Địa vị pháp lý của thẩm phán trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự theo pháp luật tố tụng hình sự việt nam từ thực tiễn tỉnh cà mau - Pdf 49

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

HUỲNH VIỆT HẰNG

ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA THẨM PHÁN TRONG GIAI ĐOẠN XÉT
XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ THEO PHÁP LUẬT TỐ TỤNG
HÌNH SỰ VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN TỈNH CÀ MAU

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI, 2018


VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

HUỲNH VIỆT HẰNG

ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA THẨM PHÁN TRONG GIAI ĐOẠN XÉT
XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ THEO PHÁP LUẬT TỐ TỤNG
HÌNH SỰ VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN TỈNH CÀ MAU

Chuyên ngành: Luật hình sự và tố tụng hình sự
Mã số: 8.38.01.04 .

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC


…………………………………………….…

5

1. 1 Khái niệm địa vị pháp lý của Thẩm phán trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án
hình sự……………………………………………………………………….…....…

5

1.2. Nội dung địa vị pháp lý của Thẩm phán trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án
hình sự…………………………………………………………………….……..…

12

1.3 So sánh địa vị pháp lý của Thẩm phán và những ngƣời tiến hành tố tụng khác
trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự…………………………….………...

16

Kết luận chƣơng 1…………………………………………………………..………

20

Chương 2. Q
ủ Thẩ

h n

dụng tỉnh C M


21

2.2 Thực tiễn thi hành quy định của Bộ uật tố tụng hình sự năm 2003 về địa vị
pháp lý của Thẩm phán trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự tại tỉnh Cà
Mau …………………………………………………………………………………. 43
Kết luận chƣơng 2…………………………………………………………………..
Chương 3. Nh ng iểm mới của Bộ luật t tụng hình s nă
h

nâng

ịa vị pháp lý của Thẩ

h n

ng gi i

2015
n xét x

49

giải
ơ hẩm

vụ án hình s

50


i

Củng cố đội ngũ và tăng cƣờng địa vị pháp ý của Thẩm phán à yêu cầu cơ bản
để bảo vệ công ý bởi sự ổn định của trật tự pháp uật, giữ kỷ cƣơng xã hội, sự tự do và
an toàn của con ngƣời… một phần quan trọng phụ thuộc vào hoạt động xét xử của tòa
án với “nhân vật chính” à các Thẩm phán.
Hiến pháp năm 2013, Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014 đã kh ng định
Tòa án c vị trí trung tâm của ngành tƣ pháp, Tòa án c nhiệm vụ xét xử bên cạnh đ
còn thực hiện quyền tƣ pháp. N i đến Tòa án à n i đến Thẩm phán, à ngƣời trực tiếp
thực hiện việc xét xử và thực hiện quyền tƣ pháp. Việc Hiến pháp năm 2013, Luật tổ
chức Tòa án nhân dân năm 2014 và ộ uật tố tụng hình sự năm 2015 c hiệu ực, đòi
h i khi giải quyết vụ án hình sự ngƣời Thẩm phán phải tuân thủ đúng và đầy đủ đƣ c
các quy định của các đạo uật này.
Việc giải quyết vụ án hình sự c nhiều giai đoạn, trong đ kết thúc cả quá trình
giải quyết vụ án b ng việc đƣa ra xét xử tại phiên tòa. Xét xử sơ thẩm vụ án hình sự là
giai đoạn trung tâm của cả quá trình tố tụng hình sự, à giai đoạn thể hiện kết quả của
toàn bộ hoạt động tố tụng. Việc giải quyết vụ án trong giai đoạn này c đƣ c thực hiện
thành công hay không điều này phụ thuộc r t nhiều vào Thẩm phán đƣ c phân công
giải quyết vụ án, nh m để đánh giá việc khởi tố, điều tra, truy tố của các cơ quan tiến
hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng để đƣa ra phán quyết công b ng h p pháp, h p ý
thể hiện nền tƣ pháp của đ t nƣớc. Vì vậy, nghiên cứu về địa vị pháp lý của Thẩm
phán trong giai đoạn xét xử sở thẩm vụ án hình sự là cần thiết, góp phần vào việc thực
hiện thành công công cuộc cải cải tƣ pháp mà Đảng ta đang đặt ra. Trên cơ sở lý luận
về địa vị pháp lý của Thẩm phán trong giai đoạn xét xử sơ thẩm và phân tích các quy
định của pháp luật về địa vị pháp ý của Thẩm phán trong giai đoạn xét xử sơ thẩm
nh m phục vụ thiết thực trong hoạt động thực tiễn xét xử sơ thẩm và qua đ g p phần
hoàn thiện các quy định về địa vị pháp lý của Thẩm phán trong giai đoạn xét xử sơ
thẩm trong tình hình mới hiện nay. Do đ , ngƣời viết chọn đề tài địa vị pháp ý của
Thẩm phán trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự theo quy định của pháp uật
1

