Thi hành các hình phạt không tước tự do từ thực tiễn quận gò vấp, thành phố hồ chí minh - Pdf 49

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN KHẮC LAN CHI

THI HÀNH CÁC HÌNH PHẠT KHÔNG TƯỚC TỰ DO
TỪ THỰC TIỄN QUẬN GÒ VẤP
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - 2018


VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN KHẮC LAN CHI

THI HÀNH CÁC HÌNH PHẠT KHÔNG TƯỚC TỰ DO
TỪ THỰC TIỄN QUẬN GÒ VẤP
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Chuyên ngành: Luật hình sự và tố tụng hình sự
Mã số: 8.38.01.04

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. NGUYỄN VĂN HIỂN

2.3 Nguyên nhân của những hạn chế, bất cập................................................. 56
Chương 3:GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT, TĂNG CƯỜNG
HIỆU LỰC, HIỆU QUẢ THI HÀNH CÁC HÌNH PHẠT KHÔNG
TƯỚCTỰ DO ................................................................................................ 64
3.1 Định hướng, quan điểm về tăng cường hiệu lực, hiệu quả hoạt động thi
hành các hình phạt không tước tự do .............................................................. 64
3.2. Giải pháp .................................................................................................. 65
KẾT LUẬN .................................................................................................... 77
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO


DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1: Số liệu thống kê số bị cáo áp dụng hình phạt không tước tự do trên
địa bàn quận Gò Vấp trong thời gian 06 năm (từ năm 2012 đến năm 2017).37
Bảng 2.2: Số liệu thống kê số người chấp hành hình phạt áp dụng hình phạt
không tước tự do trên địa bàn quận Gò Vấp trong thời gian 06 năm (từ năm
2012 đến năm 2017). ....................................................................................... 39


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Thi hành các hình phạt không tước tự do là một phần của hoạt động thi
hành án hình sự ở nước ta. Đó là hệ thống các hoạt động của các cơ quan, tổ
chức được giao nhiệm vụ thi hành các bản án, quyết định có hiệu lực pháp
luật của Tòa án về các loại hình phạt nói trên theo quy định của pháp luật.
Theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Hình sự 1999, các hình phạt
chính không tước tự do bao gồm: cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ
và trục xuất. Trong các hình phạt này, hình phạt tiền do cơ quan thi hành án
dân sự thi hành theo cơ chế riêng, hình phạt trục xuất vừa được quy định là
hình phạt chính, vừa được quy định là hình phạt bổ sung. Các hình phạt chính

nước trong việc giam giữ người phạm tội, tăng cường tính răn đe, giáo dục
trong cộng đồng, góp phần hiệu quả vào công cuộc phòng, chống tội phạm và
các vi phạm pháp luật khác....
Do đó, việc tiếp tục nghiên cứu sâu sắc hơn nữa các quy định của pháp
luật về thi hành các hình phạt không tước tự do, đồng thời đánh giá việc thi
hành các hình phạt không tước tự do trong thực tiễn để đưa ra các giải pháp
hoàn thiện về mặt luật pháp, nâng cao hiệu quả áp dụng các hình phạt không
tước tự do không những có ý nghĩa lý luận - thực tiễn và pháp lý quan trọng,
mà còn là vấn đề mang tính cấp thiết.
Đây cũng là lý do luận chứng cho việc tôi quyết định chọn đề tài “Thi
hành các hình phạt không tước tự do từ thực tiễn Quận Gò Vấp, thành phố
Hồ Chí Minh” làm luận văn tốt nghiệp.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Thi hành án hình sự nói chung, trong đó có thi hành các hình phạt không
tước tự do đã được nhiều nhà khoa học, học giả quan tâm nghiên cứu, được
để cập trong nhiều bài viết, nghiên cứuvà được thể hiện trên các báo trung
ương và địa phương chuyên ngành pháp luật như: Sách “Pháp luật thi hành
2


