VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
PHẠM HỮU NGHĨA
HỖ TRỢ KHỞI NGHIỆP DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA
THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2018
VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
PHẠM HỮU NGHĨA
HỖ TRỢ KHỞI NGHIỆP DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA
THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Chuyên ngành: Luật Kinh tế
Mã số: 8.38.01.07
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS. TS. HỒ XUÂN THẮNG
Học viện, Quý thầy cô đã nhiệt tình giảng dạy, truyền đạt nhiều kiến thức bổ ích
cho tôi trong suốt quá trình học tập.
Đặc biệt, xin trân trọng cảm ơn PGS TS Hồ Xuân Thắng, giảng viên hướng
dẫn nghiên cứu khoa học, người đã nhiệt tình hướng dẫn, định hướng cho tôi trong
suốt quá trình hoàn thành Luận văn.
Xin kính chúc Ban Giám đốc Học viện Khoa học xã hội, Quý thầy cô, các
bạn Lớp cao học Luật khóa 1. 2016 và PGS TS Hồ Xuân Thắng luôn khỏe mạnh và
thành công.
Mặc dù đã rất cố gắng hoàn thành tốt luận văn này, nhưng sẽ không tránh
khỏi thiếu sót, rất mong nhận được sự quan tâm đóng góp của Quý thầy cô để có thể
giúp tôi hoàn thành luận văn và bổ sung thêm nhiều kiến thức quý báu.
Xin chân thành cảm ơn
Tác giả luận văn
Phạm Hữu Nghĩa
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ......................................................................................................................... 1
Chương 1 Cơ sở lý luận pháp lý về hỗ trợ khởi nghiệp doanh nghiệp nhỏ và
vừa theo pháp luật Việt Nam ........................................................................................ 9
1.1 Khái niệm, đặc điểm, và tầm quan trọng của doanh nghiệp nhỏ và vừa trong
nền kinh tế thị trường. ................................................................................................... 9
1.1.1 Khái niệm doanh nghiệp nhỏ và vừa ................................................................ 9
1.1.2. Đặc điểm của doanh nghiệp nhỏ và vừa........................................................ 14
1.1.3 Vai trò của doanh nghiệp nhỏ và vừa đối với nền kinh tế thị trường............. 17
1.2 Khái niệm, đặc điểm, nguyên tắc và vai trò của hỗ trợ khởi nghiệp doanh
nghiệp nhỏ và vừa ....................................................................................................... 18
1.2.1 Khái niệm, đặc điểm của hỗ trợ khởi nghiệp doanh nghiệp nhỏ và vừa ........ 18
1.2.2. Nguyên tắc của hỗ trợ khởi nghiệp doanh nghiệp nhỏ và vừa ...................... 20
Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam
DN
Doanh nghiệp
DNNVV
DNNVV
HCM
Hồ Chí Minh
HSBC
Ngân hàng Hồng Kông – Thượng Hải
NN &PTNT VN
Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam
QBLTD
Quỹ Bảo lãnh tín dụng
Techcombank
Ngân hàng Kỹ Thương
Tổ chức thương mại quốc tế
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Đảng và Nhà nước ta đã coi trọng phát triển Doanh nghiệp nhỏ và vừa
(DNNVV) là một nhiệm vụ quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội,
đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa của Việt Nam. DNNVV đã và đang trở
thành một bộ phận quan trọng trong nền kinh tế Việt Nam. Với số lượng chiếm 96%
tổng số doanh nghiệp trên cả nước, các DNNVV đóng góp đáng kể vào Tổng thu
nhập quốc dân, tạo công ăn việc làm, huy động các nguồn vốn trong nước cho hoạt
động sản xuất kinh doanh, giải quyết các vấn đề xã hội. Ngoài ra, trong quá trình
vận hành, các DNNVV đã tạo ra một đội ngũ doanh nhân và công nhân, với kiến
thức và tay nghề dần được hoàn thiện, đáp ứng được các yêu cầu mới trong cạnh
tranh. Tuy nhiên, trong quá trình hoạt động, các DNNVV gặp không ít những khó
khăn: thiếu vốn, trình độ công nghệ còn yếu, khó khăn trong việc gia nhập thị
trường, phân biệt đối xử, cạnh tranh gay gắt của các doanh nghiệp nước ngoài khi
sau khi Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) Đặc biệt là tác
động tiêu cực của cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới khiến cho các DNNVV càng
gặp nhiều bất lợi trong hoạt động sản xuất. Yêu cầu đặt ra là cần phải thực thi cơ
chế chính sách cụ thể để hỗ trợ các DNNVV ở Việt Nam nói chung và doanh
nghiệp trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh nói riêng phát triển, vượt qua những
khó khăn kinh tế, nâng cao khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp trên thị
trường trong nước và quốc tế.
