này.
Phạm vi nghiên cứu:
Dưới góc độ pháp lý, đề tài tập trung nghiên cứu các vấn đề của hệ thống
pháp luật thực định, các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành liên quan đến
lĩnh vực bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất từ thực tiễn áp dụng trên địa bàn
Thành phố Hà Nội. Đề tài tiếp cận, phân tích và bình luận các quy định trong Luật
Đất Đai 2013 cũng như các văn bản pháp luật liên quan như: NĐ47/2014/NĐ-CP
4.2.


ngày 15/5/2014 Quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi
đất; TT37/2014/TT-BTNMT ngày 30/6/2014 Quy định chi tiết về bồi thường, hỗ trợ
và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất; các quyết định có liên quan của UBND
thành phố Hà Nội…

huyện, các phòng ban có liên quan để trao đổi, thu thập thông tin về tình hình thực
hiện công tác bồi thường. Phối hợp với các tổ chức tham gia thực hiện công tác giải


phóng mặt bằng để đánh giá thu thập tài liệu. Trên cơ sở số liệu thu thập được thập
được sẽ thống kê, tổng hợp và phân tích đánh giá tồn tại và hạn chế trong công tác
bồi thường ở các giai đoạn thực hiện dự án.
- Chương 3 sử dụng phương pháp tổng hợp, quy nạp.. khi nghiên cứu, đề xuất định
hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất.
6.

Dự kiến những đóng góp mới về khoa học và thực tiễn của luận văn

Đề tài sẽ đi sâu tìm hiểu một cách có hệ thống, cụ thể về bồi thường khi Nhà nước
thu hồi đất trên địa bàn thành phố Hà Nội dưới góc độ của pháp luật đất đai và sẽ có
những đóng góp mới cả về mặt khoa học pháp lý lẫn thực tiễn trên những khía cạnh
chủ yếu sau:
Thứ nhất, hệ thống hóa và góp phần hoàn thiện hệ thống cơ sở lý luận và cơ sở thực
tiễn của việc bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất;
Thứ hai, phân tích làm rõ những nội dung pháp lý cơ bản về bồi thường khi Nhà
nước thu hồi đất theo Luật Đất đai 2013 và so sánh, đối chiếu làm nổi bật những
điểm mới với những quy định của pháp luật trước đây. Bên cạnh đó phân tích, đánh
giá thực tiễn pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn thành
phố Hà Nội trên cơ sở đó chỉ ra những bất cập và hạn chế trong thực tiễn.
Thứ ba, đề tài đưa ra định hướng và đề xuất một số giải pháp góp phần hoàn thiện
pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất nói chung và trên địa bàn thành
phố Hà Nội nói riêng.
7.

Kết cấu luận văn

kinh tế và nâng cao giá trị của đất. Bên cạnh đó, nhằm phục vụ cho sự phát triển
kinh tế - xã hội, vì lợi ích quốc gia và mục tiêu công cộng, trong quá trình công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Nhà nước với tư cách là chủ đầu tư lớn nhất có
nhiệm vụ xây dựng các cơ sở kinh tế, hạ tầng xã hội, sử dụng đất vào mục đích
công cộng, lợi ích chung của cảcộng đồng cùng với các chủ đầu tư khác cũng có
nhu cầu sử dụng đất rất lớn. Về mặt pháp lý, người sử dụng đất sẽ được hưởng
những lợi ích, những thành quả từ việc sử dụng đất vào các hoạt động kinh tế, xã
hội chung nhưng đất đai phải được sử dụng nhằm mục đích quan trọng nhất là phục
vụ sự tồn tại và ngày càng phát triển hơn của xã hội mà Nhà nước là đại diện chủ sở
hữu. Mục tiêu chung và lớn nhất của toàn xã hội là việc đất của toàn dân phải được
sử dụng sao cho phục vụ tốt nhất cho sự phát triển kinh tế - xã hội và cải thiện chất
lượng sống nói chung của người dân. Đặc biệt tại Thủ đô Hà Nội những tòa nhà cao
tầng đang mọc lên san sát nhau, đường phố rộng rãi, đại lộ khang trang, những cây
cầu lớn, những công trình đường sắt đô thị ngày một hoàn thiện... Hà Nội đang
hướng tới là một Thủ đô ngày càng giàu đẹp, văn minh và hiện đại hơn để xứng
đáng với vai trò trung tâm chính trị - hành chính quốc gia, văn hóa, khoa học, giáo
dục, kinh tế và giao dịch quốc tế. Vì vậy, Thủ đô Hà Nội nói riêng và cả nước phải


