BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP. HỒ CHÍ MINH
****************
HỨA HOÀNG MINH
KHẢO SÁT, ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG VÀ ĐỀ
XUẤT QUY HOẠCH CÂY XANH ĐƯỜNG PHỐ
CHO CÁC TUYẾN ĐƯỜNG CỦA THÀNH PHỐ
VŨNG TÀU.
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNH CẢNH QUAN & KỸ THUẬT HOA VIÊN
Thành phố Hồ Chí Minh
Tháng 7/2011
BỘ GIÁO DỤC V À ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP. HỒ CHÍ MINH
**************
HỨA HOÀNG MINH
KHẢO SÁT, ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG VÀ ĐỀ
XUẤT QUY HOẠCH CÂY XANH ĐƯỜNG PHỐ
CHO CÁC TUYẾN ĐƯỜNG CỦA THÀNH PHỐ
VŨNG TÀU.
Ngành: Cảnh Quan & Kỹ Thuật Hoa Viên
Sinh viên thực hiện
Hứa Hoàng Minh
11
TÓM TẮT
Đề tài nghiên cứu “KHẢO SÁT, ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG VÀ ĐỀ
XUẤT QUY HOẠCH CÂY XANH ĐƯỜNG PHỐ CHO CÁC TUYẾN ĐƯỜNG
CỦA THÀNH PHỐ VŨNG TÀU.” được thực hiện tại thành phố Vũng Tàu từ ngày
15/02/2011 đến ngày 11/07/2011.
Kết quả thu được:
Hiện trạng cây xanh, cơ sở hạ tầng trên 110 tuyến đường tại thành phố Vũng
Tàu, số lượng, chủng loại, chiều cao, đường kính trung bình của các loại cây…
Đánh giá hiện trạng các tuyến đường về cơ sở hạ tầng, tình hình cây xanh.
Đề xuất được phương án thiết kế cây xanh đơn giản cho 3 tuyến đường đã
quy hoạch.
12
MỤC LỤC
DANH SÁCH CÁC BẢNG - BIỂU ĐỒ
Bảng 4.1:Bảng diện tích mảng xanh thành phố Vũng Tàu ............................................... 17
Bảng 4. 2.: Bảng số lượng từng loại cây xanh trồng và không trồng trên thảm cỏ.... Error!
Bookmark not defined.
Bảng 4. 3: Bảng số lượng cây xanh từng loại trên các tuyến đường:Error!
Trong lịch sử phát triển của đô thị thế giới nói chung và đô thị Việt Nam nói riêng
mảng xanh đô thị là một yếu tố quan trọng của việc phát triển đô thị bền vững. Cây
xanh trồng trong đô thị là một thành phần của mảng xanh đô thị, với nhiều chức
năng như: giảm thiểu ô nhiễm môi trường, điều hòa nhiệt độ không khí, kết hợp với
các yếu tố khác tạo cảnh quan hài hòa cho đô thị, giảm bớt tiếng ồn, điều hòa khí
hậu, cân bằng hệ sinh thái góp phần bảo vệ con người, vì vậy xanh hóa đô thị là một
vấn đề cần được quan tâm
Cây xanh không chỉ có vai trò về sinh thái và mỹ quan mà nó còn là nét đặc
trưng riêng cho từng đô thị, tạo sự hài hòa, cân bằng trong đô thị. Cây xanh có thể
trở thành nét riêng cho đô thị đó như khi nhắc đến thành phố hoa phượng là người
ta sẽ nghĩ ngay đến thành phố Hải Phòng hay cây xanh cũng trở thành tên của địa
nhanh như tên của Huyện Củ Chi, quận Gò Vấp của thành phố Hồ Chí Minh.Vì vậy
,việc quy hoạch, trồng, quản lý cây xanh đô thị là một việc rất quan trọng và cần
thiết Việc lập và điều chỉnh hệ thống cây xanh đường phố được thực hiện theo điều
20, 24 và 27 (mục 3, Chương 2) của Luật Xây Dựng năm 2003. và bộ xây dựng đã
ra thông tư 20/2005/TT-BXD ngày 20/12/2005 hướng dẫn quản lý cây xanh đô thị
và ban hành tiêu chuẩn xây dựng Việt Nam 362:2005 “Quy hoạch cây xanh sử dụng
công cộng trong các đô thị - Tiêu chuẩn thiết kế” ngày 05/01/2006.