Thành phố Hồ Chí Minh với vị trí, vai trò là một trung tâm kinh tế thương
mại lớn và có tầm chiến lược phát triển mạnh nhất trong cả nước có nhiều lợi thế là
một thành phố trẻ năng động, sáng tạo, có nhiều điều kiện về vốn và công nghệ do
đó việc khuyến khích khởi nghiệp DNNVV là rất cần thiết. Tuy nhiên việc thúc đẩy
tốc độ khởi nghiệp của các DNNVV tại TP Hồ Chí Minh trong thời gian qua chưa
thật sự ổn định, số doanh nghiệp đã thành lập nhận được sự hỗ trợ trong khởi
tiễn thành phố Hồ Chí Minh” để làm đề tài nghiên cứu cho luận văn thạc sỹ luật
học chuyên ngành Luật kinh tế của mình.
2. Tình hình nghiên cứu
2
Trong nhiều năm gần đây, các khía cạnh liên quan đến sự hỗ trợ DNNVV
được nhiều cá nhân, tổ chức quan tâm nghiên cứu. Trong đó, đã có nhiều nghiên
cứu về vai trò của Nhà nước trong việc đưa ra quyết định, chính sách hỗ trợ
DNNVV, có thể điểm qua các nội dung đã nghiên cứu như:
Sách tham khảo, bài báo khoa học:
- Đổi mới cơ chế và chính sách hỗ trợ phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa ở
Việt Nam đến năm 2005, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, năm 2000, PGS.TS
Nguyễn Cúc chủ biên. Tài liệu tham khảo này, Tác giả đã đánh giá thực trạng các
quy định của pháp luật cũng như thực tiễn phát triển hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và
vừa ở nước ta cho đến năm 2005, giai đoạn chuẩn bị hội nhập kinh tế thế giới.
Ngoài ra Tác giả cũng đưa ra những kiến nghị căn cơ nhằm đổi mới cơ chế và chính
sách hỗ trợ phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam đến năm 2005 làm tiền
đề cho sự nghiệp tiếp tục đổi mới kinh tế thị trường ở nước ta.
- Phát triển DNNVV, kinh nghiệm nước ngoài và phát triển DNNVV ở Việt
Nam, NXB Thống kê, Hà Nội 2001, Vũ Quốc Tuấn - Hoàng Thu Hoà. Tác giả
nghiên cứu kinh nghiệm của một số quốc gia trên thế giới cho việc xây dựng hoàn
thiện hệ thống pháp luật kinh tế, trong đó có liên quan đến các quy định về sự Phát
triển DNNVV, một đội ngũ doanh nghiệp đầy tiềm năng trong tương lai.
- Tài chính hỗ trợ phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ, NXB Tài Chính, Hà
Nội năm 2002 của GS.TS Hồ Xuân Phương, TS. Đỗ Minh Tuấn và Chu Minh
Phương. Tài liệu này nhóm tác giả viết dưới góc độ kinh tế học mô tả sâu hơn về sự
phát triển loại hình doanh nghiệp nhỏ và vừa trong nền kinh tế thị trường ở nước ta,
trong đó vấn đề cơ bản vẫn là việc hỗ trợ về mặt tài chính để tháo gỡ sự phát triển
trạng DNNVV tại một địa phương Tây nguyên của nước ta, Tác giả đã hệ thống các
quy định của pháp luật kinh doanh về sự phát triển DNNVV đồng thời kết hợp với
thực tiễn áp dụng quy định của pháp luật về DNNVV để đưa ra những kiến nghị
phù hợp với sự phát triển doanh nghiệp này ở tỉnh Đăk Lăk phù hợp với quy định
hiện hành.
