ỦY BAN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH XUYÊN
PHÒNG GIÁO DỤC ĐÀO TẠO BÌNH XUYÊN
=====***=====
BÁO CÁO KẾT QUẢ
NGHIÊN CỨU, ỨNG DỤNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
Tên sáng kiến: Cách khai thác mới trong kỹ thuật sử dụng
bản đồ tư duy nhằm phát huy hứng thú học tập môn Ngữ văn
của học sinh trung học cơ sở.
Tác giả sáng kiến: Trần Quang Thành
Môn: Ngữ văn
Trường: Trung học cơ sở Sơn Lôi
Vĩnh Phúc, năm 2018
1
BÁO CÁO KẾT QUẢ
NGHIÊN CỨU, ỨNG DỤNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
Tên sáng kiến: Cách khai thác mới trong kỹ thuật sử dụng bản
đồ tư duy nhằm phát huy hứng thú học tập môn Ngữ văn của
học sinh trung học cơ sở.
Vĩnh Phúc, năm 2018
2
BÁO CÁO KẾT QUẢ
NGHIÊN CỨU, ỨNG DỤNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
mạnh dạn đề xuất đưa ra một số cách khai thác hiệu quả hơn với kỹ thuật sử
dụng bản đồ tư duy trong dạy học Ngữ văn với đề tài: Cách khai thác mới
trong kỹ thuật sử dụng bản đồ tư duy nhằm phát huy hứng thú học tập
môn Ngữ văn của học sinh trung học cơ sở.
Với đề tài này, tôi hi vọng sẽ góp một kinh nghiệm nhỏ với đồng
nghiệp trong quá trình thực hiện có hiệu quả kỹ thuật dạy học tích cực bằng
3
bản đồ tư duy trong dạy học. Đồng thời đem đến những say mê, hứng thú
cho học sinh khi học khám phá vẻ đẹp của Văn học nghệ thuật.
2. Tên sáng kiến: Cách khai thác mới trong kỹ thuật sử dụng bản đồ tư duy
nhằm phát huy hứng thú học tập môn Ngữ văn của học sinh trung học cơ sở.
3. Lĩnh vực áp dụng sáng kiến:
- Môn Ngữ Văn.
- Việc thực hiện có hiệu quả tiết học trong chương trình Ngữ văn
Trung học cơ sở bằng kỹ thuật Bản đồ tư duy.
4. Ngày sáng kiến được áp dụng lần đầu hoặc áp dụng thử:
18/9/2017
5. Mô tả bản chất của sáng kiến:
5.1. Về nội dung của sáng kiến:
5.1.1. Những vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan trực tiếp đến vấn đề
nghiên cứu:
a. Cơ sở lí luận:
Ngữ văn là một môn học thuộc nhóm khoa học xã hội. Đây là môn học
có vai trò rất quan trọng trong đời sống và trong sự phát triển tư duy của
con người. Đồng thời môn học này còn có tầm quan trọng trong việc giáo
dục quan điểm, tư tưởng, tình cảm cho học sinh. Mặt khác nó cũng là môn
học thuộc nhóm công cụ, môn Ngữ văn còn thể hiện rõ mối quan hệ với rất
nhiều các môn học khác trong các nhà trường phổ thông. Học tốt môn Ngữ
tảng, có thể miêu tả nó là một kĩ thuật hình họa với sự kết hợp giữa từ ngữ,
hình ảnh, đường nét, màu sắc phù hợp với cấu trúc, hoạt động và chức năng
của bộ não, giúp con người khai thác tiềm năng vô tận của bộ não.
Bản đồ tư duy giúp học sinh có được phương pháp học hiệu quả hơn:
Việc rèn luyện phương pháp học tập cho học sinh không chỉ là một biện
pháp nâng cao hiệu quả dạy học mà còn là mục tiêu dạy học. Thực tế cho
thấy, một số học sinh học rất chăm chỉ nhưng vẫn học kém, các em
thường học bài nào biết bài đấy, học phần sau đã quên phần trước và không
biết liên kết các kiến thức với nhau, không biết vận dụng kiến thức đã học
trước đó vào những phần sau. Phần lớn số học sinh khi đọc sách hoặc nghe
giảng trên lớp không biết cách tự ghi chép để lưu thông tin, lưu kiến thức
trọng tâm vào trí nhớ của mình. Sử dụng thành thạo Bản đồ tư duy trong
dạy học sẽ giúp học sinh có được phương pháp học, tăng tính độc lập, chủ
động, sáng tạo và phát triển tư duy.