Thành phố Vũng Tàu là đô thị loại II và là tỉnh lỵ của tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu.
Với 48,1 km bờ biển, Vũng Tàu là một bán đảo bao gồm 14 phường và một xã
Long Sơn, là đô thị nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, là trung tâm dầu
khí, là thành phố du lịch lâu đời. Trong những năm qua thành phố Vũng Tàu có tốc
độ đô thị hóa cao, nhiều tuyến đường được mở rộng và tạo mới, hệ thống cây xanh
đường phố được bảo tồn và trồng thêm, tuy vậy, một số tuyến đường vẫn chưa có
hệ thống cây xanh hoặc cây xanh chưa dồng bộ Vì vậy Tôi thực hiện đề tài " Khảo
15
Ở Việt Nam, quá trình nghiên cứu phát triển trồng cây xanh đã có từ lâu đời.
Trong thời kỳ phong kiến, các cung điện, lăng tẩm và các vườn thượng uyển được
17
trồng cây xanh và một số cây vẫn còn tồn tại cho đến ngày nay ở các khu di tích.
Nhưng cây xanh đô thị thật sự chú trọng phát triển một cách khoa học khắp nơi
trong cả nước vào thời kì Pháp thuộc, khi mà quá trình xây dựng đô thị ở Nam Kỳ,
Bắc Kỳ, Trung Kỳ được hình thành.
Nhìn chung, bước đầu mới chỉ tập trung cho Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh.
Đông dân cư, khói bụi, tiếng ồn do công nghiệp và giao thông… là các vấn đề
thường gặp lớn ở Việt Nam. Mặc dù tốc độ đô thị hóa chậm hơn các nước trong
khu vực và trên thế giới nhưng đến năm 2000 cũng chỉ có khoảng 25% (đến năm
2010 ước tính cũng chỉ có khoảng 30%) dân số Việt Nam sống trong các đô thị, sự
hình thành các khu công nghiệp, khu chế xuất, chỉnh trang đô thị và xây dựng các
khu dân cư mới là điều tất yếu xảy ra, đạt yêu cầu gia tăng diện tích mảng xanh
nhằm góp phần giữ gìn, cân bằng sinh thái đô thị.
Năm 1994, ở TP. Hồ chí Minh rầm rộ lên các đề tài nghiên cứu khoa học,
giáo trình đào tạo công nhân chăm sóc và bảo quản cây xanh đô thị, bao gồm nhiều
nội dung như về vai trò của cây xanh đô thị đối với con người, nâng cao kỹ thuật
chăm sóc và bảo quản cây. Bên cạnh những nghiên cứu mang tính chất tổng quát và
quy hoạch đô thị gắn với quá trình phát triển mảng xanh, kiến trúc phong cảnh,
nghiên cứu các loại cây trồng đô thị, chăm sóc và bảo quản… giữ gìn khoảng không
gian xanh hiện có, một chiến lược phát triển ổ định nhất quán trên cơ sở điều tra
nghiên cứu một cách có hệ thống tình trạng mảng xanh đô thị ở Hà Nội, TP. Hồ Chí
Minh và một số đô thị khác là những vấn đề cấp bách mà các đề tài nghiên cứu
trong nước quan tâm trong khoảng 20 năm nay.
Nhiều tác giả như Hàn Tất Ngạn, Phạm Kim Giao, Nguyễn Thị Thanh Thủy,
Nguyễn Thế Bá, Chế Đình Lý… đã nghiên cứu và biên soạn nhiều tài liệu về quy
xanh. Chức năng này của cây xanh đặc biệt có hiệu quả ở các vùng luôn có gió bão,
gió lạnh và trong các đai cách ly giữa khu công nghiệp, khu chế xuất và khu dân cư
xung quanh.
► Tăng độ ẩm, tác động tích cực vào chu kì tuần hoàn nước: Cây xanh
ngăn chặn và lọc bức xạ mặt trời, ngăn chặn gió làm thoát hơi nước, làm giảm sự
bốc hơi của ẩm độ đất. Độ chênh lệch độ ẩm tương đối giữa sàn rừng, lớp không khí
sát mặt đất và trên tán cây biến động từ 5-6%. Cây xanh cũng giữ vai trò quan trọng
trong chu kỳ tuần hoàn nước, ngăn lượng mưa và làm chậm dòng chảy trên mặt đất.