- Luận án Tiến sỹ: DNNVV ở Thành phố Hồ Chí Minh sau khi Việt Nam gia
nhập Tổ chức thương mại thế giới WTO, Thái Văn Rê, 2011 tại Học viện Chính trị Hành chính quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh. Dưới góc nhìn của người nghiên cứu
4
về kinh tế học, Tác giả luận án đã nêu rõ bức tranh hình thành và phát triển của loại
hình DNNVV trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh cho phù hợp với yêu cầu hội
nhập kinh tế thế giới WTO mà Việt Nam là thành viên thứ 150. Bên cạnh đó Tác
giả đề xuất những giải pháp cơ bản để đội ngũ doanh nhân này vững mạnh, tự tin
hội nhập vào ngôi nhà chung Thương mại thế giới (WTO).
- Luận án Tiến sỹ: Giải pháp phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Thành
phố Hồ Chí Minh, Hồ Tiến Dũng, 1995 tại trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ
Chí Minh. Luận án đánh giá thực trạng phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa
bàn thành phố Hồ Chí Minh và đưa ra những giải pháp cơ bản để phát triển loại
hình odanh nghiệp này cho phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế xã hội ở nước ta.
Tuy nhiên, từ khi luật hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa ra đời thì tại thành phố
Hồ Chí Minh chưa có tác giả nào đi sâu nghiên các chính sách hỗ trợ của Nhà nước
đối với các DNNVV trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập kinh
tế quốc tế; nhất là những giải pháp hỗ trợ việc khởi nghiệp của DNNVV. Đây là
một vấn đề lớn đòi hỏi cần có những đầu tư nghiên cứu cụ thể.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
3.1 Mục đích nghiên cứu
Đánh giá thực trạng áp dụng quy định của pháp luật về hỗ trợ khởi nghiệp
DNNVV trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh trong những năm qua, đề ra những
kiến nghị hỗ trợ doanh nghiệp khởi nghiệp phù hợp với sự phát triển kinh tế của đất
để nhận thức, phát hiện và khai thác các khía cạnh khác nhau của lý thuyết từ đó
chọn lọc những thông tin cần thiết phục vụ cho đề tài nghiên cứu. Là phương pháp
nhận xét những mặt mạnh, những điểm yếu, những mối quan hệ thông tin từ các lý
thuyết đã thu thập được và đánh giá thực tiễn, suy luận vấn đề về hỗ trợ doanh
nghiệp khởi nghiệp trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh từ đó đề ra một số kiến
nghị hoàn thiện. Phân tích và tổng hợp là hai phương pháp có quan hệ mật thiết với
nhau tạo thành sự thống nhất không thể tách rời: phân tích được tiến hành theo
phương hướng tổng hợp, còn tổng hợp được thực hiện dựa trên kết quả của phân
tích.
- Phương pháp thống kê: Luận văn thu thập và xử lý số liệu về DNNVV,
nghiên cứu các khó khăn, vướng mắc của DNNVV từ đó kiến nghị giúp hỗ trợ khởi
6
nghiệp DNNVV trong thời gian tới.
- Phương pháp so sánh: Là phương pháp tìm những nét tương đồng, sự khác
biệt tiêu chí xác định DNNVV của nước ta và một số nước phát triển, đang phát
triển trên thế giới và so sánh trong chính sách hỗ trợ khởi nghiệp DNNVV của một
số nước trong khu vực và Châu Á từ đó đề xuất các giải pháp hỗ trợ khởi nghiệp
DNNVV ở Việt Nam.
- Phương pháp luận nghiên cứu: Trên cơ sở phương pháp luận nghiên cứu,
Luận văn dựa trên các quan điểm, đường lối phát triển kinh tế - xã hội của Đảng,
chính sách, pháp luật của Nhà nước, các nghị quyết của thành phố Hồ Chí Minh về
phát triển DNNVV, kết hợp phương pháp logic và lịch sử, phân tích và tổng hợp,
thống kê, so sánh, cũng như một số phương pháp khác đang được sử dụng nghiên
cứu trong khoa học pháp lý.
6. Ý nghĩa khoa học và giá trị ứng dụng của đề tài
Luận văn có những đóng góp mới sau đây:
- Góp phần hệ thống hoá và làm sáng tỏ thêm những vấn đề lý luận về hỗ trợ
khởi nghiệp DNNVV bằng việc bổ sung phân tích chứng minh những quy định hiện
Theo Wikiperia thì, Doanh nghiệp siêu nhỏ, nhỏ và vừa hay còn gọi thông
dụng là doanh nghiệp nhỏ và vừa là những doanh nghiệp có quy mô nhỏ bé về
mặt vốn, lao động hay doanh thu. DNNVV có thể chia thành ba loại cũng căn cứ
vào quy mô đó là doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp vừa.