xác định địa vị pháp ý của Thẩm phán trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự,
t đ đƣa ra những đề xu t nh m hoàn thiện thêm về các quy định đối với địa vị pháp
ý Thẩm phán trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự.
Với mục đích nghiên cứu trên, nhiệm vụ đặt ra là làm rõ lý luận về địa vị pháp lý
của Thẩm phán, quy định của pháp luật cũng nhƣ thực tiễn thi hành các quy định của
pháp luật về địa vị pháp lý của Thẩm phán.
4 Đ i ượng và ph m vi nghiên cứu
Đối tƣ ng nghiên cứu à các quy định và thực tiễn thi hành về nhiệm vụ, quyền
hạn, trách nhiệm của Thẩm phán trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự. Phạm
vi nghiên cứu chỉ nghiên cứu về địa vị pháp lý của Thẩm phán trong giai đoạn xét xử
sơ thẩm vụ án hình sự theo quy định của pháp luật Việt Nam. Về thực tiễn chỉ nghiên
cứu trên địa bàn tỉnh Cà Mau trong 5 năm, t năm 2013 đến năm 2017.
5. Phương h

luận

hương h
2

khi nghiên ứ

i


Luận văn sử dụng các biện pháp biện chứng của Chủ nghĩa Mác Lê nin; Tƣ
tƣởng Hồ Chí Minh và các đƣờng lối của Đảng và nhà nƣớc. Các phƣơng pháp nghiên
cứu cụ thể còn đƣ c sử dụng à phƣơng pháp thống kê, phân tích, tổng h p...
6 Ý nghĩ lý luận và th c tiễn của luận ăn:
Nhận thức đầy đủ về nhiệm vụ quyền hạn và trách nhiệm của Thẩm phán trong
giai đoạn xét xử sơ thẩm và vận dụng trong quá trình hoạt động thực tiễn xét xử. Luận


ng gi i

ơ h mv

n xét x

án hình s
1.2. Nội dung

h n

a v pháp lý c a Th

ng gi i

n xét x

ơ h m v án

hình s
1.3 S
ng gi i

nh

a v pháp lý c a Th m phán và nh ng người tiến hành tố t ng khác
ơ h m v án hình s

n xét x


nh c a Bộ uậ ố
n xét x
h n



2003

a v pháp lý c a Th m

ơ h m v án hình s

2.2 Th c tiễn hi h nh qu
pháp lý c a Th

ng h nh

ng gi i

nh c a Bộ uậ ố
n xét x

Kết luận hương 2.
3

ng h nh




3.2 Các giải h

nâng

a v pháp lý c a Th

h n

ng gi i

n xét x

ơ h m v án hình s
3.3 Một số kiến ngh và giải pháp hoàn thiện iên qu n ến
trong TTHS Việt Nam.
Kết luận hương 3
Kết luận

4

av

h

h n


Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA THẨM PHÁN
TRONG GIAI ĐOẠN XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ

vệ công lý, bảo vệ quyền con ngƣời, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa,
bảo vệ l i ích của Nhà nƣớc, quyền và l i ích h p pháp của tổ chức, cá nhân. B ng
hoạt động của mình, Tòa án góp phần giáo dục công dân trung thành với Tổ quốc,
nghiêm chỉnh ch p hành pháp luật, tôn trọng những quy tắc của cuộc sống xã hội, ý
thức đ u tranh phòng, chống tội phạm, các vi phạm pháp luật khác.
5