19
Cây xanh còn có tác dụng ngăn cản sự bốc hơi độ ẩm trong đất. Ngoài ra cây xanh
còn cung cấp oxi và giảm tích lũy khí cacbonic, cây xanh là nhà máy duy nhất lấy
khí CO2 và thải khí O2 thông qua quá trình quang hợp và hô hấp. Một số cây xanh
còn tiết ra chất phytoncide có tác dụng diệt khuẩn làm trong lành môi trường, có lợi
cho sức khỏe của cư dân đô thị.
2.2.2. Cây xanh có tác dụng giải quyết vấn đề kỹ thuật học môi sinh:
► Hạn chế tiếng ồn: Cook (1978) cho biết rằng một đai cây rộng 30m cao
15m có thể làm giảm tiếng ồn trên xa lộ đến 10dB. Tuy nhiên, đai cây rộng như thế
không dễ thực hiện trong điều kiện đô thị, nơi đất đai khá đắt đỏ. Vị trí đai cây hết
sức quan trọng, nếu đặt gần nguồn âm thanh thì tốt hơn là đặt gần khu vực cần bảo
vệ. Các nhà ở đô thị có thể được che chắn hiệu quả hơn với tiếng ồn do xe cộ với
hàng cây bụi đặt sau 1 hàng cây cao có chiều rộng khoảng 6m.
► Hạn chế ô nhiễm không khí: Các chất gây ô nhiễm không khí khá phong
phú gồm cả ba dạng khí rắn và lỏng, trong đó hạt phân tử là quan trọng nhất và vai
trò cây xanh trong việc ngăn chặn, làm giảm nồng độ các chất ô nhiễm vẫn còn
chưa được biết đến nhiều. Đối với bụi, trung bình 1ha cây xanh đô thị có thể thanh
lọc 50 – 70 tấn /năm. Cây xanh ( cành, thân, lá, chồi, hoa…) hứng các hạt ô nhiễm
(cát, bụi, tro,khói…) và sau đó được rửa trôi bằng mưa. Cây xanh cũng giúp tách
2.2.3. Cây xanh là thành phần cảnh quan, một bộ phận kiến trúc đô thị:
Cây xanh có vai trò quan trọng và là một trong những yếu tố hình khối chủ
yếu, đặc biệt trong nghệ thuật kiến trúc cảnh quan. Cây xanh có nhiều hình thức đa
dạng và màu sắc biến đổi không ngừng trong quá trình sinh trưởng và phát triển của
chiều cao, vòm lá, thân cành, màu sắc, hoa. Do đó, kiến trúc cảnh quan trong đó có
cây xanh, mảng xanh sẽ có những thay đổi theo thời gian và không gian. Cây xanh,
mảng xanh bboos trí theo nhóm cũng có giá trị trang trí, làm trung tâm bố cục cho
một số kiến trúc cảnh quan. Việc bố trí độc lập hoặc phối kết nhiều nhóm cây còn
tạo ra các chức năng khác của mảng xanh như giới hạn không gian, chhe chắn tầm
nhìn, kiểm soát sự riêng tư.
2.2.4. Vai trò của cây xanh trong kinh tế - xã hội:
Nguồn cung cấp gỗ có giá trị kinh tế cao sau chu kì nuôi dưỡng của một số
chủng loại cây xanh đô thị. Cây xanh đô thị là nơi cung cấp một số hạt giống của
21
một số loài cây khá quí hiếm của hệ thực vật bản địa cũng như nhập nội, là nơi vui
chơi giải trí, đi dạo, ngắm thiên nhiên, hít thở không khí trong lành. Cây xanh được
sử dụng như một chỉ dẫn của biến cố lịch sử nơi tương niệm qua việc đặt tên cây
xanh cho một số địa danh.