Theo tiêu chí của Nhóm Ngân hàng Thế giới, doanh nghiệp siêu nhỏ là
doanh nghiệp có số lượng lao động dưới 10 người, doanh nghiệp nhỏ có số lượng
lao động từ 10 đến dưới 200 người và nguồn vốn 20 tỷ trở xuống, còn doanh nghiệp
vừa có từ 200 đến 300 lao động nguồn vốn 20 đến 100 tỷ.
Ở Việt Nam, theo Điều 3, Nghị định số 56/2009/NĐ-CP ngày 30/6/2009 của
Chính phủ, quy định số lượng lao động trung bình hàng năm từ 10 người trở xuống
được coi là doanh nghiệp siêu nhỏ, từ 10 đến dưới 200 người lao động được coi là
Doanh nghiệp nhỏ và từ 200 đến 300 người lao động thì được coi là Doanh nghiệp
vừa.
Thực chất, trong thực tiễn tổ chức và hoạt động trong nền kinh tế thị trường
ở nước ta, DNNVV là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định pháp
luật, được chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn vốn. Tức
là tổng nguồn vốn tương đương tổng tài sản được xác định trong bảng cân đối kế
toán của doanh nghiệp hoặc số lao động bình quân năm, trong đó tổng nguồn vốn là
tiêu chí ưu tiên.
Theo Luật hỗ trợ DNNVV hiện hành thì không có khái niệm như thế nào là
DNNVV, tức là không được định nghĩa như thế nào là là DNNVV mà các nhà làm
9
luật sử dụng cụm từ “bao gồm” như chỉ liệt kê nhận dạng theo kiểu doanh nghiệp
siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp vừa, có số lao động tham gia bảo hiểm
xã hội bình quân năm không quá 200 người và đáp ứng một trong hai tiêu chí sau
đây: Tổng nguồn vốn không quá 100 tỷ đồng hoặc tổng doanh thu của năm trước
liền kề không quá 300 tỷ đồng” [22].
Để hướng dẫn thi hành xác định khoa học hơn về tiêu chí xác định DNNVV
không quá 300 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn không quá 100 tỷ đồng, nhưng không
phải là doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ theo quy định tại khoản 1, khoản 2
Điều 6 Nghị định”
Tiêu chí xác định DNNVV trên thế gới
Hầu hết các nước trên thế giới đều nghiên cứu tiêu chí phân loại DNNVV
theo 2 nhóm tiêu chí phổ biến dùng để phân loại, đó là: tiêu chí định tính và tiêu chí
định lượng.
Tiêu chí định tính: Dựa trên những đặc trưng cơ bản của DNNVV như không
có vị thế độc quyền trên thị trường, chuyên môn hoá thấp, số đầu mối quản lý ít…
các tiêu chí này có ưu thế là phản ánh đúng của vấn đề nhưng thường khó xác định
trên thực tế. Do đó, nó chỉ được làm cơ sở để tham khảo mà ít được sử dụng trên
thực tế để phân loại.
Tiêu chí định lượng: Thường sử dụng các tiêu chí như là số lao động thường
xuyên và không thường xuyên trong doanh nghiệp, giá trị tài sản hay vốn, doanh
thu, lợi nhuận. Trong đó: - Số lao động có thể là lao động trung bình trong danh
sách, lao động thường xuyên, lao động thực tế... - Tài sản hoặc vốn có thể dùng
tổng giá trị tài sản (hay vốn), tài sản hay vốn cố định, giá trị tài sản còn lại...- Doanh
thu có thể là tổng doanh thu trong một năm, tổng giá trị gia tăng trong một
năm(hiện nay có xu hướng sử dụng chỉ tiêu này).
Nghiên cứu về các tiêu chí xác định DNNVV ở một số nước trên thế giới có
thể nhận thấy: Dựa theo quy mô có thể phân loại doanh nghiệp thành doanh nghiệp
có quy mô lớn, vừa và nhỏ. Trong đó, việc xác định các tiêu chí và định mức để
đánh giá quy mô của một DNNVV có sự khác biệt ở các quốc gia trên thế giới.