án Việt Nam Những vấn đề lý luận và thực tiễn” Nxb Tư pháp 2006, PGS.TS.
Võ Khánh Vinh và PGS.TS. Nguyễn Mạnh Kháng; Giáo trình “Luật thi hành
án hình sự” Nxb Khoa học xã hội 2013, của GS.TS. Võ Khánh Vinh và TS.
Cao Thị Oanh; Luận văn Thạc sĩ Luật học“Thi hành các hình phạt không
tước tự do trên địa bàn tỉnh Hà Giang” củaHoàng Việt Trung; Luận văn Thạc
sĩ Luật “Các hình phạt không tước tự do trong Luật Việt Nam” của Lê Khánh
Hưng, Luận văn Thạc sĩ Luật học“Thi hành các hình phạt cải tạo không giam
giữ, án treo từ thực tiễn tỉnh Cà Mau”của Nguyễn Thị Hiền…
Các công trình nghiên cứu trên là những tài liệu rất bổ ích và giá trị được
sử dụng trong quá trình nghiên cứu đề tài. Trên cơ sở tiếp thu có chọn lọc kết

pháp và thực tiễn áp dụng để từ đó chỉ ra những bất cập, hạn chế, đề xuất một
số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng trên thực tiễn tại Quận Gò Vấp.
- Do nội dung đề tài rất rộng và phạm vi nghiên cứu còn hạn chế nên
luận văn chỉ nghiên cứu các hình phạt không tước tự do là hình phạt chính;
không nghiên cứu các hình phạt không tước quyền tự do là hình phạt bổ sung,
biện pháp tư pháp.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Đề tài được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy
vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, quan điểm của Đảng Cộng sản
Việt Nam về cải cách tư pháp; những luận điểm khoa học trong các công trình
nghiên cứu, sách chuyên khảo và các bài viết đăng trên tạp chí của một số nhà
khoa học luật hình sự.
Các phương pháp nghiên cứu cụ thể được sử dụng trong Luận văn là
phương pháp phân tích - tổng hợp, phương pháp lịch sử cụ thể, phương pháp
luật học so sánh, phương pháp thống kê…

4


6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Hệ thống, phân tích những vấn đề quan điểm, lý luận về thi hành các
hình phạt không tước tự do; đánh giá công tác thi hành các hình phạt không
tước tự do trong thực tiễn.
Trình bày thực trạng áp dụng và thi hành các hình phạt không tước tự do
trên địa bàn quận Gò Vấp từ năm 2012 đến năm 2017; kết quả đạt được, hạn
chế và các nguyên nhân. Từ đó, đưa ra một số đề xuất, những giải pháp nhằm
góp phần hoàn thiện các quy định của pháp luật hình sự, tố tụng hình sự và thi
hành án hình sự của Việt Nam, nâng cao hiệu quả công tác thi hành các hình
phạt không tước tự do tại địa phương.
7. Kết cấu của luận văn

nước là Tòa án, và là biện pháp hữu hiệu để khôi phục các quyền, lợi ích hợp
pháp của Nhà nước, tổ chức và công dân bị xâm hại. Bên cạnh đó, thi hành án
hình sự còn nhằm cải tạo, giáo dục người bị kết án để họ không phạm tội mới
và trở thành người có ích cho xã hội, nhằm mục đích phòng ngừa riêng; giáo
dục ý thức tôn trọng pháp luật, thực hiện nhiệm vụ phòng ngừa tội phạm nói
chung, động viên, khuyến khích sự tham gia của xã hội và công dân vào cuộc
đấu tranh phòng chống tội phạm.
Thi hành án hình sự được tiến hành theo những trình tự, thủ tục chặt chẽ
do pháp luật quy định. Toàn bộ quá trình thi hành các bản án, quyết định và
6