luôn đẩy mạnh và nâng cao chất lượng công tác quy hoạch và quản lý quy hoạch.
Không chỉ nhân dân Thủ đô mà nhân dân cả nước đều hướng về và chờ đợi vào
những bước phát triển của Hà Nội. Người sử dụng đất cũng phải có nghĩa vụ chấp
hành và tuân theo những quy hoạch, kế hoạch này và những quyết định thu hồi đất
do Nhà nước ban hành.
1.1.2. Những tác động và ảnh hưởng của việc thu hồi đất của Nhà nước tới đời

sống của người có đất bị thu hồi và sự cần thiết khách quan phải bồi
thường cho người bị thu hồi đất
1.1.2.1. Những tác động và ảnh hưởng của việc thu hồi đất của Nhà nước tới đời
sống của người có đất bị thu hồi

mối quan hệ hàng xóm láng giềng thậm chí có thể là mảnh đất, căn nhà mà tổ tiên
để lại mang một giá trị tinh thần vô cùng lớn mà không có số tiền nào có thể bù đắp
lại tổn thất về tinh thần đó được.
Thứ hai, những khu công nghiệp mọc lên ở quanh khu vực sinh sống của
người dân có thể gây ồn ào, khí thải, nước thải gây ô nhiễm môi trường sống. Trong
những năm vừa qua, xuất hiện nhiều tình trạng các xí nghiệp, nhà máy, các khu
công nghiệp chưa biết cách xử lý các vấn đề môi trường gây nhiều bức xúc đối với
người dân trong khu vực thậm chí còn có thể dẫn đến khiếu kiện. Môi trường sống
ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe của người dân nên phải là vấn đề được quan tâm
chú trọng hàng đầu.
Thứ ba, việc bỗng nhiên có một số tiền đền bù lớn nếu như không biết cách
chi tiêu tính toán có thể dẫn đến việc tiêu xài phung phí, cờ bạc, con cái hư hỏng
hay những tệ nạn xã hội khác. Người dân khi nhận được tiền bồi thường nếu không
có định hướng đầu tư hay tiết kiệm thì sớm muộn cũng sẽ tiêu sài hết khoản tiền bồi
thường vào những mục đích vô bổ mà không tính được những khoản chi tiêu về lâu
về dài.
Hơn nữa, đất nông nghiệp là tư liệu sản xuất của người dân, khi Nhà nước
thu hồi khiến người dân mất đi tư liệu sản xuất cũng như việc làm. Nếu Nhà nước
không đảm bảo được vấn đề chuyển đổi nghề thì sẽ khiến cho đời sống của người
dân bấp bênh, không ổn định.
1.1.2.2. Sự cần thiết khách quan phải bồi thường cho người bị thu hồi đất
Người dân là những chủ sử dụng đất hợp pháp đang sinh sống, làm ăn, sản
xuất kinh doanh ổn định trên mảnh đất thuộc quyền sử dụng của họ. Khi Nhà nước
thu hồi đất vào mục đích quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích
quốc gia, công cộng sẽ phải bồi thường cho tổ chức, cá nhân có đất bị thu hồi một
khoản có giá trị tương đương với tài sản mà họ bị thu hồi vì khi thu hồi đất sẽ gây ra
xáo trộn lớn về đời sống sinh hoạt cùng với những thiệt hại về vật chất và tinh thần
cho người sử dụng đất mà không phải do lỗi của họ gây ra. Việc bồi thường cho
những thiệt hại này cho người dân có đất bị thu hồi là trách nhiệm đương nhiên của
Nhà nước và chủ đầu tư. Giải quyết tốt vấn đề này, trong đó chủ yếu là hài hòa lợi