Bản đồ tư duy giúp học sinh học tập một cách tích cực. Một số kết quả
nghiên cứu cho thấy bộ não của con người sẽ hiểu sâu, nhớ lâu và in đậm
cái mà do chính mình tự suy nghĩ, tự viết, vẽ ra theo ngôn ngữ của mình vì
vậy việc sử dụng Bản đồ tư duy giúp học sinh học tập một cách tích cực,
huy động tối đa tiềm năng của bộ não.
5
5.1.2. Thực trạng của việc học Ngữ văn hiện nay:
Nhà Cách mạng, lãnh tụ thiên tài, nhà văn hoá lớn của nhân loại Lê-nin
từng nói: "Văn học là nhân học" vậy mà một thực trạng đáng lo ngại là học
sinh bây giờ không còn thích học Ngữ văn. Thực trạng này lâu nay đã được
báo động. Ban đầu chỉ đơn thuần là những lời than thở với nhau của những
người trực tiếp giảng dạy môn Ngữ văn và nay đã trở thành vấn đề của báo
chí và dư luận. Ai đã trực tiếp dạy và chấm bài làm văn của học sinh trong
6
- Việc ứng dụng bản đồ tư duy trong dạy học, nhất là môn văn còn
chưa thường xuyên, thiếu hiệu quả do giáo viên chưa nhận ra được vai trò
hiệu quả của kỹ thuật này trong nhiều hoạt động sư phạm.
5.1.3. Nguyên nhân:
a. Đối với người dạy:
Bước chân vào nghề dạy học, đa số giáo viên đều có tình yêu nghề,
mến trẻ, tận tụy với công tác giảng dạy, chăm lo quan tâm đến học sinh.
Tuy nhiên, vẫn còn những mặt hạn chế sau :
- Phương pháp giảng dạy chưa thực sự phù hợp với một bộ phận
không nhỏ học sinh yếu kém dẫn đến chất lượng chưa cao .
- Do điều kiện khách quan nên việc sử dụng đồ dùng dạy học, phương
pháp trực quan vào tiết học hạn chế, ảnh hưởng đến chất lượng tiếp thu bài
của học sinh .
- Một số giáo viên chưa thực sự tâm huyết với nghề, chưa khơi gợi
được mạch nguồn cảm xúc ẩn sau mỗi trái tim người học.
- Đời sống của không ít giáo viên Ngữ văn gặp nhiều khó khăn. Các
thầy cô vừa lo dạy học lại vừa phải bươn trải với cuộc sống.
Những nguyên nhân chủ quan và khách quan khiến nhiều giáo viên
ngại đổi mới, ngại thay đổi phương pháp dạy học, ảnh hưởng không nhỏ
đến chất lượng dạy học.
b. Đối với học sinh:
Trong phương pháp dạy học hiện đại, học sinh vừa là đối tượng, vừa
là chủ thể tích cực của hoạt động học. Nhưng hiện nay, việc học của các em
gặp nhiều khó khăn:
- Một số học sinh vì lười học, chán học mải chơi, hổng kiến thức nên
không chuẩn bị tốt tâm thế cho giờ học Ngữ văn.
- Các trường THCS trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc nói chung đang bước
quả, mở rộng, đào sâu và kết nối các ý tưởng, bao quát được các ý tưởng
trên phạm vi sâu rộng.
- Dạy học bằng Bản đồ tư duy là một giải pháp góp phần đổi mới cơ
bản giáo dục.
Hiệu quả của kỹ thuật sử dụng Bản đồ tư duy đem lại những hiệu quả
thiết thực:
a.1. Bản đồ tư duy tận dụng được các nguyên tắc của trí nhớ siêu đẳng:
* Sự hình dung:
Bản đồ tư duy có rất nhiều hình ảnh để bạn hình dung về kiến thức
cần nhớ. Đây là một trong những nguyên tắc quan trọng nhất của trí nhớ
siêu đẳng. Đối với não bộ, Bản đồ tư duy giống như một bức tranh lớn đầy
hình ảnh màu sắc phong phú hơn là một bài học khô khan, nhàm chán.