các quan hệ liên quan đến việc thi hành được quy định cụ thể, rõ ràng. Đây là
giai đoạn cuối cùng trong các hoạt động tố tụng của các cơ quan thực thi pháp
luật và cũng là giai đoạn cuối cùng của quá trình giải quyết một vụ án, trong
đó buộc người bị xử phạt phải chấp hành hình phạt mà Toà án đã quyết định.
Bản án, quyết định của Toà án có được thi hành nghiêm chỉnh hay không là
tuỳ thuộc chủ yếu vào giai đoạn này. Nếu mục đích của thi hành án không đạt
được thì toàn bộ hoạt động của cơ quan điều tra, truy tố, xét xử trước đó cũng
trở nên vô nghĩa. Hoạt động tố tụng trên chỉ có ý nghĩa trên thực tế khi các
bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật được đưa ra thi hành một
cách nghiêm túc, kịp thời và có hiệu quả. Một bản án, quyết định của Tòa án
có hiệu lực pháp luật không được thi hành hoặc thi hành không nghiêm thì
trật tự kỷ cương xã hội bị vi phạm, quyền lực Nhà nước bị xem thường.
Tuy có quan hệ chặt chẽ với các giai đoạn tố tụng trước đó nhưng thi
hành án hình sự vẫn là một hoạt động có tính đặc thù và có mục đích trực tiếp
riêng biệt. Nếu tất cả các hoạt động tố tụng dừng lại ở việc phán quyết của
Tòa án, thì thi hành án lại được triển khai bắt đầu từ khi phán quyết có hiệu
lực thi hành và nhằm thực hiện các nội dung trong phán quyết đó. Nhiệm vụ
của giai đoạn này là không chỉ trừng trị người có tội mà còn giáo dục, cải tạo

Từ định nghĩa khoa học về hình phạt trong luật hình sự có thể nói: Hình
phạt không tước tự do là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất về hình sự
của Nhà nước do Toà án quyết định trong bản án có hiệu lực pháp luật đối với
người phạm tội nhằm tước bỏ hoặc hạn chế quyền, lợi ích của người phạm tội
mà không buộc họ phải cách ly ra khỏi môi trường xã hội bình thường.
Các dấu hiệu cơ bản của hình phạt không tước tự do
- Người bị kết án không bị cách ly khỏi môi trường sống bình thường.
- Tính chất cưỡng chế của hình phạt không tước tự do thấp hơn hình phạt
tù.
8


- Việc thi hành các hình phạt không tước tự do được thực hiện bởi nhiều
cơ quan, tổ chức khác nhau.
- Điều kiện áp dụng và các hậu quả pháp lý phát sinh từ các hình phạt
không tước tự do được quy định khá chặt chẽ.
- Việc thi hành các hình phạt không tước tự do phát huy cao độ vai trò
của cộng đồng trong việc giáo dục, cải tạo người phạm tội.[14]
Các hình phạt nói chung và các hình phạt chính không tước tự do nói
riêng có vai trò quan trọng không chỉ bảo đảm nguyên tắc phân hoá trách
nhiệm hình sự và cá thể hoá hình phạt mà còn thể hiện được rõ chính sách
nhân đạo của Luật Hình sự. Khi áp dụng hình phạt không tước tự do đối với
người phạm tội sẽ hạn chế được những tác động tiêu cực của hình phạt lên
người phạm tội cũng như gia đình của người phạm tội, tạo điều kiện người
phạm tội được tái hòa nhập cộng đồng sau khi chấp hành xong hình phạt.
Hoạt động thi hành án hình sự đối với các hình phạt không tước tự do
bên cạnh những đặc điểm chung còn có những đặc thù riêng biệt. Sự khác biệt
này xuất phát từ đặc thù của từng loại hình phạt và mục đích, đối tượng áp
dụng. Người bị kết án không bị cách ly khỏi xã hội, họ được cải tạo, giáo dục,
hoạt động như các công dân bình thường khác. Tuy nhiên, họ vẫn phải chịu