Ngay trong cùng một quốc gia, những tiêu chí này cũng có thể được thay đổi theo
thời gian vì sự phát triển của doanh nghiệp, đặc điểm nền kinh tế hay tốc độ phát
11
triển kinh tế của quốc gia đó... Tuy nhiên, các tiêu chí phổ biến nhất được nhiều
quốc gia sử dụng là: số lượng lao động bình quân mà doanh nghiệp sử dụng trong
12
sản xuất, số lượng lao động bình quan từ không đến 150 lao động, vốn đầu tư không
quy định, về doanh thu quy định RM từ không đến 25 triệu; Philippine phân loại
doanh nghiệp là nhỏ và vừa, số lượng lao động bình quan dưới 200 lao động, vốn
đầu tư Peso 1,5-60 triệu, về doanh thu không quy định; Indonesia phân loại doanh
nghiệp là nhỏ và vừa, số lượng lao động bình quân không quy định, vốn đầu tư
thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh, bao gồm doanh
nghiệp nhà nước, doanh nghiệp tư nhân, công ty hợp danh, công ty trách nhiệm hữu
hạn, công ty cổ phần, nhóm công ty” Như vậy DNNVV luôn chiếm đa số trong tổng
số doanh nghiệp, đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế.
14
Nhìn nhận theo góc độ tham khảo thông tin các nước trên thế giới mà cụ thể
là theo số liệu được Ủy ban châu Âu công bố 8/2014, hơn 20 triệu doanh nghiệp
nhỏ và vừa ở châu Âu chiếm 99% tổng số doanh nghiệp. Theo báo cáo mới nhất
vào tháng 1/2014 của Tradeup về tình hình tài chính của các doanh nghiệp nhỏ và
vừa tại Mỹ, nhóm doanh nghiệp này chiếm tới 99% tổng số doanh nghiệp, sử dụng
trên 50% tổng số lao động xã hội, tạo công ăn việc làm cho 65% lượng lao động ở
khu vực tư nhân. Tại Việt Nam, theo Viện Phát triển doanh nghiệp thuộc Phòng
Thương mại và Công nghiệp Việt Nam 2011 thì Việt Nam có 543.963 doanh
nghiệp, trong đó doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm 97%, đóng góp hơn 40% GDP cả
nước và sử dụng 51% tổng số lao động xã hội.
Thứ hai, doanh nghiệp nhỏ và vừa có quy mô vốn nhỏ, gặp khó khăn trong
việc tiếp cận với nguồn vốn chính thức, đặc biệt là ở các nước đang phát triển.
Điều này là một cản trở không nhỏ trong việc triển khai, áp dụng các tiến bộ
khoa học, công nghệ mới vào hoạt động thương mại nói chung và xúc tiến thương
mại trực tuyến nói riêng.
Thứ ba, doanh nghiệp nhỏ và vừa chịu sự cạnh tranh khốc liệt của các công
ty, tập đoàn lớn và từ chính các doanh nghiệp với nhau. Trong quá trình hội nhập,
các tập đoàn lớn thường có xu hướng vươn mình ra thế giới, thành lập các chi
nhánh, công ty con ở các quốc gia có nhiều lợi thế, vì vậy, các doanh nghiệp nhỏ và
vừa ở các quốc gia này phải tìm ra những phương thức, công cụ mới trong hoạt
động kinh doanh.
Thứ tư, với nguồn vốn nhỏ hẹp, các doanh nghiệp này thường tập trung vào
các ngành hàng gần gũi với người tiêu dùng hơn là đầu tư vào các ngành công
điểm của nó, đó là quy mô nhỏ, vốn ít, do đó các doanh nghiệp này thường lâm vào
tình trạng thiếu vốn trầm trọng mỗi khi muốn mở rộng thị trường, hay tiến hành đổi
mới, nâng cấp trang thiết bị.
Hai là: Các DNNVV thường phụ thuộc vào doanh nghiệp mà nó cung cấp
sản phẩm.
Ba là: Khó khăn trong nâng cấp trang thiết bị, đầu tư công nghệ mới, đặc
biệt là các công nghệ đòi hỏi vốn lớn, từ đó ảnh hưởng đến năng suất lao động, chất
lượng sản phẩm và tính cạnh tranh trên thị trường. Thiếu trợ giúp về tài chính và
16
tiếp cận thị trường nên các DNNVV thường tỏ ra bị động trong các quan hệ thị
trường.