đất”. Nhưng khi bị thu hồi đất, sự mất mát của người sử dụng đất không chỉ là về
mặt vật chất mà có những trường hợp còn thuộc về cả mặt tinh thần, làm ảnh hưởng
đến công việc, đời sống của họ; về mặt hành chính thì đây là một quá trình không tự
nguyện, có tính cưỡng chế đôi khi không chỉ là một sự đền bù ngang giá tuyệt đối.
Bản chất của công tác bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất không chỉ đơn thuần là
sự bồi thường về mặt vật chất mà còn phải đảm bảo lợi ích của người dân bị thu hồi
đất trong trường hợp phải di chuyển đến nơi ở mới phải có được chỗ ở ít nhất là
bằng hoặc tốt hơn nơi ở cũ để họ có thể sớm ổn định cuộc sống.
Đặc điểm của bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất:


Bồi thường là hệ quả pháp lý trực tiếp khi nhà nước thực hiện thu hồi đất gây
ra. Trách nhiệm bồi thường chỉ phát sinh sau khi có quyết định thu hồi đất của cơ
quan có thẩm quyền.
Bồi thường là trách nhiệm của Nhà nước nhằm bù đắp những thiệt hại về vật
chất và tinh thần của người sử dụng đất khi bị thu hồi đất mà không phải do lỗi của
họ gây ra.
Bồi thường được tiến hành trong mối quan hệ giữa bên thu hồi đất (Nhà
nước) và bên bị thu hồi (người sử dụng đất), nó không phải là một giao dịch dân sự,
không mang tính chất đền bù ngang giá mà Nhà nước chỉ bồi thường để giúp người
dân nhanh chóng có thể ổn định cuộc sống của mình.
Căn cứ để xác định bồi thường là diện tích đất bị thu hồi trên thực tế, thiệt
hại thực tế về tài sản khác gắn liền với đất theo khung giá đất mà UBND tỉnh quy
định tại thời điểm thu hồi đất
Người sử dụng đất có đất bị thu hồi phải đáp ứng đủ các điều kiện quy định
trong Luật Đất đai thì mới được bồi thường.
1.1.4. Cơ sở của việc bồi thường khi Nhà nước thu hồi
1.1.4.1.
Cơ sở lý luận của việc bồi thường khi Nhà nước thu hồi


lợi ích hợp pháp của họ bị thiệt hại, lúc đó nhà nước phải có trách nhiệm bồi thường
cho người dân để giúp họ nhanh chóng ổn định cuộc sống của mình.
1.1.4.2.

Cơ sở thực tiễn của việc bồi thường khi Nhà nước thu hồi

Thu hồi đất gây ra thiệt hại trực tiếp cả về vật chất và tinh thần của người sử
dụng đất. Mọi chủ thể trong xã hội gồm Nhà nước, các tổ chức, cá nhân… đều bình
đẳng trước pháp luật và được pháp luật tôn trọng và bảo vệ. Việc Nhà nước thu hồi
đất vì mục đích quốc phòng an ninh, phát triển kinh tế xã hội xuất phát từ lý do
khách quan từ xã hội, phục vụ công cộng chứ hoàn toàn không do lỗi của cá nhân
người sử dụng đất nên trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho người dân là đương
nhiên, không những phải bồi thường cho người dân mà trong một số trường hợp
Nhà nước còn phải thực hiện hỗ trợ và tái định cư để người dân có nơi ở ổn định
bằng hoặc tốt hơn trước kia.
1.2.
Lý luận chung của pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất
1.2.1. Khái niệm pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất

Mọi quan hệ xã hội phát sinh trong đời sống cũng đều cần có sự điều chỉnh của
pháp luật để mọi người khi tham gia vào quan hệ xã hội đó phải tuân theo những
nguyên tắc, cách thức xử sự chung để bảo đảm lợi ích của các bên tham gia quan
hệ, của Nhà nước và lợi ích của toàn xã hội. Trong quan hệ pháp luật đất đai, có rất
nhiều các văn bản quy phạm pháp luật được ban hành để điều chỉnh vấn đề bồi


thường khi Nhà nước thu hồi đất quy định về nguyên tắc, điều kiện, quy trình, thủ
tục, nội dung, phương thức và các trường hợp được bồi thường cũng như việc giải
quyết các khiếu nại trong quá trình bồi thường giải phóng mặt bằng.Pháp luật về bồi
thường khi Nhà nước thu hồi đất là một chế định quan trọng trong pháp luật đất đai