1.1.2. Đặc điểm thi hành các hình phạt không tước tự do.
Theo quy định tại khoản 1 Điều 32 Bộ luật hình sự 2015, các hình phạt
chính không tước tự do bao gồm: cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ
và trục xuất. Hình phạt tiền do cơ quan thi hành án dân sự thi hành theo cơ
chế riêng.
Việc thi hành án phạt chính không tước tự do còn có những đặc trưng
riêng biệt như sau:
- Người bị kết án này không bị cách li khỏi xã hội. Họ được cải tạo, giáo
dục tại môi trường sống bình thường với cộng đồng. Đây là đặc điểm quan
10


trọng để phân biệt hình phạt chính không tước tự do và hình phạt chính tước
tự do. Một số người bị kết án sau khi chấp hành án xong gặp khó khăn trong
việc tái hòa nhập cộng đồng dẫn đến tình trạng quay trở lại con đường tái
phạm, tái phạm nguy hiểm…Nên đối với một số tội phạm mà mức độ và hành
vi nguy hiểm là ít nghiêm trọng, phạm tội lần đầu, trong quá trình điều tra, xét
xử đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối lỗi thì không cần thiết phải áp dụng các
hình phạt tước tự do, thay vào đó có thể áp dụng các hình phạt chính không
tước quyền tự do mà vẫn đạt được mục đích của hình phạt.
- Với những mức độ nghiêm khắc khác nhau của từng loại hình phạt
không tước tự do, người phạm tội không bị tước quyền tự do được sống, lao
động, học tập, làm việc trong môi trường lành mạnh là cơ quan, tổ chức và địa
phương mà trước khi phạm tội người đó vẫn sống và công tác. Tuy nhiên,
chính đặc trưng này cũng cho thấy để việc thi hành án phạt cảnh cáo, cải tạo
không giam giữ đạt được hiệu quả thì đòi hỏi quy định về nội dung từng hình
phạt và biện pháp này cũng như cơ chế thi hành chúng phải phù hợp với mục
tiêu đặt ra, tránh mang tính hình thức.
- Nếu việc thi hành hình phạt chính tước tự do được giao cho một cơ
quan chuyên trách thực hiện thì việc thi hành hình phạt chính không tước tự

Người phạm tội ít nghiêm trọng và có nhiều tình tiết giảm nhẹ, nhưng
chưa đến mức miễn hình phạt [21] là hai điều kiện cần và đủ để Tòa án áp
dụng hình phạt cảnh cáo đối với người phạm tội. Ngoài hai điều kiện trên,
luật không quy định thêm điều kiện nào khác nhưng khi áp dụng hình phạt
cảnh cáo với người phạm tội, Toà án phải cân nhắc tính chất và mức độ nguy
hiểm cho xã hội, hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội, các tình tiết
giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự trước khi tuyên án. Các tình tiết
giảm nhẹ được quy định tại Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015.

12


Hình phạt cảnh cáo được thi hành ngay tại phiên tòa do Tòa án tuyên.
Trong thời hạn 07 ngày, kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật, Toà án đã xét
xử sơ thẩm phải gửi bản án cho người bị phạt cảnh cáo, cơ quan thi hành án
hình sự Công an cấp huyện, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu, Ủy
ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội nơi người bị phạt cảnh cáo cư trú hoặc
làm việc, Sở Tư pháp nơi Tòa án đã xét xử sơ thẩm có trụ sở.
Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, cơ quan thi hành án
hình sự cấp quân khu có trách nhiệm theo dõi, thống kê, báo cáo theo quy
định. (Điều 71 Luật thi hành án hình sự năm 2010) [25]
Mặc dù hình phạt cảnh cáo là một hình phạt chính nhưng nó vẫn thể hiện
tính nhân đạo cao vì cảnh cáo là một hình phạt không tước tự do, song khái
niệm "hình phạt cảnh cáo" cũng chưa được Bộ luật hình sự làm rõ. Điều 34
Bộ luật hình sự năm 2015 chỉ nêu ra những điều kiện để người phạm tội được
áp dụng hình phạt cảnh cáo, đó là: “Cảnh cáo được áp dụng đối với người
phạm tội ít nghiêm trọng và có nhiều tình tiết giảm nhẹ, nhưng chưa đến mức
miễn hình phạt”[21]. Trong thực tiễn khi áp dụng hình phạt, các cơ quan và
người áp dụng pháp luật vẫn còn khó khăn trong việc xác định chính xác các
khái niệm "hình phạt cảnh cáo", "miễn trách nhiệm hình sự", "miễn hình