Khi n i đến Tòa án thì phải n i đến Thẩm phán vì thực hiện nhiệm vụ của Tòa án
phải thông qua hoạt động thực hiện nhiệm vụ của Thẩm phán. Trong Tòa án, chỉ có
Thẩm phán là thực hiện hoạt động xét xử, thực hiện quyền tƣ pháp. Thẩm phán là nhân
tố r t quan trọng trong hoạt động xét xử. Xét xử đƣ c hiểu là hoạt động do Tòa án
thực hiện để xem xét và giải quyết các vụ án hình sự, dân sự, lao động, kinh tế với việc
tuân thủ đầy đủ, đúng các quy định của pháp luật và trật tự pháp luật có tính lập luận
công b ng và c ý nghĩa bắt buộc chung [46, tr45].
Về khái niệm Thẩm phán: có nhiều cách hiểu về Thẩm phán nhƣ “Thẩm phán là
một chức danh nhà nƣớc trong hệ thống Tòa án các c p [29].
Theo Điều 1 Pháp lệnh Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân năm 2002, Thẩm phán
à ngƣời đƣ c bổ nhiệm theo quy định của pháp luật để làm nhiệm vụ xét xử những vụ
án và giải quyết những việc khác thuộc thẩm quyền của Tòa án”.
Theo của Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014, Thẩm phán à ngƣời c đủ
điều kiện, tiêu chuẩn theo quy định của Luật này, đƣ c Chủ tịch nƣớc bổ nhiệm để àm
nhiệm vụ xét xử và thực hiện quyền tƣ pháp.
Theo các cách hiểu nêu trên thì c thể xác định khái niệm Thẩm phán nhƣ sau:
căn cứ vào đặc điểm nhiệm vụ thì Thẩm phán à ngƣời thực hiện nhiệm vụ xét xử và
quyền tƣ pháp. Chức năng xét xử của Tòa án đƣ c thực hiện thông qua hoạt động xét
xử của Thẩm phán, cùng với Hội thẩm tham gia phán quyết b ng việc ra bản án hoặc
quyết định nhân danh nhà nƣớc, Thẩm phán chủ tọa phiên tòa thay mặt hội đồng xét
xử tuyên án hoặc các quyết định nhân danh nhà nƣớc. Nhƣ vậy, n i đến Thẩm phán
trƣớc tiên phải n i đến đây à ngƣời chuyên àm việc xét xử, công việc xét xử cũng

pháp thì Thẩm phán đƣ c xác định à một chức danh quan trọng và c nghĩa quyết
định đến việc thực hiện quyền tƣ pháp, bởi ẽ hoạt động xét xử à hoạt động trung tâm
thực hiện quyền tƣ pháp. Về cơ quan tƣ pháp và chức danh tƣ pháp thì còn nhiều cách
hiểu nhƣ tại Nghị quyết 49-NQ/TW ngày 02 tháng 6 năm 2005 về chiến ƣ t cải cách
tƣ pháp đến năm 2020 theo đ , phƣơng hƣớng của của cải cách tƣ pháp à xác định
Tòa án có vị trí trung tâm và xét xử là hoạt động trọng tâm, trong các nhiệm vụ cải
cách tƣ pháp xác định rõ “phân quyền quản lý hành chính với trách nhiệm quyền hạn
tƣ pháp trong hoạt động tố tụng tƣ pháp theo hƣớng tăng thẩm quyền và trách nhiệm
cho Điều tra viên, Kiểm sát viên và Thẩm phán để họ chủ động trong thực thi nhiệm
vụ...” qua đ c thể th y Đảng, nhà nƣớc ta xác định các c quan tƣ pháp gồm c cơ
quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án mà trọng tâm là hoạt động tƣ pháp của Tòa án,
chủ thể của hoạt động tƣ pháp à Điều tra viên, Kiểm sát viên và Thẩm phán với cách
7


hiểu này thì chƣa toàn diện vì chỉ c Tòa án à cơ quan c chức năng xét xử, Thẩm
phán chủ tọa phiên tòa cùng với Hội thẩm nhân dân trong hoạt động xét xử khi thực
hiện chức năng xét xử thì nhân danh nhà nƣớc và các quyết định của hội đồng xét xử
này ảnh hƣởng một cách trực tiếp đến một số quyền cơ bản của một con ngƣời, ảnh
hƣởng đến quyền, l i ích của cá nhân, cơ quan, tổ chức và bắt buộc mọi ngƣời, các cơ
quan, tổ chức có phải thực hiện một cách nghiêm khắc, do đ hoạt động tƣ pháp à
hoạt động của Tòa án và Thẩm phán à ngƣời thực hiện hoạt động này.
Thẩm phán cũng à ngƣời c địa vị pháp lý riêng và hoàn toàn khác so với những
ngƣời tiến hành tố tụng còn lại. Chế định bổ nhiệm Thẩm phán đƣ c áp dụng và ngƣời
đƣ c bổ nhiệm phải đáp ứng tiêu chuẩn và điều kiện quy định và phải đƣ c ngƣời có
thẩm quyền bổ nhiệm. Để một ngƣời trở thành Thẩm phán thì phải c đầy đủ các điều
kiện sau:
“1. L