và trách nhiệm của Nhà nước, quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất… sẽ không


có một quy chuẩn nào để giải quyết, sẽ xuất hiện nhiều hơn các mẫu thuẫn, tranh
chấp và việc thu hồi đất vào mục đích quốc phòng an ninh, mục đích công cộng
cũng sẽ gặp nhiều trở ngại, khó khăn và khó có thể nhận được sự tự nguyện hay hợp
tác của người dân.
Bên cạnh Luật Đất đai 2013 còn có các văn bản quy phạm pháp luật khác có
liên quan điều chỉnh vấn đề bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất như:
NĐ43/2014/NĐ-CP ngày 15/05/2014 Quy định chi tiết thi hành một số điều của
Luật đất đai; cụ thể hơn là NĐ47/2014/NĐ-CP ngày 15/05/2014 Quy định về bồi
thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất; văn bản pháp luật điều chỉnh
về đất đai được ban hành mới nhất là Nghị định số 01/2017/NĐ-CP của Chính phủ
Sửa đổi, bổ sung một số nghị định quy định chi tiết thi hành Luật đất đai;
TT37/2014/TT-BTNMT ngày 30/06/2014 Quy định chi tiết về bồi thường, hỗ trợ và
tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất;NĐ44/2014/NĐ-CP ngày 15/05/2014 quy định
về giá đất; TT74/2015/TT-BTC ngày 15/05/2015 Hướng dẫn việc lập dự toán, sử
dụng và thanh quyết toán kinh phí tổ chức thực hiện bồi thường, hỗ trợ, tái định cư
khi Nhà nước thu hồi đất.Ngay sau khi Luật Đất đai 2013 có hiệu lực thì UBND
thành phố Hà Nội cũng đã kịp thời ban hành các quyết định để điều chỉnh lĩnh vực
này như QĐ23/2014/QĐ-UBND ngày 20/6/2014 và QĐ15/2016/QĐ-UBND ngày
20/4/2016 đến nay vừa được thay thế bằng quyết định số 10/2017/QĐ-UBND về
ban hành quy định các nội dung thuộc thẩm quyền của UBND thành phố Hà Nội về
bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn thành phố
Hà Nội; Bảng khung giá đất thành phố Hà Nội áp dụng từ năm 2015 đến 2019 được
ban hành kèm theo Quyết định 96/2014/QĐ-UBND ngày 29 tháng 12 năm 2014;
Quyết định số 37/2015/QĐ-UBND của UBND Thành phố Hà Nội ban hành Quy
định về đăng ký đất đai, nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất; công nhận quyền sử
dụng đất; cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản
khác gắn liền với đất; đăng ký biến động về sử dụng đất, nhà ở và tài sản khác gắn

quốc tế nên pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất sẽ phải có những sự
đổi mới, bổ sung, thay đổi cho phù hợp với quá trình hiện đại hóa đất nước. Khi
tham gia vào những tổ chức quốc tế, chúng ta phải cam kết thực hiện theo những
nguyên tắc mà tổ chức đề ra. Những vấn đề như cải cách thủ tục hành chính theo cơ
chế một cửa và thống nhất quy trình chung áp dụng cho cả nhà đầu tư trong nước và
nhà đầu tư nước ngoài trong việc giải phóng mặt bằng để thực hiện các dự án đầu
tư,… là những nội dung đã và đang được sửa đổi để hài hòa với pháp luật của thế
giới.
Thứ ba, các quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng ảnh hưởng không ít
tới pháp luật nói chung và vấn đề bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất nói riêng.
Các chủ trương chính sách của Đảng luôn là sự định hướng cho hoạt động lập pháp
ở nước ta. Trên cơ sở đó nên nhà nước thể chế hóa các quan điểm, đường lối, chính
sách của Đảng thành các quy phạm pháp luật để điều chỉnh các quan hệ phát sinh
trong quá trình bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất.
Thứ tư, nền kinh tế thị trường hiện nay cũng ảnh hưởng đến quá trình hình
thành và phát triển của pháp luật đất đai. Ngày xưa, khi nước ta còn ở trong thời kỳ