2.3. Một số nguyên tắc trồng cây xanh đường phố.
Trên cơ sở các nguyên lý chung về thiết kế trồng cây đường phố, việc chọn
loài giống cây cần xem xét đến yếu tố sinh lý, sinh thái cây trồng. Theo thông tư 20
của Bộ xây dựng ngày 20/12/2005, một số tiêu chuẩn trồng cây trồng đường phố
như sau:
1. Các yêu cầu chung
a) Trồng cây xanh đúng chủng loại quy định, đúng quy trình kỹ thuật trồng
và chăm sóc. Cây mới trồng phải được bảo vệ, chống giữ thân cây chắc chắn, ngay
rộng hè phố dưới 5m.
e) Khoảng cách các cây được trồng tính từ mép lề đường từ 0,6m đến 1,0m
căn cứ theo tiêu chuẩn phân loại cây (tham khảo Phụ lục 1);
f) Cây xanh đường phố và các dải cây phải hình thành một hệ thống cây xanh
liên tục và hoàn chỉnh, không trồng quá nhiều loại cây trên một tuyến phố. Trồng từ
một đến hai loại cây xanh đối với các tuyến đường, phố có chiều dài dưới 2km.
Trồng từ một đến ba loại cây đối với các tuyến đường, phố có chiều dài từ 2km trở
lên hoặc theo từng cung, đoạn đường.
g) Đối với các dải phân cách có bề rộng dưới 2m chỉ trồng cỏ, các loại cây
bụi thấp, cây cảnh. Các dải phân cách có bề rộng từ 2m trở lên có thể trồng các loại
cây thân thẳng có chiều cao và bề rộng tán lá không gây ảnh hưởng đến an toàn giao
thông, trồng cách điểm đầu giải phân cách, đoạn qua lại giữa hai giải phân cách
khoảng 3m - 5m để đảm bảo an toàn giao thông.
h) Tại các trụ cầu, cầu vượt, bờ tường nghiên cứu thiết kế bố trí trồng dây leo
để tạo thêm nhiều mảng xanh cho đô thị, có khung với chất liệu phù hợp cho dây
leo để bảo vệ công trình. Tại các nút giao thông quan trọng ngoài việc phải tuân thủ
các quy định về bảo vệ an toàn giao thông tổ chức trồng cỏ, cây bụi, hoa tạo thành
mảng xanh tăng vẻ mỹ quan đô thị.
23
i) Cây xanh được trồng cách các góc phố 5m - 8m tính từ điểm lề đường giao
nhau gần nhất, không gây ảnh hưởng đến tầm nhìn giao thông.
k) Cây xanh được trồng cách các họng cứu hoả trên đường 2m - 3m; cách cột
đèn chiếu sáng và miệng hố ga 1m - 2m.
l) Cây xanh được trồng cách mạng lưới đường dây, đường ống kỹ thuật (cấp
nước, thoát nước, cáp ngầm) từ 1m - 2m.
m) Cây xanh được trồng dọc mạng lưới đường dây dẫn điện phải đảm bảo hành
lang an toàn lưới điện theo quy định của Nghị định số 106/2005/NĐ-CP ngày
- Có bố cục phù hợp với quy hoạch được duyệt.
b) Về phối kết nên:
- Nhiều loại cây, loại hoa.
- Cây có lá, hoa màu sắc phong phú theo 4 mùa.
- Nhiều tầng cao thấp, cây thân gỗ, cây bụi và cỏ, mặt nước, tượng hay phù
điêu và công trình kiến trúc.
- Sử dụng các quy luật trong nghệ thuật phối kết cây với cây, cây với mặt
nước, cây với công trình và xung quanh hợp lý, tạo nên sự hài hoà, lại vừa có tính
tương phản vừa có tính tương tự, đảm bảo tính hệ thống tự nhiên.
2.5 Giới thiệu sơ nét về thành phố Vũng Tàu
2.5.1 Điều kiện tự nhiên:
2.5.1.1 Vị trí địa lý.
Thành phố Vũng Tàu là đô thị loại II thuộc tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. Thành phố có
tổng diện tích tự nhiên là 14.964,53 ha chiếm 7,31% diện tích tự nhiên toàn tỉnh,
cách thành phố Hồ Chí Minh hơn 120 km về phía Đông, có 16 phường và 1 xã trực
thuộc
Thành phố Vũng Tàu có 3 mặt tiếp giáp với biển với tồng chiều dài bờ biển là
48,1km: phí Đông, Nam giáp biể Đông; phía Tây giáp vịnh Gành Rái; phía Bắc giáp
thị xã Bà Rịa qua song Cỏ May, một phần huyện Long Thành, huyện Long Điền.
2.5.1.2 Địa hình
Thành phố Vũng Tàu có địa hình khá đa dạng được chia thành các dạng đặc trưng
sau:
Địa hình núi cao: bao gồm khu bán đảo Vũng Tàu và đảo Long Sơn
Dãy cồn cát tự nhiên: nằm dọc theo bán đảo.