ông dân Việt Nam, trung thành với Tổ quốc và Hiến h

- Có năng
quy n c

ò

ở lên;

c xét x nh ng v án và giải quyết nh ng việc khác thuộc th m
n he qu

nh c a luật tố t ng;

- Đã úng u ển kỳ thi tuyển chọn Th

h n ơ

p.

Theo quy định của Luật tổ chức Tòa án nhân dân hiện hành, Tòa án nhân dân
đƣ c tổ chức bao gồm Tòa án nhân dân tối cao, tòa án nhân dân c p cao, tòa án nhân
dân c p tỉnh, tòa án nhân dân c p huyện và Tòa án quân sự. Về Thẩm phán bao gồm
Thẩm phán tòa án nhân dân tối cao, Thẩm phán cao c p, Thẩm phán trung c p và
8


Thẩm phán sơ c p. T đ , ta c thể th y một ngƣời đƣ c bổ nhiệm là Thẩm phán thì
họ phải c đủ kiến thức về pháp luật cũng nhƣ kinh nghiệm công tác pháp luật, phẩm
ch t đạo đức, bản ĩnh chính trị và phải trải qua kỳ thi tuyển Thẩm phán. Giai đoạn xét
xử, đây đƣ c xem à giai đoạn quan trọng nh t trong quá trình tố tụng. Do vậy, ngƣời
Thẩm phán phải thực sự nghiêm minh và sáng suốt, để có thể đƣa ra một quyết định

định của pháp luật. Khởi tố vụ án hình sự à giai đoạn mở đầu của tố tụng hình sự,
trong đ cơ quan c thẩm quyền xác định có hay không có d u hiệu tội phạm để ra
quyết định khởi tố hoặc quyết định không khởi tố.
Điều tra vụ án hình sự à giai đoạn tố tụng hình sự thứ hai mà trong đ cơ quan
Điều tra căn cứ vào các quy định của pháp uật tố tụng hình sự và dƣới sự kiểm sát của
Viện kiểm sát tiến hành các biện pháp cần thiết nh m thu thập và củng cố các chứng
9


cứ, nghiên cứu các tình tiết của vụ án hình sự, phát hiện nhanh ch ng và đầy đủ tội
phạm, cũng nhƣ ngƣời c

ỗi trong việc thực hiện tội phạm tội để truy cứu trách nhiệm

hình sự, đồng thời bảo đảm cho việc bồi thƣờng thiệt hại về vật ch t do tội phạm gây
nên và trên cơ sở đ quyết định: Đình chỉ điều tra vụ án hình sự hoặc à; Chuyển toàn
bộ các tài iệu của vụ án đ cho Viện kiểm sát kèm theo kết uận điều tra và đề nghị
truy tố bị can.
Quyết định việc truy tố à giai đoạn thứ ba của hoạt động tố tụng hình sự, mà
trong đ Viện kiểm sát căn cứ vào các quy định của pháp uật tố tụng hình sự tiến hành
các biện pháp cần thiết nh m đánh giá một cách toàn diện, khách qua các tài iệu của
vụ án hình sự (bao gồm cả kết uận điều tra và quyết định đề nghị truy tố) do Cơ quan
điều tra chuyển đến và trên cơ sở đ Viện kiểm sát ra quyết định: Truy tố bị can trƣớc
Tòa án b ng bản cáo trạng (kết uận về tội trạng); Trả ại hồ sơ để điều tra bổ sung
hoặc à đình chỉ hay tạm đình chỉ vụ án hình sự.
Xét xử vụ án hình sự à giai đoạn trung tâm và quan trọng nh t của hoạt động tố
tụng hình sự, mà trong đ c p Tòa án c thẩm quyền căn cứ vào các quy định của pháp
uật tố tụng hình sự tiến hành: 1) áp dụng các biện pháp chuẩn bị cho việc xét xử, 2)
Đƣa vụ án hình sự ra xét xử theo thủ tục sơ thẩm để xem xét về thực ch t vụ án, đồng
thời trên cơ sở kết quả tranh tụng công khai và dân chủ của hai bên (buộc tội và bào