bao cấp, đất đai không được coi là một loại tài sản mà người dân được phép chuyển
nhượng vậy nên đất đai mới có giá trị rất thấp. Từ khi nước ta chuyển sang nền kinh
tế thị trường, quyền tự do kinh doanh của công dân được pháp luật công nhận và
bảo hộ, Nhà nước thừa nhận quyền sử dụng đất là một loại hàng hóa đặc biệt và có
thể được trao đổi trên thị trường nên đất đai trở nên ngày càng có giá. Việc thu hồi
đất cho mục đích quốc phòng – an ninh, phát triển kinh tế - xã hội, vì lợi ích công
cộng trở nên khó khăn hơn một phần do người dân không đồng tình với phương án
bồi thường dẫn đến các tranh chấp, khiếu kiện,.. Để duy trì ổn định tình hình kinh
tế, chính trị của đất nước, Nhà nước phải ban hành các văn bản quy phạm pháp luật
để điều chỉnh vấn đề bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất. Cũng bởi vì đất đai là
vấn đề phức tạp và nhận được nhiều sự quan tâm, có nhiều phát sinh thay đồi nên
những văn bản quy phạm pháp luật thường xuyên được bổ sung, thay đổi cho phù

sử dụng vào mục đích khác. Người được Nhà nước cho phép chuyển mục đích sử
dụng đất phải nộp một khoản tiền vào ngân sách Nhà nước và Nhà nước sẽ dùng
khoản tiền đó để khai hoang, phục hóa, trồng rừng, cải tạo đất nông nghiệp, ổn định
cuộc sống cho người bị thu hồi đất.
1.2.4.2.

Giai đoạn từ năm 1993-2003

Trên cơ sở Hiến pháp 1992, Luật đất đai thứ hai được Quốc hội thông qua ngày
14/7/1993 và có hiệu lực thi hành từ ngày 15/10/1993 là đạo luật quan trọng góp
phần điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực đất đai theo cơ chế thị
trường, xóa bỏ tình trạng vô chủ trong quan hệ sử dụng đất, xác lập các quyền năng
cụ thể cho người sử dụng đất. Đây được coi là văn bản quy phạm pháp luật tạo sự
đổi mới có ý nghĩa quan trọng nhất với công tác thu hồi và bồi thường khi nhà nước
thu hồi đất, cụ thể như:
Điều 27: “Trong trường hợp thật cần thiết, Nhà nước thu hồi đất đang sử
dụng của người sử dụng đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích
quốc gia, lợi ích công cộng thì người bị thu hồi đất được đền bù thiệt hại.”
Điều 28: “Trước khi thu hồi đất phải thông báo cho người đang sử dụng biết
về lý do thu hồi, thờigian, kế hoạch di chuyển, phương án đền bù thiệt hại.”
Khoản 6 Điều 73 quy định: “Người sử dụng đất có quyền được bồi thường
thiệt hại về đất khi bị thu hồi”
Ngày 17/8/1994 Chính phủ ban hành Nghị định 90 quy định cụ thể các chính sách
làm cơ sở để thực hiện về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào mục
đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng. Tuy nhiên khi triển
khai nghị định này trong thực tế vẫn còn nhiều bất cập, hạn chế đặc biệt là về giá
đất bồi thường thấp nên người dân không chấp thuận dẫn đến những khiếu kiện kéo
dài.
Thay thế cho Nghị định 90, chính phủ đã ban hàng nghị định 22/1998/NĐCP ngày 22/4/1998 quy định về bồi thường thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất để sử
dụng vào mục đích quốc phòng an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng. Người

hồi đất. Cùng với đó là các văn bản dưới luật được ban hành để cụ thể hóa các quy
định trong luật như:
-

Nghị định 197/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004 của Chính phủ về bồi

-

thường, hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất
Thông tư 116/2004/TT-BTC của bộ tài chính số 116/2004/TT-BTC ngày
07 tháng 12 năm 2004 hướng dẫn thực hiện nghị định số 197/2004/NĐ-


CP ngày 03 tháng 12 năm 2004 của Chính phủ về bồi thường, hỗ trợ và
-

tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất
Nghị định 17/2006/NĐ-CP Về sửa đổi, bổ sung một số điều của các
Nghị định hướng dẫn thi hành Luật Đất đai và Nghị định số
187/2004/NĐ-CP về việc chuyển công ty nhà nước thành công ty cổ