25
Đất đầm lầy, trũng: khu Bàu Sen, Cửa lấp. Bến Đình.
Đối với cơ cấu kinh tế do thành phố quản lý, ngành du lịch luôn chiếm tỷ trọng cao,
sau đó đến ngành khai thác và chế biến thủy hải sản và cuối cùng là công nghiệp –
tiểu thủ công nghiệp.
2.5.4 Điều kiện xã hội.
2.5.4.1 Dân số:
Dân số toàn thành phố hiện có 265400 người (năm 2008), trong đó nam chiếm
49,17%, nữ chiếm 50,83% và thành thị chiếm 94,82%, nông thôn chiếm 5,18%, mật
độ dân số trung bình 1.774 người/km2
2.5.4.2 Dân tộc – Tôn giáo.
Về dân tộc, hầu hết dân số thành phố Vũng TÀu đều là người Kinh (chiếm tỷ lệ
98,3%). Phần lớn người dân không có tôn giáo .
27
Chương 3
MỤC TIÊU, NỘI DUNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Mục tiêu
Khảo sát, đánh giá hiện trạng cây xanh đường phố Vũng Tàu nhằm nâng cao
hiệu quả quản lý và sử dụng hệ thống cây xanh đường phố, đồng thời khuyến khích
mọi thành phần xã hội tham gia bảo vệ, phát triển cây xanh đô thị trên địa bàn thành
phố phù hợp với định hướng phát triển và quy hoạch thành phố Vũng Tàu.
Tăng tỷ lệ, diện tích cây xanh trên phố và đặc biệt là ở một số tuyến đường
mới quy hoạch, tạo nên nét riêng cho thành phố Vũng Tàu.
Tạo cơ sở cho việc bảo dưỡng, quản lý, khai thác sử dụng trong tương lai.
3.2 Nội dung đề tài:
Tham khảo, thu thập tư liệu về quy hoạch và các định hướng phát triển đô thị
+ Tra danh mục, định danh và phân loại cây theo họ thực vật.
+ Đối chiếu và kiểm tra các đoạn đường phố. Nếu thiếu sẽ tiến hành kiểm
kê bổ sung.
3.4.3. Đánh giá hiện trạng cây xanh các tuyến đường đã khảo sát.
Dựa vào kết quả khảo sát thực địa, hiện trạng cây xanh trên các tuyến đường, hiện
trạng vỉa hè lòng đường của các tuyến đường khảo sát, căn cứ các quy định, quy
cách trồng cây, tiêu chuẩn cây trồng theo thông tư 20 của Bộ xây dựng ngày
20/12/2005 và tiêu chuẩn xây dựng Việt Nam 362:2005 “Quy hoạch cây xanh sử
dụng công cộng trong các đô thị - Tiêu chuẩn thiết kế” ngày 05/01/2006. Từ đó đưa
ra những nhận định, và đánh giá hiện trạng cây xanh trên các tuyến đường khảo sát.
3.4.4. Đề xuất thiết kế cây xanh đường phố cho các tuyến đường khảo sát:
Dựa vào các tiêu chuẩn đề ra đối với cây xanh đường phố của Công ty Công
viên Cây xanh: về chủng loại, kích cỡ, cảnh quan, an toàn,… đưa ra các đề xuất
thiết kế cây xanh đường phố cho các tuyến đường đã được quy hoạch lộ giới.
29
Chương 4
KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
4.1. Tổng quát về hiện trạng mảng xanh thành phố Vũng Tàu.
a. Mảng xanh công viên:
Là toàn bộ cây xanh được trồng trong công viên. Đây là công viên mở gồm có hoa
kiểng và thảm cỏ. Có 11 công viên với diện tích trồng cây là 14,33 ha chiếm 0,42%
diện tích mảng xanh thành phố.
b. Mảng xanh khuôn viên
Loại mảng xanh này có 12,6 ha gồm toàn bộ diện tích cây xanh được tạo nên bởi
cây thân gỗ, thảm cỏ, hoa kiểng trồng tập trung và phân tán trong các công sở, khu
văn hóa, đình chùa...