sức thuyết phục tránh b

ọt tội phạm và kết án oan ngƣời vô tội. Xét xử à một giai

đoạn tố tụng hình sự trung tâm và quan trọng để cƣờng pháp chế, bảo vệ các quyền và
tự do của công dân trong các giai đoạn xét xử của Tòa án n i riêng và toàn bộ hoạt
động tƣ pháp hình sự của Nhà nƣớc n i chung, g p phần c

hiệu quả vào cuộc

đ u tranh phòng và chống tội phạm trong toàn xã hội, cùng với các giai đoạn tố tụng
hình sự khác g p phần c hiệu quả vào cuộc đ u tranh phòng và chống tội phạm trong
toàn xã hội [36, tr 140-150].
Trong giai đoạn xét xử đƣ c phân thành xét xử sơ thẩm và xét xử phúc thẩm.
Giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự đƣ c bắt đầu t khi Tòa án nhận đƣ c hồ sơ
vụ án hình sự (với quyết định truy tố bị can trƣớc Tòa án kèm theo bản cáo trạng) do
Viện kiểm sát chuyển sang và kết thúc b ng việc một bản án (quyết định). Giai đoạn
xét xử sơ thẩm đƣ c phân thành hai giai đoạn à chuẩn bị xét xử và xét xử vụ án tại
phiên tòa.
Giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án hình sự à khoảng thời gian theo quy
định của pháp uật để tòa án thực hiện các hoạt động tố tụng và các công việc cần thiết
khác chuẩn bị cho việc xét xử vụ án tại phiên tòa sơ thẩm đạt ch t ƣ ng và hiệu quả
cao. Thời hạn chuẩn bị xét xử tính t ngày tòa án thụ ý vụ án. Trong thời hạn này,
Thẩm phán đƣ c phân công chủ tọa phiên tòa c nhiệm vụ nghiên cứu hồ sơ, giải
quyết các khiếu nại và yêu cầu của ngƣời tham gia tố tụng và tiến hành những công
11


việc khác cần thiết cho việc mở phiên tòa. Trong thời hạn chuẩn bị xét xử Thẩm phán
phải ra một trong các quyết định trong cần thiết và thời hạn để mở phiên tòa. Thời hạn


h n

ng gi i

n xét x

ơ hẩm

vụ án hình s .
1.2.1 Nhiệm vụ của Thẩm phán khi xét xử sơ thẩm vụ án hình sự
Theo t điển Tiếng Việt: “ hiệm v là công việ d
chức giao cho phải làm vì một m

í h

ng

ơ qu n, ơn v hoặc tổ

ột thời gian nh

nh”. T đ ta

có thể hiểu r ng: Nhiệm vụ của Thẩm phán là công việc do Tòa án giao cho và Thẩm
phán phải thực hiện vì mục đích bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo vệ l i ích của
Nhà nƣớc, của xã hội, bảo vệ tính mạng, sức kh e, danh dự, nhân phẩm của nhân dân.
Trong hoạt động xét xử của Toàn án, Thẩm phán là nhân tố cơ bản, à ngƣời đƣ c bổ
nhiệm theo quy định của pháp luật để làm nhiệm vụ xét xử và giải quyết những việc
khác thuộc thẩm quyền của Tòa án.

ngƣời Thẩm phán còn phải biết cân, đo, đong, đếm để cho những phán quyết của mình
h p tình h p lý, tạo dựng đƣ c niệm tin của ngƣời dân đối với hệ thống pháp luật.
1.2.2 Quyền hạn của Thẩm phán khi xét xử sơ thẩm vụ án hình sự
Theo T điển Tiếng Việt năm 2001, quyền hạn là quyền đƣ c về nội dung,
phạm vi, mức độ. Còn theo T điển Luật học năm 2006, quyền hạn của một cơ quan,
tổ hức hoặc cá nhân đƣ c xác định theo phạm vi nội dung, ĩnh vực hoạt động, c p và
chức vụ, vị trí công tác và trong phạm vi không gian, thời gian nh t định theo quy định
của pháp luật. Nhƣ vậy, quyền của chủ thể đƣ c xã định dựa trên cơ sở cƣơng vị, chức
vụ mà chủ thể đ đảm nhiệm. Quyền hạn của Thẩm phán thể hiện yêu cầu cụ thể của
Nhà nƣớc đặt ra đối với chức danh Thẩm phán đƣ c quy định trong Hiến pháp, Bộ luật
13


