VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
BỘ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
VIỆN CHIẾN LƯỢC VÀ CHÍNH SÁCH
KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
PHẠM THỊ HUẾ
GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH BẢO HỘ QUYỀN
SỞ HỮU TRÍ TUỆ ĐỐI VỚI TRI THỨC TRUYỀN THỐNG
TẠI VIỆT NAM
Ngành: Quản lý Khoa học và Công nghệ
Mã số: 8.34.04.12
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS. VŨ THỊ HẢI YẾN
HÀ NỘI, 2018
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đề tài luận văn “Giải pháp hoàn thiện chính sách
bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ đối với tri thức truyền thống tại Việt Nam” này
là công trình nghiên cứu thực sự của cá nhân tôi cùng với sự hướng dẫn tận
tình của giáo viên hướng dẫn khoa học PGS.TS. Vũ Thị Hải Yến. Các tư liệu
sử dụng trong luận văn đều được trích dẫn nguồn gốc rõ ràng, không sao
chép của người khác.
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
WIPO
Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới
WTO
Tổ chức Thương mại thế giới
WHO
Tổ chức Y tế thế giới
UNESCO
Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên hiệp quốc
CBD
Công ước về Đa dạng sinh học
Công ước PARIS
Công ước Paris năm 1883 về Bảo hộ quyền sở hữu công
nghiệp, sửa đổi lần cuối tại Stockholm, năm 1967
TRIPS
Hiệp định về Các khía cạnh liên quan đến thương mại của
tượng sở hữu trí tuệ………………………………………………………..
18
Bảng 2.1. Bảo hộ tri thức truyền thống ở một số nước, khu vực trên thế
giới…………………………………………………………………………
37
Bảng 2.2. So sánh thực tiễn bảo hộ của Hoa Kỳ (đại diện cho các quốc gia
phát triển) và Ấn Độ (đại diện cho các quốc gia đang phát triển) trong quy
định đối với sáng chế………………………………………………………
Bảng 2.3. Nhãn hiệu “Dao`Spa” được bảo hộ…………………………….
41
55
Bảng 2.4. Nhãn hiệu “Phong tê thấp Bà Giằng và hình” được bảo hộ……
56
Bảng 2.5. Danh sách các nhãn hiệu “AMA KÔNG” được bảo hộ………..
56
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Chính sách quản lý khoa học và công nghệ của nước ta hiện nay đã có rất
nhiều quy định nhằm định hướng và điều chỉnh cho hầu hết các lĩnh vực liên
Có thể nói lĩnh vực tri thức truyền thống đã nhận được sự quan tâm của
nhiều nhà nghiên cứu. Tại Việt Nam đã có một số công trình nghiên cứu về lĩnh
vực này như:
- “Tri thức cổ truyền của đồng bào các dân tộc” của TS. Nguyễn Văn
Trọng đăng trên Tạp chí Dân tộc và Thời đại, số 22, 2000;
- “Bảo vệ tài nguyên di truyền cây thuốc Việt Nam”, công trình nghiên cứu
của Viện dược liệu năm 2000;
- “Bảo hộ tri thức truyền thống” của TS. Phạm Phi Anh đăng trên Tạp chí
Hoạt động Khoa học số 9, 2005;
- “Bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ đối với tri thức truyền thống” của tác giả
Nguyễn Thị Phương Mai, Viện chiến lược và chính sách khoa học công nghệ,
2005;
- “Dự án bước đầu tổng kết các phương pháp phát triển và tìm kiếm các cơ
chế nhằm nâng cao tiếng nói của cộng đồng dân tộc thiểu số trong quá trình ra
quyết định” của TS. Mai Thanh Sơn cùng Nhóm công tác dân tộc thiểu số
(EMWG), 2007;
- “Bảo hộ tri thức truyền thống tại Việt Nam, vấn đề pháp lý và thực tiễn”
của TS. Phạm Hồng Quất, 5/2008;
- “Bảo hộ tri thức truyền thống cộng đồng bản địa” của tác giả Thanh
Hương, Trung tâm Con người và Thiên nhiên, 2009;
- “Khai thác thương mại đối với Tri thức truyền thống - tiếp cận từ quyền
sở hữu trí tuệ” của TS. Trần Văn Hải đăng trên Tạp chí Hoạt động khoa học số
tháng 3.2012;
- “Xây dựng và khai thác cơ sở dữ liệu về y dược học cổ truyền để đảm bảo
quyền đối với tri thức truyền thống tại Việt Nam” của tác giả Lưu Thị Thanh
Nga, 2015.
2
Các nghiên cứu trên đây đã trình bày được nhiều khía cạnh khác nhau trong
- Khuyến nghị về bảo hộ tri thức truyền thống ở Việt Nam.