8
* Sự liên tưởng, tưởng tượng:
Bản đồ tư duy hiển thị sự liên kết giữa các ý tưởng một cách rất rõ
ràng.
* Làm nổi bật sự việc:
Thay cho những từ ngữ tẻ nhạt đơn điệu, Bản đồ tư duy cho phép
giáo viên và học sinh làm nổi bật các ý tưởng trọng tâm bằng việc sử dụng
những màu sắc, kích cỡ, hình ảnh đa dạng. Hơn nữa, việc Bản đồ tư duy
dùng rất nhiều màu sắc khiến giáo viên và học sinh phải vận dụng trí tưởng
tượng sáng tạo đầy phong phú của mình. Nhưng đây không chỉ là một bức
tranh đầy màu sắc sặc sỡ thông thường, Bản đồ tư duy giúp tạo ra một bức
tranh mang tính lý luận, liên kết chặt chẽ về những gì được học.
a.2. Bản đồ tư duy sử dụng cả hai bán cầu não cùng một lúc:
Bản đồ tư duy thật sự giúp bạn tận dụng các chức năng của não trái
lẫn não phải khi học. Đây chính là công cụ học tập vận dụng được sức
Bản đồ tư duy văn bản: Thầy bói xem voi - Ngữ văn 6
- Ví dụ 2: Hay khi dạy phân môn Tiếng Việt, khi học bài “ So sánh”
(Môn Ngữ văn lớp 6), đầu giờ giáo viên cho từ khoá “So sánh” rồi yêu cầu
học sinh vẽ Bản đồ tư duy bằng cách đặt câu hỏi gợi ý cho các em để các
em có thể vẽ tiếp các nhánh con và bổ sung dần các ý nhỏ (nhánh con cấp 2,
cấp 3…), sau khi các nhóm học sinh vẽ xong, cho một số em lên trình bày
trước lớp để các học sinh khác bổ sung ý. Giáo viên kết luận qua đó giúp
các em tự chiếm lĩnh kiến thức một cách nhẹ nhàng, tự nhiên nhưng rất hiệu
quả, đồng thời kích thích hứng thú học tập của học sinh.
10
Sơ đồ minh hoạ
Bản đồ tư duy bài “So sánh” - Ngữ Văn 6
* Dùng Bản đồ tư duy để củng cố kiến thức sau mỗi tiết học:
Sau mỗi bài học, giáo viên hướng dẫn, gợi ý để học sinh tự hệ thống
kiến thức trọng tâm, kiến thức cần nhớ của bài học bằng cách vẽ Bản đồ tư
duy. Mỗi bài học được vẽ kiến thức trên một trang giấy rời rồi kẹp lại thành
tập. Việc làm này sẽ giúp các em dễ ôn tập, xem lại kiến thức khi cần một
cách nhanh chóng, dễ dàng.
- Ví dụ 1: Khi dạy phần từ loại tiếng Việt, giáo viên tổ chức cho học
sinh vẽ Bản đồ tư duy sau mỗi bài học để mỗi em có một tập Bản đồ tư duy
về các từ loại tiếng Việt: danh từ, động từ, tính từ, số từ, đại từ, quan hẹ tự,
trợ từ, thán từ…. Lên đến lớp 9, trong bài “Tổng Kết ngữ pháp”, học sinh
có thể dễ dàng tổng hợp kiến thức về từ loại tiếng Việt bằng Bản đồ tư duy
dựa vào tập Bản đồ tư duy đã có. Sau khi có một học sinh hoặc một nhóm
học sinh vẽ xong Bản đồ tư duy sẽ cho một học sinh khác, nhóm khác nhận
xét, bổ sung … Có thể cho học sinh vẽ thêm các đường, nhánh khác và ghi
Đây là cách khai thác mới trong kỹ thuật dạy học tích cực bằng Bản
đồ tư duy mà tôi mới thử nghiệm.
Chúng ta phải thừa nhận rằng để tạo lập một bài văn hoàn chỉnh,
người viết cần được rèn luyện nhiều kiểu kĩ năng khác nhau. Trong đó, lập
ý được xem là một trong những khâu then chốt và có quan hệ chặt chẽ với
việc phát triển năng lực tư duy của học sinh.