Bốn là: Có nhiều hạn chế trong đào tạo công nhân và chủ doanh nghiệp,
thiếu bí quyết và trợ giúp kỹ thuật, không có kinh nghiệm trong thiết kế sản phẩm,
thiếu đầu tư cho nghiên cứu và phát triển,... nói cách khác là không đủ năng lực sản
xuất để đáp ứng các yêu cầu về chất lượng, khó nâng cao được năng suất và hiệu
quả kinh doanh.
Năm là: Do tính chất của nó, DNNVV gặp khó khăn trong thiết lập và mở
rộng quan hệ hợp tác với các đơn vị kinh tế bên ngoài địa phương doanh nghiệp đó
đang hoạt động. Đồng thời DNNVV gặp khó khăn trong thiết lập chỗ đứng vững
chắc trong thị trường.
1.1.3 Vai trò của DNNVV đối với nền kinh tế thị trường
DNNVV đóng góp vào việc tăng trưởng kinh tế
Có thể nhận thấy, sự phát triển mạnh mẽ của các DNNVV ở nước ta đã khơi
dậy sức sản xuất rất lớn và giải quyết một số lượng lớn lao động xã hội, kể cả ở
vùng sâu vùng xa. Năng lực sản xuất hàng hóa của thành phần này tăng mạnh, đóng
góp đáng kể vào GDP.
Đối với ngành nghề thuộc lĩnh vực xuất khẩu, với chính sách mở rộng và
khuyến khích thương mại quốc tế, tạo điều kiện cho mọi thành phần kinh tế tham
đóng góp phúc lợi xã hội khác ở các địa phương trong cả nước. Một số doanh
nghiệp còn trực tiếp xây dựng nhà tình nghĩa tặng gia đình chính sách, gia đình
hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, cung cấp học bổng cho sinh viên,v.v…
1.2 Khái niệm, đặc điểm, nguyên tắc và vai trò của hỗ trợ khởi nghiệp
DNNVV
1.2.1 Khái niệm, đặc điểm của hỗ trợ khởi nghiệp DNNVV
Theo từ điển tiếng việt, hỗ trợ là sự giúp đỡ lẫn nhau, giúp đỡ thêm vào, giúp
đỡ một cá nhân, tập thể, hay một tổ chức nào. Khởi nghiệp chính là bắt đầu làm một
nghề nghiệp, sự nghiệp nào đó. Như vậy, Khởi nghiệp có thể hiểu theo nghĩa tiếng
Việt là khi một cá nhân có ý định tự mình bắt đầu một công việc kinh doanh riêng
và tự mình làm chủ thì gọi là khởi nghiệp. Cũng có thể hiểu rằng: khởi nghiệp là
quá trình hiện thực ý tưởng kinh doanh, bao gồm quá trình thành lập và vận hành
18
doanh nghiệp kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp lần đầu.
Có thể hiểu một cách rất đơn giản nữa là “khởi nghiệp là một quá trình bắt đầu từ
việc nhận biết cơ hội, từ đó thúc đẩy việc phát triển ý tưởng cho đến thành lập
doanh nghiệp và cuối cùng là vận hành, duy trì và phát triển doanh nghiệp”.
Do đó hỗ trợ khởi nghiệp đứng ở góc độ nào đó thì được hiểu chính là việc
giúp đỡ cá nhân, tập thể thực hiện quá trình hiện thực ý tưởng kinh doanh.
Luật hỗ trợ DNNVV lại đưa ra khái niệm cụm từ về “DNNVV khởi nghiệp
sáng tạo” là DNNVV được thành lập để thực hiện ý tưởng trên cơ sở khai thác tài
sản trí tuệ, công nghệ, mô hình kinh doanh mới và có khả năng tăng trưởng
nhanh[22]. Như vậy trong pháp luật hiện hành chỉ thống nhất sử dụng khái niệm
doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo là những DNNVV. Khởi nghiệp sáng tạo là
thành lập mới dể đi đầu sáng tạo trong cách hành động kinh doanh mang lại nhiều
sản phẩm cao hơn tốt hơn cho xã hội để thúc đẩy nền kinh tế quốc gia phát triển.
Hỗ trợ khởi nghiệp DNNVV có những đặc điểm cơ bản đó là tạo điều kiện
thuận lợi cho các DNNVV được thành lập, phát triển, tăng hiệu quả kinh doanh và