Mảng xanh khuôn viên
12,60
0,37
30
3
Cây xanh đường phố
22,56
0,67
4
Rừng tập trung
1908,42
56,33
5
Cây công nghiệp, cây ăn trái lâu năm
1430
4.2.1 Hiện trạng cây xanh đường phố của thành phố thành phố Vũng Tàu:
Qua điều tra thực tế và tài liệu thống kê cho thấy thành phố Vũng Tàu hiện
có 110 con đường, nhưng có đến 40 con đường chưa có cây xanh hoặc cây xanh do
người dân trồng trước nhà. Hiện trạng thành phố Vũng Tàu có 16322 cây, trong đó
có 11206 cây loại 1 có độ cao dưới 6m, cây loại 2 có độ cao từ 6m đến 12m là 4722
cây, cây loại 3 có độ cao hơn 12m là 394 cây
Tổng diện tích cây xanh đường phố là 22,56 ha, bình quân tính trên đầu người là
0,89m2/người, bình quân theo km đường là 0,19ha/1 km đường bộ. Cây xanh
đường phố phân bố không đồng đều, đa số tập trung tại các tuyến đường nội thành.
Riêng khu vực ngoại thành chỉ có 1 số khu dân cư và khu vực đã được triễn khai
quy hoạch chi tiết thì mảng cây xanh đường phố được bố trí đúng quy hoạch . Riêng
phướng 12 và Long Sơn, cây xanh đường phố chỉ được trồng theo các tuyến đường
chính.
31
Về chủng loại cây trồng trên đường phố Vũng Tàu rất đa dạng. Tổng cộng có 68
lòai thuộc 31 họ: Abietaceae, Anacardiaceae, Annonaceae, Apocynaceae,
Aracaceae,
bignoniaceae,
Bombacaceae,
Caesalpiniaceae,
Casuarina,
Combretaceae, Cupressaceae, Dipterocarpaceae, Elaeocarpaceae, Euphorbiaceae,
như bàng, sao đen được trồng một cách có quy họach đều đặn đồng nhất, có bồn
cỏ nhưng vẫn chưa hoàn chỉnh, ở đọan cuối đường vẫn chưa được quy họach
trồng cây mà chủ yếu do người dân trồng cây lấy bóng mát nên không có sự
đồng đều, đúng tiêu chuẩn, kĩ thuật.
Đường Hoàng Hoa Thám: Là tuyến đường chính thông ra Bãi Sau, chính vì
vậy đã được thực hiện quy hoạch đường phố và vỉa hè. Vỉa hè rộng từ 5 – 7m,
32
với các lọai cây: tùng, lim xẹt dọc theo 2 bên vỉa hè khoảng cách phù hợp, đều
nhau, có bồn cỏ, khoảng cách trung bình 6 – 8m, cây phát triển xanh tốt.
Đường Hạ Long: Với vỉa hè 2 bên rộng 5m, cây xanh đường phố chủ yếu là cây
dương được trồng trên vỉa hè, khoảng cách đều nhau là 6m, được trồng sole để
có tác dụng chắn gió biển. Đọan giữa của tuyến đường chưa có cây xanh. Hầu
hết các cây có tán lá không đều nghiêng hẳn về một bên do tác dụng của gió
biển.
Đường Đinh Tiên Hòang: Cây xanh đường phố đa dạng: bằng lăng, viết…với
khoảng cách trung bình 5m. Vỉa hè rộng 3m, chiều cao cây dưới 3m, đường kính
tán 2m, chưa có bồn cỏ. Phần cuối đường do vỉa hè hẹp hơn ( dưới 2m) hiện
chưa có cây xanh.
Đường Phan Chu Trinh: Với đa số là bằng lăng tím mang lại cảnh quan đẹp,
có kích thước phù hợp với vỉa hè rộng 3m, khỏang cách cây là 6m. Cây xanh
được trồng theo tuyến nhưng chỉ được trồng ở 1 bên vỉa hè.
Đường Võ Thị Sáu: Vỉa hè rộng 6m có bồn cỏ, hiện đã được trồng mới dầu rái
trên cả tuyến đường.
Đường Xô Viết Nghệ Tĩnh: Chủ yếu là cây bàng với mật độ thưa thớt, nằm sát
với công trình, nhà ở, chưa có quy hoạch trồng cây theo tiêu chuẩn, kỹ thuật.
Đường Trương Công Định: Đa dạng với chủng lọai xà cừ, bàng, viết được
trồng trên thảm cỏ với khoảng cách không đều, nằm sát công trình xây dựng.