-

phần
Nghị định 188/2004/NĐ-CP Về phương pháp xác định giá đất và khung

-

giá các loại đất
Nghị định 84/2007/NĐ-CP Quy định bổ sung về việc cấp Giấy chứng

-

bồi thường đó được trình lên cơ quan có thẩm quyền phê duyệt
Nhà nước khuyến khích các nhà đầu tư tự thỏa thuận phương án bồi
thường với người dân có đất bị thu hồi. Nhà nước chỉ thực hiện thu hồi
và bồi thường đối với những trường hợp đất sử dụng vào mục đích xây
dựng các khu công nghiệp, khu công nghệ cao, khu kinh tế và các dự án

-

đầu tư lớn theo quy định của Chính phủ.
Giá đất bồi thường đảm bảo nguyên tắc sát với giá đất trên thị trường ở
điều kiện bình thường, các thửa đất ở cùng khu vực, cùng mục đích sử
dụng, có điều kiện tự nhiên kinh tế xã hội như nhau thì sẽ có mức giá bồi


thường như nhau. Giá đất để tính bồi thường do UBND tỉnh, thành phố
trực thuộc trung ương quy định và công bố.

1.2.4.4.

Từ năm 2013 đến nay

Ngày 29/11/2013 Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa
XIII, kỳ họp thứ 6 đã thông qua Luật Đất đai 2013 và có hiệu lực thi hành từ ngày
01/07/2014 gồm 14 Chương và 212 Điều, tăng thêm 7 Chương và 66 Điều so với
Luật Đất đai 2003 và đến nay đã có thêm nhiều Nghị định, Thông tư và các Quyết
định của UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương quy định cụ thể các vấn
đề liên quan đến bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất. Luật Đất đai 2013 kế thừa
những quy định, ưu điểm của Luật Đất đai 2003 và thay thế, bổ sung những quy



KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Đến nay Luật Đất đai 2013 đã được áp dụng để thực thi trong vấn đề bồi thường khi
Nhà nước thu hồi đất được gần 3 năm, chúng ta không thể phủ nhận những đóng
góp mới tích cực và hiệu quả hơn trong việc cải thiện các thủ tục hành chính về thu
hồi đất hay công tác bồi thường hiện nay. Tuy nhiên do sự phát triển nhanh chóng
của tình hình kinh tế - xã hội khiến nhu cầu sử dụng đất đai cho những dự án khu
công nghiệp, khu đô thị, với những mục tiêu phát triển kinh tế xã hội ngày càng
nhiều nên khi đưa những quy định này vào thực tiễn thi hành vẫn còn một số vướng
mắc, bất cập vẫn cần được sửa đổi, hoàn thiện hơn để đảm bảo cho lợi ích của các
bên trong quan hệ đất đai và đặc biệt là những người dân đang sử dụng đất hợp
pháp có thể được bảo vệ chặt chẽ hơn về quyền và lợi ích của họ. Xuất phát từ mục
tiêu chung và lớn nhất của toàn xã hội là việc đất của toàn dân phải được sử dụng
sao cho phục vụ tốt nhất cho sự phát triển kinh tế - xã hội và cải thiện chất lượng
sống nói chung của người dân. Để hoàn thiện được điều này trước tiên chúng ta
phải có những quy phạm pháp luật chặt chẽ để điều chỉnh vấn đề này để có thể hài
hòa giữa lợi ích Nhà nước, lợi ích công cộng và đảm bảo sớm ổn định cuộc sống
cho những người dân có đất bị thu hồi. Bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất luôn là
vấn đề mang tính thời sự, nhận được nhiều sự quan tâm chú ý của người dân nên
luôn cần tìm ra những giải pháp mới, hợp lý hơn để áp dụng qua mỗi thời kỳ mà đặc
biệt là trong giai đoạn hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay.


CHƯƠNG 2: PHÁP LUẬT VỀ BỒI THƯỜNG KHI NHÀ NƯỚC THU HỒI
VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN TẠI THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Nội dung cơ bản của pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi
đất
2.1.1. Nguyên tắc bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status