tố tụng hình sự, Luật tổ chức Tòa án nhân dân; quyền hạn còn đƣ c hiểu là trách
nhiệm, là nghĩa vụ mà Thẩm phán phải thực hiện trong hoạt động xét xử.
T đ ta c thể hiểu r ng quyền hạn của Thẩm phán trong tố tụng hình sự là
quyền năng pháp ý mà pháp luậ qu

nh ể Th m phán th c hiện trong quá trình

giải quyết v án hình s .
Nếu nhƣ nhiệm vụ là những công việc bắt buộc phải thực hiện thì quyền hạn
của Thẩm phán là quyền chủ động thực hiện nhiệm vụ của mình. Khi giải quyết vụ án
hình sự, trên cơ sở nhiệm vụ mà Bộ luật tố tụng hình sự quy định, Thẩm phán có
quyền lựa chọn cách thức, thời gian, biện pháp để thực hiện nhiệm vụ nh m giải quyết
vụ án hình sự đƣ c khách quan và đúng pháp uật.
Pháp luật quy định Thẩm phán có nhiệm vụ thực hiện những công việc gì thì
pháp luật phải trao cho Thẩm phán những quyền hạn để thực hiện nhiệm vụ đ . Thực
tế ranh giới giữa nhiệm vụ và quyền hạn khó có thể phân biệt, dễ nhầm lẫn. Vì vậy,
khi soạn thảo và ban hành văn bản pháp luật, các nhà lập pháp đã không tách nhiệm

Thông qua các quy định của pháp luật, trách nhiệm của Thẩm phán trong Tố
tụng hình sự đƣ c chia làm hai loại. Thứ nh t, trách nhiệm phải đảm bảo hoàn thành
việc giải quyết vụ án hình sự khi đƣ c Chánh án phân công. Thứ hai, trách nhiệm đối
với hành vi vi phạm pháp luật trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của
mình. Vì vậy, Thẩm phán chịu trách nhiệm trƣớc pháp luật về việc thực hiện nhiệm
vụ, quyền hạn của mình; nếu có hành vi vi phạm trong khi tiến hành tố tụng thì tùy
theo tính ch t, mức độ sai phạm và hậu quả sẽ bị xử lý kỉ luật, bồi thƣờng thiệt hại
hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự.
Nhƣ vậy, nhiệm vụ, quyền hạn là phạm vi những công việc mà Thẩm phán thực
hiện trong qua trình giải quyết vụ án hình sự nh m mục đích cho việc giải quyết vụ án
đƣ c khách quan, đúng pháp uật và trong thời hạn do pháp luật quy định. Trách
nhiệm của Thẩm phán trong Tố tụng hình sự là những công việc mà Thẩm phán đƣ c
giao phải thực hiện trong quá trình giải quyết vụ án hình sự, họ phải chịu trách nhiệm
trƣớc pháp luật về hành vi và quyết định của mình khi thực hiện những công việc mà
họ đƣ c giao. Nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm nay pháp luật Tố tụng hình sự quy
định cụ thể đối với Thẩm phán, cho phép họ thực hiện một cách độc lập những hành

15


vi, quyết định tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án hình sự. Đồng thời, họ phải tự
chịu trách nhiệm trƣớc pháp luật về hành vi và quyết định tố tụng của mình.
13S
kh

nh ịa vị pháp lý của Thẩm phán và nh ng người ti n hành t tụng

ng gi i

n xét x

tr Chánh án tòa án tối cao thì do Chánh án tòa án nhân dân tối cao quyết định. Nhìn
chung về quan hệ hành chính thì Thẩm phán phải chịu sự phân công, quản ý của
Chánh án trong hoạt động hành chính.

