Đạo đức và thương hiệu
Có thể nói, chưa khi nào, người ta thấy được những sự kiện vi phạm vệ sinh an toàn thực
phẩm lại gia tăng trong thời gian vừa rồi.
Trong khi dư luận chưa kịp lắng xuống vụ “nguyên liệu quá hạn sử dụng” của Tập đoàn rượu
nước giải khát Việt Nam, Tân Hiệp Phát, thì lại nổi lên vụ hàng trăm tấn thực phẩm vi phạm
nhãn mác và hạn sử dụng của Vinafood, một tập đoàn kinh doanh thực phẩm hàng đầu Việt
Nam.
Lùi xa hơn một chút, ta thấy được vụ khủng hoảng melamine ở sữa. Và rồi lại đến việc thiếu
hàm lượng đạm như đã ghi ở bao bì của một loạt nhãn hàng sữa bị phát hiện. Tất cả những
điều đó đặt ra vấn đề: Tại sao hiện tượng này lại diễn ra ngày càng nhiều. Và đứng ở góc độ
kinh doanh, hiện tượng đó nói lên điều gì?
Lợi nhuận là trên hết
Từ mà cơ quan truyền thông dung gần đây để nói về hiện tượng Vinafood, là “tẩu tán”. Tức
là, sau khi bị cơ quan hữu quan phát hiện mức độ vi phạm, chính Vinafood đã “tuồn” toàn
bộ lượng hàng này trở lại thị trường.
Có lẽ, do mức thiệt hại lớn, nếu số lượng hàng này bị tiêu hủy, nên Vinafood đã quyết định
như trên. Một quyết định thiên về phần "lợi" hơn là “tín” và “đức”. Đạo đức, có lẽ, không
được những người làm kinh doanh ở Vinafood xem như một phẩm chất, yếu tố cần thiết để
thực hiện trong quá trình kinh doanh.
Nếu xét từ góc độ người tiêu dùng, liệu họ còn đủ dũng cảm để sử dụng những giò heo,
sườn cốt lếch hay xúc xích...của Vinafood? Và lượng hàng đã được tuồn ra, với những người
thiếu thông tin vẫn sử dụng, hậu quả để lại sẽ là gì?
Cách sự kiện vừa rồi hơn 1 tháng, một “tên tuổi lớn” khác, Tân Hiệp Phát, đã chối đây đẩy,
khi hàng trăm tấn nguyên liệu bị phát hiện đang tồn trong kho của mình. Tuy nhiên, sau khi
nhận được kết quả giám định của cơ quan phụ trách về an toàn vệ sinh thực phẩm là họ "vô
can” thì lập tức, một "chiến dịch” dội bom người tiêu dùng qua truyền thông, đã được các
nhà quản trị của Tân Hiệp Phát thực hiện rầm rộ.
Tất nhiên, với một tập đoàn có khá nhiều kinh nghiệm về marketing và thương hiệu, việc
làm của Tân Hiệp Phát, nhận được nhiều ý kiến bình luận khác nhau. Tất nhiên, việc họ khôi
phục lại niềm tin, ít nhất là của kênh phân phối, như Coop Mart, Big C...đã là một "nỗ lực"
mà không phải doanh nghiệp nào cũng đủ khả năng và nguồn lực, làm được. Tuy nhiên, sự
Bởi vì, họ hiểu rằng, ngay khi mình "vô can”, những câu chuyện đại loại như vậy sẽ là
"thông tin xấu” làm hoen ố hình ảnh và làm hạn chế sức sống của thương hiệu.
Vấn đề là tại sao, phần lớn các doanh nghiệp của Việt Nam không ý thức hay ý thức không
đầy đủ sự tác động của những sự cố này đến thương hiệu của mình? Điều này có lẽ lý giải
một phần: những chuẩn giá trị của đạo đức kinh doanh đã không được tôn trọng, và hệ lụy
của nó, ắt hẳn không thể hiện ngay nước mắt, mà từ từ và lâu dài. Và điều quan trọng nhất,
khi người tiêu dùng, không còn sự tín nhiệm, niềm tin, tất cả những giá trị khác sẽ chẳng
còn ý nghĩa nào nữa.
Kết luận
Tất nhiên, thị trường có những quy luật của riêng nó. Tuy nhiên, cách làm khôn khéo là tác
động vào những quy luật đó để nó chuyển động theo chiều hướng tích cực, có lợi cho doanh
nghiệp.
Giá trị đạo đức trong kinh doanh không phải là điếu gì quá mơ hồ. Nó cần được những nhà
quản trị doanh nghiệp xác lập trong từng hành động cụ thể và trải đều trên tất cả những
lĩnh vực mà doanh nghiệp đang hoạt động, kinh doanh.
Và khi nào các doanh nghiệp Việt Nam ý thức đầy đủ những điều như vậy, cơ hội để vươn
lên vẫn còn rộng mở, ngược lại, tất cả những nỗ lực để xây dựng thương hiệu,vẫn là điều gì
đó xa vời và không thực tế.
Nguồn DN360