bảo cho hình phạt có tính khả thi.
Luật thi hành án hình sự năm 2010 không có một quy định cụ thể nào về
việc thi hành hình phạt tiền nhưng tại một số quy định khác như: Điều 267 Bộ
luật tố tụng hình sự năm 2003 ghi nhận: “quyết định đưa bản án phạt tiền
hoặc tịch thu tài sản ra thi hành phải được gửi cho Viện kiểm sát cùng cấp,
chấp hành viên, người bị kết án và chính quyền xã, phường, thị trấn nơi người
bị kết án cư trú”. Theo quy định tại khoản 5 Điều 257 Bộ luật tố tụng hình sự
năm 2003 quy định: “Cơ quan thi hành án dân sự thi hành hình phạt tiền, tịch
thu tài sản và quyết định dân sự trong vụ án hình sự. Chính quyền xã,
15


phường, thị trấn hoặc cơ quan, tổ chức có nhiệm vụ giúp chấp hành viên
trong việc thi hành án. Nếu cần phải áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành
án thì cơ quan Công an và các cơ quan hữu quan khác có nhiệm vụ phối
hợp”[18]; khoản 2 Điều 36 Luật thi hành án dân sự 2014 quy định “Thủ
trưởng cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền chủ động ra quyết định thi
hành án và phân công Chấp hành viên tổ chức thi hành đối với phần bản án,
quyết định hình phạt tiền”[24]; khoản 2 Điều 445 Bộ luật tố tụng hình sự
2015 quy định: “Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền ra
quyết định thi hành hình phạt tiền đối với pháp nhân. Trình tự, thủ tục thi
hành hình phạt tiền được thực hiện theo quy định của Luật thi hành án dân
sự” [19] … đều cho thấy Cơ quan thi hành án dân sự có trách nhiệm tổ chức
thi hành các nội dung của bản án, quyết định dân sự, hình sự, hành chính... có
hiệu lực pháp luật liên quan đến tiền, tài sản và xử lý vật chứng theo Luật thi
hành án dân sự.
Hình phạt tiền sẽ được thi hành theo trình tự thủ tục của Luật thi hành án
dân sự. Thủ trưởng Cơ quan thi hành án dân sự chủ động ra quyết định thi
hành đối với phần bản án, quyết định về hình phạt tiền (không phân biệt là
hình phạt chính hay hình phạt bổ sung) và phân công chấp hành viên tổ chức

quyết định miễn hoặc giảm khoản tiền mà họ phải thi hành (khoản 5 Điều 62,
khoản 3 Điều 105 Bộ luật hình sự năm 2015)
1.2.3. Thi hành hình phạt cải tạo không giam giữ
Bộ luật Hình sự năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009 lần đầu tiên đã ghi
nhận hình phạt cải tạo không giam giữ là một trong những hình phạt chính.
Điều 31, Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009 đã quy định
như sau:
“1. Cải tạo không giam giữ được áp dụng từ sáu tháng đến ba năm đối
với người phạm tội ít nghiêm trọng hoặc phạm tội nghiêm trọng do Bộ luật
17