16


Về quan hệ tố tụng thì giữa Thẩm phán và Chánh án c mối quan hệ đều à ngƣời
tiến hành tố tụng: trong giai đoạn xét xử sơ thẩm, giữa Chánh án và Thẩm phán c mối
quan hệ tố tụng trong quá trình Thẩm phán tham gia giải quyết vụ án, chịu sự điều
chỉnh của pháp uật tố tụng hình sự, và độc ập trong xét xử, úc này Chánh án không
còn à ngƣời giữa chức danh quản ý đối với Thẩm phán mà Chánh án thực hiện các
nhiệm vụ do pháp uật tố tụng quy định và Chánh án khi tham gia vào hoạt động tố
tụng thì tham gia với tƣ cách à Thẩm phán (khi tham gia xét xử sơ thẩm mà Hội đồng
xét xử c 2 Thẩm phán). Tuy nhiên giữa quan hệ hành chính và quan hệ tố tụng ại c
úc đan xen kh phân biệt dẫn tới ảnh hƣởng một phần nguyên tắc độc ập trong xét xử
của Thẩm phán chủ tọa phiên tòa. Khi áp dụng biện pháp ngăn chặn à biện pháp tạm
giam thì Chánh án quyết định và khi thực hiện nhiệm vụ việc xét xử thì pháp uật tố
tụng quy định nhiệm vụ quyền hạn của Chánh án c nhiều thêm so với Thẩm phán.
1.3.2 Với Hội thẩm nhân dân
Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân là những ngƣời tiến hành tố tụng và chủ yếu
có quan hệ phát sinh trong pháp luật tố tụng hình sự. Hội thẩm nhân dân là những
ngƣời đại diện cho nhân dân tham gia vào hoạt động xét xử với mục đích đảm bảo tính
dân chủ. Khoản 1 Điều 103 Hiến pháp năm 2013 quy định việc xét xử sơ thẩm của
Toà án nhân dân có Hội thẩm tham gia, tr trƣờng h p xét xử theo thủ tục rút gọn.
Điều này cũng đƣ c Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014 quy định và chế độ bầu
Hội thẩm nhân dân đƣ c thực hiện đối với Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc
trung ƣơng, Tòa án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và tƣơng
đƣơng. Chế độ cử Hội thẩm quân nhân đƣ c thực hiện đối với Tòa án quân sự quân
khu và tƣơng đƣơng, Tòa án quân sự khu vực. Theo đ , Thẩm phán và Hội thẩm là

xử khi nghị án. Để đảm bảo cho hoạt động xét xử đƣ c ch t ƣ ng đòi h i Thẩm phán
và Hội thẩm phải c những kiến thức chuyên môn cũng nhƣ những kỹ năng xét xử,
kinh nghiệm sống. Khi xét xử vụ án, mọi v n đề phải đƣ c Thẩm phán và Hội thẩm
thảo luận và thông qua tại phong nghị án. Khi giải quyết các v n đề phát sinh trong
quá trình xét xử cũng nhƣ khi quyết dịnh bản án, Hội thẩm ngang quyền với Thẩm
phán, để cùng với Thẩm phán đƣa ra một bản án đúng ngƣời, đúng tội, đúng pháp uật.
Mối quan hệ giữa Thẩm phán và Hội thẩm là mối quan hệ độc lập. Tính độc lập
thể ở đây thể thiện trên hai phƣơng diện: độc lập với các cá nhân khác và độc lập với
chính những thành viên Hội đồng xét xử. Mặc dù vậy, trong hoạt động xét xử vị trí của
Thẩm phán vẫn à trung tâm. Điều này thể hiện trong toàn bộ quá trình xét xử. Thẩm
phán luôn giữ vai trò chủ đạo điều khiển phiên tòa t phần thủ tục đến phần tuyên án.
18