Với ý nghĩa như vậy, cần thiết phải xác lập được hệ thống những
phương pháp dạy học lập ý hiệu quả. Sử dụng bản đồ tư duy là giải pháp có
thể đáp ứng yêu cầu này.
13
Một mặt, nó giúp rèn luyện cho học sinh kĩ năng làm văn cơ bản. Mặt
khác, tạo điều kiện để học sinh được hoàn thiện các kĩ năng tư duy logic
như phân tích – tổng hợp, so sánh đối chiếu, hệ thống hóa, khái quát hóa…
Văn bản là đơn vị giao tiếp đích thực của con người bởi tính trọn vẹn
về nội dung và hoàn chỉnh về hình thức. Tạo lập được một văn bản theo
nghĩa như vậy đòi hỏi người viết phải nắm vững, làm chủ cũng như huy
động được nhiều yếu tố khác nhau, từ vốn hiểu biết đến khả năng vận hành
ngôn ngữ.
Chương trình Ngữ văn hiện hành được xây dựng dựa trên hai trục
đồng quy là Đọc hiểu và Làm văn. Ở trục Làm văn, học sinh được tổ chức
chiếm lĩnh nhiều nội dung lí thuyết và rèn luyện kĩ năng khác nhau nhằm
xây dựng được đa dạng các loại văn bản.
Trong đó, kĩ năng lập ý đóng vai trò quyết định khi tiến hành xây
dựng các loại văn bản ấy. Vấn đề đặt ra là làm thế nào để hình thành và
hoàn thiện kĩ năng này cho học sinh, giúp các em phát triển năng lực tư duy
logic và hiện thực hóa hệ thống quan điểm của mình. Ứng dụng bản đồ tư
duy ở đây có thể xem là một giải pháp có thể mang đến hiệu quả mong đợi.
Tony Buzan – “Cha đẻ” của khái niệm “bản đồ tư duy” - khẳng định
Xây dựng bản đồ tư duy
1
Phân tích đề bài, tìm chủ đề cho Xác định từ khóa/ hình ảnh thể hiện
bài viết
ý tưởng trung tâm của bản đồ
2
Tìm ý, xác định các nội dung có Từ ý tưởng trung tâm, triển khai ý
liên quan đến chủ đề bài viết
tưởng này thành các nhánh. Mỗi
nhánh thể hiện một khía cạnh, vấn
đề cụ thể hóa cho trung tâm điểm.
3
Lựa chọn và sắp xếp ý tìm được Tổ chức lại bản đồ tư duy bằng cách
theo một trật tự logic nhất định lược bỏ bớt những yếu tố không cần
thiết, đánh dấu thứ tự các nhánh
theo logic nhất định
4
Lập dàn ý và hoàn thiện văn Hoàn thiện bản đồ tư duy
bản (Thực chất, đây là bước mở
đầu cho một kĩ năng khác
nhưng vẫn cần nêu ở đây để
bài áp dụng cho Đội tuyển liên môn Khoa học Xã hội năm 2017-2018) sau
đây: “Nhà thơ Tố Hữu viết: «Ôi, sống đẹp là thế nào hỡi bạn?» (Một khúc
ca xuân). Quan niệm của em về vấn đề trên”.
Bước 1. Phân tích đề bài
Dựa theo những kiến thức đã học về kiểu bài nghị luận, giáo viên yêu
cầu học sinh phân tích yêu cầu của đề bài trên hai tiêu chí: nội dung và hình
thức.
Trong đó, trả lời các câu hỏi cụ thể như đây là kiểu bài gì? Vấn đề cơ
bản của bài viết? Bài viết cần đáp ứng những yêu cầu gì về cách thức sử
dụng ngôn ngữ và tổ chức văn bản? có thể áp dụng những thao tác lập luận
nào để bài viết sinh động, thuyết phục?... Theo đó, bước Phân tích đề
bài giúp người viết có cái nhìn khái quát về các yêu cầu cần thực hiện.
Bước 2. Hướng dẫn tìm ý
Về bản chất, tìm ý gắn liền với việc người viết xác định những luận
đề, luận điểm cho bài viết của mình. Ở đây, mới dừng lại ở hoạt động “tìm”
chứ chưa đòi hỏi người viết phải sắp xếp thành trật tự.
Trong bước này, giáo viên có thể hướng dẫn học sinh tìm ý thông qua
các thao tác nhỏ cụ thể như sau:
16
Nêu vấn đề
Nội dung cần đạt
Chủ đề bài viết
Sống đẹp
là gì?