này quy định mà đang có nơi làm việc ổn định hoặc có nơi thường trú rõ
ràng, nếu xét thấy không cần thiết phải cách ly người phạm tội khỏi xã hội.
Nếu người bị kết án đã bị tạm giữ, tạm giam thì thời gian tạm giữ, tạm
giam được trừ vào thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ, cứ
một ngày tạm giữ, tạm giam bằng ba ngày cải tạo không giam giữ.
2. Tòa án giao người bị phạt cải tạo không giam giữ cho cơ quan, tổ
chức nơi người đó làm việc hoặc chính quyền địa phương nơi người đó
thường trú để giám sát, giáo dục. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm
phối hợp với cơ quan, tổ chức, chính quyền địa phương trong việc giám sát,
giáo dục người đó.
3. Người bị kết án phải thực hiện một số nghĩa vụ theo các quy định về
cải tạo không giam giữ và bị khấu trừ một phần thu nhập từ 5% đến 20% để
sung quỹ nhà nước. Trong trường hợp đặc biệt, Toà án có thể cho miễn việc
khấu trừ thu nhập, nhưng phải ghi rõ lý do trong bản án.”[20]
Bộ luật Hình sự năm 2015 có những thay đổi và bổ sung tiếp tụcghi nhận
hình phạt cải tạo không giam giữ là một trong những hình phạt chính. Điều 36
Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định như sau:
“1. Cải tạo không giam giữ được áp dụng từ 06 tháng đến 03 năm đối

Người bị kết án cải tạo không giam giữ phải thực hiện những nghĩa vụ
quy định tại Luật thi hành án hình sự.”[21]
Cải tạo không giam giữ là một loại hình phạt chính trong hệ thống hình
phạt của Bộ luật hình sự. Xét về bản chất đây là loại hình phạt không tước tự
do, không buộc người phạm tội cách ly khỏi gia đình, nơi làm việc cũng như
xã hội nói chung. Nội dung chính của hình phạt là thể hiện ở chỗ người bị kết
án không bị tước quyền tự do thân thể, không bị cách ly khỏi môi trường sống
bình thường nhưng họ phải chịu sự giám sát, giáo dục, quản lý chặt chẽ của
cơ quan tổ chức nơi họ làm việc hoặc chính quyền địa phương nơi họ cư trú.
19


Hình phạt áp dụng đối với người phạm tội ít nghiêm trọng, phạm tội nghiêm
trọng, đang có nơi làm việc ổn định hoặc có nơi cư trú rõ ràng và khi các điều
kiện khác cho thấy họ có thể tự cải tạo, giáo dục mà không cần thiết phải cách
ly ra khỏi xã hội. Thời hạn cải tạo không giam giữ từ sáu tháng đến ba năm.
Nghĩa vụ mà người bị kết án phải thực hiện là nghĩa vụ báo cáo, tự kiểm điểm
định kỳ và có thể nộp 5% đến 20% thu nhập để sung quỹ nhà nước.
Hình phạt cải tạo không giam giữ mang bản chất nhân đạo cao, khả năng
cải tạo và giáo dục người phạm tội cao. Khi áp dụng hình phạt Tòa án phải
căn cứ vào tính chất, mức độ của hành vi phạm tội. Để đảm bảo quyền lợi cho
người bị kết án cũng như sự công bằng của pháp luật, Bộ luật hình sự quy
định thời gian tạm giữ, tạm giam trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử được
trừ vào thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ, cứ một ngày
tạm giữ, tạm giam bằng ba ngày cải tạo không giam giữ.
Người bị kết án phải thực hiện một số nghĩa vụ theo các quy định về cải
tạo không giam giữ trong Bộ luật hình sự và Nghị định số 60/2000/NĐ-CP
ngày 30/10/2000 của Chính phủ về thi hành hình phạt cải tạo không giam giữ,
cụ thể là: Người bị kết án cải tạo không giam giữ phải chấp hành nghiêm
chỉnh pháp luật của Nhà nước, phải tích cực tham gia lao động, học tập, thực


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status