1.3.3 Với Kiểm sát viên
Kiểm sát viên khi tham gia tố tụng với hai chức năng chính à thực hành quyền
công tố và Kiểm sát việc tuân theo pháp luật, góp phần đảm bảo cho pháp luật đƣ c
ch p hành nghiêm chỉnh và thống nh t.
Mối quan hệ giữa Thẩm phán với Kiểm sát viên xu t phát t quy định của pháp
uật tố tụng hình sự. Kiểm sát viên giữ vai trò thực hiện quyền công tố và kiểm sát
hoạt động tƣ pháp của Tòa án. Trong giai đoạn xét xử sơ thẩm, Kiểm sát viên c vai
trò kiểm sát việc tuân thủ của Thẩm phán trong giai đoạn chuẩn bị xét xử và tại phiên
tòa thực hiện quyền công tố và kiểm sát hoạt động của Hội đồng xét xử trong quá trình
xét xử tại phiên tòa, đảm bảo việc tuân thủ pháp uật của Hội đồng xét xử, của ngƣời
tham gia tố tụng tại phiên tòa. Trƣớc khi mở phiên tòa, Thẩm phán phải giải quyết các
yêu cầu của Kiểm sát viên về bổ sung chứng cứ, triệu tập ngƣời àm chứng ngƣời tham
gia tố tụng đến phiên tòa, việc thay đổi hội đồng xét xử, về việc xét xử theo thủ tục rút
gọn, Kiểm sát viên cũng c quyền rút quyết định truy tố trƣớc khi mở phiên tòa. Mối
quan hệ này chủ yếu giữa ngƣời đề nghị và ngƣời đƣ c đề nghị, trên cơ sở đề nghị của
Kiểm sát viên, Thẩm phán đƣ c phân công chủ tòa phiên tòa xem xét. Để đảm bảo cho

Chương 2
QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ NĂM 2003 VỀ ĐỊA VỊ
PHÁP LÝ CỦA THẨM PHÁN TRONG GIAI ĐOẠN XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ
ÁN HÌNH SỰ VÀ THỰC TIỄN THI HÀNH TẠI TỈNH CÀ MAU.
21 Q
Thẩ

h n

ịnh của bộ luật t tụng hình s nă
ng gi i

nx

2003

ịa vị pháp lý của

ơ hẩm vụ án hình s :

2.1.1 Quy định về nhiệm vụ, quyền hạn:
Trong giai đoạn xét xử tuy không c quy định cụ thể nhƣng theo thiết kế của Bộ
luật tố tụng hình sự năm 2003 thì trong giai đoạn xét xử sơ thẩm đƣ c phân thành giai
đoạn chuẩn bị xét xử và giai đoạn xét xử tại phiên tòa.
h n

2.1.1.1 Nhiệm v , quy n h n c a Th

ng gi i


Theo quy định này thì giai đoạn chuẩn bị xét xử, Thẩm phán đƣ c phân công
giải quyết vụ án và Thẩm phán đƣ c phân công chủ tọa phiên tòa phải nghiên cứu hồ
sơ. Tuy nhiên đối với Thẩm phán đƣ c phân công xét xử thì nghiên cứu hồ sơ để nắm
về thủ tục tố tụng, nội dung về tội danh về các v n đề c

iên quan để có thể thực hiện

hoạt động xét xử tại phiên tòa, biểu quyết khi nghị án, nói chung có nhiệm vụ quyền
hạn hạn chế so với khi đƣ c phân công là Thẩm phán chủ tọa phiên tòa.
Đối với Thẩm phán khi đƣ c phân công xét xử là chủ tọa phiên tòa thì khi
nghiên cứu hồ sơ, ngoài việc xem xét về thẩm quyền xét xử và thời hạn chuẩn bị xét
xử, Thẩm phán cần nghiên cứu hồ sơ vụ án cả về thủ tục tố tụng và nội dung sự việc.
Phải nghiên cứu đầy đủ các tình tiết về t ng sự việc, về t ng tội của vụ án theo thứ tự
h p lý [35, tr 65].
Về thủ tục tố tụng cần nghiên cứu xem xét việc tiến hành điều tra, truy tố có
tuân thủ các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 và các văn bản quy phạm
pháp luật iên quan hay chƣa để có quyết định tƣơng ứng. Về nội dung vụ án, cần
nghiên cứu đầy đủ toàn diện các tài liệu có trong hồ sơ vụ án về những v n để phải
chứng minh trong vụ án hình sự quy định tại Điều 63 Bộ luật tố tụng hình sự năm
2003 đề ra một trong các quyết định quy định tại khoản 2 Điều 176 Bộ luật tố tụng
hình sự năm 2003.
Ngoài ra, Thẩm phán cũng cần c phƣơng pháp và kỹ năng khi nghiên cứu. Khi
nghiên cứu hồ sơ vụ án, nhiệm vụ của Thẩm phán là cần phải xác định vụ án có thuộc
thẩm quyền xét xử của Tòa án mình hay không.
Để xác định thẩm quyền của Tòa án giải quyết vụ án thì Thẩm phán phải căn cứ
vào khoản 3 Điều 8 Bộ luật hình sự năm 1999; mục 1 Nghị quyết số 01/2000/NQ22



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status