Những vấn đề
- Sống đẹp được biểu
Khuyến khích học sinh ghi ra tối
hiện cụ thể bằng
đa các từ khóa xuất hiện trong suy
những giá trị như thế
Gợi ý học sinh
nghĩ.
nào?
tự liệt kê trong
- Mỗi nhánh từ khóa có thể vẽ
- Có những điều gì
tư duy.
bằng một màu sắc khác nhau cho
cần tránh để trở thành
dễ nhận diện.
người sống đẹp?
- Có thể vẽ theo một chiều trái –
- Có ví dụ nào trong
phải hoặc phải – trái.
thực tiễn không?[...]
+ ý nghĩa câu thơ
- Tiếp tục coi mỗi từ khóa ở các
+ biểu hiện đẹp của
nhánh là điểm trung tâm bậc 2, vẽ
cuộc sống con người
tiếp các nhánh nhỏ hơn, trên mỗi
+ sống có lí tưởng, nhánh nhỏ hơn ghi các nội dung
hoài bão, biết hi sinh cụ thể, chi tiết.
[...]
Một mặt, nó bộc lộ cách nhận thức của chủ thể về vấn đề đang bàn;
mặc khác, nó lại có tác động không nhỏ tới tâm lí, tình cảm của người tiếp
nhận về sau.
Với việc triển khai nội dung cho một đề làm văn trong nhà trường
phổ thông, người viết không thể và cũng không cần thiết phải đưa vào tất cả
những hiểu biết của mình.
Mỗi đề bài thường có yêu cầu riêng đòi hỏi người viết phải huy động
lĩnh vực kiến thức nhất định và vận dụng tới những kĩ năng chuyên biệt.
Từ sơ đồ đã có sau bước hai, giáo viên hướng dẫn học sinh lựa chọn
các ý phù hợp cho bài viết của mình, đảm bảo lấy những ý quan trọng nhất,
làm bật được nội dung tư tưởng của bài cũng như phù hợp với dung lượng,
thời gian yêu cầu.
Đồng thời, tiến hành phân loại, sắp xếp các ý theo trình tự nhất định,
đảm bảo tính logic, phát triển. Để làm được việc đó, học sinh không cần
thiết vẽ lại sơ đồ theo trật tự mà có thể sử dụng con số, mũi tên, các kí hiệu
riêng... để đánh dấu thứ tự trước – sau.
Sơ đồ minh hoạ
18
Với bản đồ tư duy đã có này, có thể thấy sản phẩm của thao tác lập
ý không còn ở dạng tuyến tính theo kiểu truyền thống mà được “mã hóa lại”
dưới dạng hình ảnh. Mỗi học sinh khác nhau có thể tạo ra một kiểu hình ảnh
khác nhau.
Điều này xuất phát từ việc mỗi chủ thể độc lập có một kiểu loại tư
duy, khả năng khám phá, kĩ năng thể hiện và độ mở trong nhận thức hoàn
toàn riêng biệt.
Vì thế, so với cách làm trước đây, lập ý bằng bản đồ tư duy cho phép
giáo viên đánh giá chuẩn xác hơn năng lực học sinh. Từ đó, có biện pháp
- Việc học sinh tự vẽ Bản đồ tư duy có ưu điểm là phát huy tối đa tính
sáng tạo của học sinh, phát triển năng khiếu hội họa, sở thích của học sinh,
các em tự do chọn màu sắc (xanh, đỏ, vàng, tím,…), đường nét (đậm, nhạt,
thẳng, cong…), các em tự “sáng tác” nên trên mỗi Bản đồ tư duy thể hiện rõ
cách hiểu, cách trình bày kiến thức của từng học sinh và Bản đồ tư duy do
các em tự thiết kế nên các em yêu quí, trân trọng “tác phẩm” của mình.
5.2. Về khả năng áp dụng của sáng kiến:
Thực hiện sáng kiến này, đầu năm học 2017-2018, tôi đã điều tra thực
trạng về công tác dạy và học Ngữ văn tại lớp 8A, 8B, 8C và Đội tuyển học
sinh giỏi Liên môn Khoa học xã hội của nhà trường.