Tri thức truyền thống là một khái niệm rộng, bao trùm nhiều loại hình và ở
nhiều lĩnh vực khác nhau, trong khuôn khổ đề tài này, tác giả sẽ trọng tâm tìm
hiểu các vấn đề thuộc về tri thức truyền thống có liên quan nhiều nhất đến chính
sách quản lý khoa học và công nghệ nói chung và bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ
nói riêng. Cụ thể đó là các vấn đề thuộc tri thức truyền thống có liên quan đến
Quyền tác giả, Sáng chế và Nhãn hiệu.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Đề tài được thực hiện bằng các phương pháp nghiên cứu chính sau đây:
- Phương pháp thu thập dữ liệu.
Dữ liệu ở đây là các dữ liệu tại các tài liệu trong nước và nước ngoài được
viết bằng tiếng Anh. Đối với các tài liệu trong nước là các công trình nghiên cứu
thì tác giả đã mượn và đọc được nội dung, là các bài viết thì tác giả đọc được trên
các trang tin điện tử. Đối với tài liệu nước ngoài thì đa phần được tác giả tìm
kiếm trên công cụ tìm kiếm Google thông qua việc gõ các từ khóa “traditional
knowledge”, “protection of rights of holders of traditional knowledge”,
“Intellectual Property Protection of Traditional Knowledge”, “Intellectual
Property and Genetic Resources”, đồng thời gõ thêm cụm từ “pdf” để ra được kết
quả là các bản báo cáo, bài viết được định dạng ở file pdf - là nguồn tư liệu gốc
và chưa bị chỉnh sửa. Các bài viết được đăng tải bởi WIPO là các bài viết được
tác giả ưu tiên đọc dịch bởi độ tin cậy.
Việc lấy ý kiến chuyên gia thì đã được tác giả thực hiện bằng cuộc phỏng
vấn sâu đối với một chuyên gia đã có kinh nghiệm trong việc nghiên cứu về tri
thức truyền thống và tư liệu hóa các bài thuốc truyền thống, đó là TS. Phạm
Hồng Quất - nguyên là cán bộ công tác tại Cục Sở hữu trí tuệ Việt Nam, hiện là
Cục trưởng Cục phát triển thị trường Việt Nam. Ông từng là tác giả của đề tài
“Bảo hộ tri thức truyền thống tại Việt Nam, vấn đề pháp lý và thực tiễn” vào
năm 2008 và là người tham gia vào nhóm Dự án xây dựng cơ sở dữ liệu về cây
thuốc dân tộc do Cục Sở hữu trí tuệ xây dựng với sự trợ giúp của chương trình
5
Chương 1
BẢO HỘ QUY N SỞ HỮU TRÍ TUỆ Đ I VỚI TRI TH C TRUY N TH NG
1.1. Tổng quan về tri thức truyền thống
1.1.1. Khái niệm, vai trò và đặc trưng của tri thức truyền thống
1.1.1.1. Khái niệm tri thức truyền thống
Một cách khái quát, tri thức truyền thống (Traditional Knowledge) là toàn
bộ hệ thống kiến thức mà người dân ở một cộng đồng tích luỹ và phát triển dựa
trên kinh nghiệm, được kiểm nghiệm qua thực tiễn và thường xuyên thay đổi để
thích nghi với các đặc điểm văn hoá và môi trường. Tri thức truyền thống là tri
thức của bất kỳ nhóm cộng đồng nào ở nông thôn, thành thị, của người định cư
hay người du cư, của người bản địa hay người nhập cư, và có thể là tri thức của
một bộ tộc người thiểu số. Trong nhiều tài liệu, tri thức truyền thống còn được
gọi bằng những tên khác mang bản chất tương tự, như tri thức cổ truyền, kiến
thức bản địa, kiến thức kỹ thuật bản địa...
Trên thế giới, một số nước cũng có các quy định riêng về định nghĩa tri thức
truyền thống [25, tr. 19]. Ví dụ như:
- Điều 7(II) Đạo luật số 2.186-16 ngày 23.08.2001 của Brazil định nghĩa “tri
thức truyền thống kết hợp (Associated Traditional Knowledge) là những thông
tin hoặc kinh nghiệm thực tiễn của cá nhân hoặc tập thể thuộc một cộng đồng bản
địa hoặc địa phương, có giá trị thực tiễn hoặc tiềm tàng và gắn liền với tài sản
nguồn gen”.
- Luật số 20 của Panama quy định “tri thức truyền thống bao gồm các sáng
chế, mẫu hữu ích, các bản vẽ và các kiểu dáng, các sáng tạo trong các bức đồ
hoạ, số liệu, biểu tượng, tranh ảnh minh hoạ, đá cổ được trạm khắc, và các sản
phẩm khác; các yếu tố văn hoá liên quan tới lịch sử, âm nhạc, nghệ thuật và các
hình thức thể hiện truyền thống”.
được ban hành, nhưng các văn bản pháp luật quốc tế về các lĩnh vực khác lại sử
dụng ngày càng nhiều những thuật ngữ như “tri thức truyền thống, sáng tạo và
7
Luận văn đủ ở file: Luận văn full