Đề xuất và hiện thực hóa các giải pháp về cách khai thác mới trong
kỹ thuật sử dụng bản đồ tư duy nhằm phát huy hứng thú học tập môn Ngữ
văn của học sinh trung học cơ sở, theo tôi lên kế hoạch:
+ Chuẩn bị các điều kiện cần thiết để sử dụng kỹ thuật Bản đồ tư duy:
máy chiếu, máy vi tính, giấy A0, bút dạ màu …
20
+ Biên soạn giáo án khoa học hợp lí, phù hợp với đối tượng, lên các
phương án cụ thể để áp dụng kỹ thuật sử dụng bản đồ tư duy: Dạy bài mới,
củng cố kiến thức, ôn tập kiến thức, hướng dẫn học sinh tìm hiểu đề, tìm ý,
lập dàn ý ….
+ Tạo tâm thế tốt cho học sinh tiếp nhận tiết học: Linh hoạt trong các
hoạt động lên lớp, tranh gò bó, công thức. Điều quan trọng là phải khiến các
em thấy được vai trò chủ thể tích cực của bản thân trong quá trình lĩnh hội
tri thức.
+ Phát huy các phương pháp dạy học, kỹ thuật dạy học tích cực: nêu
vấn đề, tích hợp liên môn, …; kỹ thuật khăn trải bàn, kỹ thuật phòng tranh
…
Thực hiện sáng kiến kinh nghiệm này, tôi nhận thấy chất lượng học,
- Về phía học sinh:
Với tư cách là chủ thể tích cực trong quá trình học, các em nhận thức
rõ các điều kiện sau:
+ Cần tăng cường ý thức học tập, quan tâm học tập toàn diện, tránh
học lệch.
+ Rèn kỹ năng sống tự lập, biết lập kế hoạch học tập phù hợp.
+ Học sinh được trang bị kiến thức Tin học cơ sở, kiến thức Mĩ thuật,
Hình học khá vững chắc.
8. Đánh giá lợi ích thu được:
8.1. Đánh giá lợi ích thu được hoặc dự kiến có thể thu được do áp
dụng sáng kiến theo ý kiến của tác giả:
Năm học 2017 – 2018, tôi được phân công giảng dạy môn Ngữ văn
tại lớp 8A, 8B, 8C. Qua điều tra thực tế và kiên trì thể nghiệm đề tài, tôi đã
thu được kết quả như sau:
Về phía giáo viên: Giáo viên có điều kiện trau dồi kiến thức chuyên
môn thêm vững vàng, vận dụng được nhiều phương pháp dạy học vào quá
trình giảng dạy.
Về phía học sinh: Học sinh nắm vững kiến thức, vận dụng được vào
trong các nhiệm vụ thực tế. Nhiều học sinh có hứng thú học tập, yêu quý,
tự hào về những sáng tạo của bản thân trong quá trình học tập. Các em
thực sự trưởng thành hơn trong việc học tập của mình.
Kết quả cụ thể:
Về giáo dục chất lượng đại trà:
Kết quả điều tra đầu năm 2017 – 2018
22
Lớp Tổng số
HS
0
0
11
29,6 24
64,7 3
5,7
0
0
8C
37
0
0
9
24,3 26
71
Kết quả khảo sát cuối tháng 12 năm 2017:
Lớp Tổng số
HS
Giỏi
SL
8A
40
2
5
15
37,5 21
52,5 2
5
0
0
8B
37
0
0
0
%
Khá
SL
%
TB
SL
Yếu
%
SL
Kém
%
%
SL
SL
%
SL
%
SL
%
SL
%
SL
%
9A
43
0
0
19
43
1
2,3
23
53,4 17
39,5 2
4,8
0
0
Kết quả khảo sát cuối tháng 12 năm 2017:
Lớp Tổng số
HS
Giỏi
SL
9A
43
7,0
0
0
6A
43
2
4,8
25
58,1 16
37,1 0
0
0
0
%
Khá
SL
Phạm vi/Lĩnh vực
áp dụng sáng kiến
24
1
Phan Thị Luyến
Trường THCS Sơn Lôi
Áp dụng vào giảng dạy
cho HS đại trà và HSG.
2
Nguyễn Trung
Kiên
Trường THCS Sơn Lôi
Áp dụng vào giảng dạy
cho HS đại trà.
3
Đội tuyển HSG
Liên môn KHXH
8