Nghiên cứu vai trò của các nhân tố địa phương trong mối quan hệ giữa FDI và tăng trưởng kinh tế ở các nước đang phát triển - Pdf 49

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH

LÊ THỊ HÀ ANH

NGHIÊN CỨU VAI TRÒ CỦA CÁC NHÂN TỐ
ĐỊA PHƯƠNG TRONG MỐI QUAN HỆ GIỮA
ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI (FDI) VÀ
TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ Ở CÁC NƯỚC ĐANG
PHÁT TRIỂN

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

Tp. Hồ Chí Minh, năm 2017


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH

LÊ THỊ HÀ ANH
NGHIÊN CỨU VAI TRÒ CỦA CÁC NHÂN TỐ ĐỊA
PHƯƠNG TRONG MỐI QUAN HỆ GIỮA ĐẦU TƯ
TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI (FDI) VÀ TĂNG TRƯỞNG
KINH TẾ Ở CÁC NƯỚC ĐANG PHÁT TRIỂN

Chuyên ngành: Tài Chính – Ngân hàng
Mã số: 60340201

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Nguyễn Khắc Quốc Bảo

Tóm tắt chương 1 ............................................................................................................10
CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN VỀ VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI
(FDI) VÀ MỐI QUAN HỆ GIỮA FDI VÀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ ...............11
2.1. Các khái niệm .....................................................................................................11
2.1.1 Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài - FDI: ......................................................11
2.1.2 Về tăng trưởng kinh tế: ...............................................................................12
2.1.3 Về thể chế....................................................................................................13
2.1.4 Về môi trường kinh tế vĩ mô .......................................................................14
2.2 Các lý thuyết về vai trò của vốn đầu tư lên tăng trưởng kinh tế .........................15
2.2.1 Mô hình tăng trưởng Harrod – Domar ........................................................16
2.2.2 Mô hình tăng trưởng Solow ........................................................................19
2.2.3 Lý thuyết tăng trưởng nội sinh ....................................................................24
2.3 Các nhân tố ảnh hưởng mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và đầu tư ...........27
2.3.1 Giáo dục ......................................................................................................27
2.3.2 Mức độ hội nhập tài chính. .........................................................................28


2.3.3 Trình độ phát triển của thị trường tài chính ................................................30
2.3.4 Độ mở thương mại. .....................................................................................31
2.3.5 Chất lượng cơ sở hạ tầng ............................................................................31
2.3.6 Quá trình đô thị hóa. ...................................................................................32
2.3.7 Môi trường kinh tế vĩ mô ............................................................................33
2.3.8 Môi trường thể chế. .....................................................................................34
Tóm tắt chương 2 ............................................................................................................36
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ DỮ LIỆU ...............................38
3.1 Mô hình................................................................................................................38
3.1.1 Các biến trong mô hình. ..............................................................................38
3.1.2 Mô hình nghiên cứu. ...................................................................................42
3.2 Dữ liệu .................................................................................................................44
3.3 Phương pháp nghiên cứu .....................................................................................47


Quỹ tiền mặt Quốc tế

UNCTAD Diễn đàn Thương mại và Phát Triển Liên Hiệp Quốc
WB

Ngân hàng Thế giới

WIR

Báo cáo Đầu tư Thế giới


DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1:

Bảng mô tả các biến sử dụng trong mô hình hồi quy

Bảng 3.2:

Kỳ vọng về dấu của các biến lựa chọn

Bảng 3.3:

Bảng phân nhóm các quốc gia được chọn mẫu

Bảng 4.1:

Thống kê mô tả biến toàn bộ 44 nước giai đoạn 1993 - 2016


đến mối quan hệ giữa dòng vốn đầu tư nước ngoài và tăng trưởng kinh tế. Nghiên
cứu được thực hiện trên một mẫu gồm 44 quốc gia đang phát triển trong giai đoạn
1993 – 2016 và sử dụng mô hình GMM nhằm khắc phục những hạn chế khi phân
tích dữ liệu bảng. Những kết quả trong bài nghiên cứu đạt được cho thấy tác động
của FDI lên tăng trưởng phụ thuộc vào chính sách thể chế, mức độ ổn định kinh tế
vĩ mô. Ngoài ra, các nhân tố khác gồm vốn đầu tư trong nước và chất lượng cơ sở
hạ tầng … cũng có tác động trực tiếp lên tăng trưởng kinh tế. Hơn nữa, khi chia
mẫu thành hai nhóm nước có thu nhập thấp - trung bình thấp (tức là nhóm có thu
nhập thấp và trung bình thấp) và nhóm nước có thu nhập trung bình cao. Kết quả
cho thấy các biến này có tương tác với FDI, khẳng định ảnh hưởng gián tiếp của
chúng đến mối quan hệ FDI và tăng tưởng. Chính vì vậy, chính phủ của các quốc
gia nhận đầu tư (host country) cần cải thiện môi trường đầu tư, ổn định kinh tế vĩ
mô mới là cốt lõi của một chính sách đúng đắn, cần đưa ra những chính sách phối
hợp một cách hài hòa bao gồm một môi trường chính sách - kinh tế thích hợp để
hiệu ứng lan tỏa có thể diễn ra, các chính sách thu hút dòng vốn nước ngoài và thúc
đẩy phát triển công nghệ - động lực tối hậu để đạt được tăng trưởng kinh tế.


1

CHƯƠNG 1: PHẦN MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề:
Tại nhiều quốc gia trên thế giới, các dòng vốn đầu tư, đặc biệt là đầu tư trực tiếp
nước ngoài (FDI), được xem là một nguồn vốn quan trọng ảnh hưởng trực tiếp và
gián tiếp đến tăng trưởng kinh tế và là một trong những nhân tố chính trong quá
trình toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế của các quốc gia đang phát triển. Mối quan
hệ hai chiều giữa FDI và tăng trưởng kinh tế đã, đang và sẽ là một trong những vấn
đề quan trọng trong nền kinh tế của mỗi quốc gia.
Theo Báo cáo Đầu tư thế giới năm 2016 (WIR) công bố ngày 22/6/2016 của
Văn phòng Tồ chức Thương mại và Phát triển của Liên hợp quốc (UNCTAD), dòng


Luxembourg

27

France

28

Italy

29

Belgium

33

Canada

34

Russian Federation

38

Least developed countries
(LDCs)

38


(tỷ USD)

92
108
134
254

391

Nguồn: WIR2017


3

Theo UNCTAD, FDI vào các nước đang phát triển từng là xu hướng chính suốt
hơn 10 năm qua. Năm 2000 FDI vào các nước đang phát triển chỉ chiếm khoảng
19% tổng FDI trên toàn thế giới nhưng tới năm 2016 tỷ lệ này lên tới hơn 34% FDI
toàn cầu.
FDI toàn cầu giai đoạn 2014 – 2016 (tỷ USD)
Khu vực

FDI vào

2014

Thế giới
25,108
Nền kinh tế phát triển
16,145
EU

7,802
6,841
8,580
773
6,005
220
24
588

26,728
16,917
7,664
7,821
9,078
837
6,255
240
26
730

24,685
19,297
8,018
7,462
5,006
193
1,231
537
9
382

thành một vòng xoáy tác động lên tăng trưởng. Về lý thuyết, vốn FDI dường như
đem lại nhiều lợi ích hơn so với các dòng vốn khác bởi vì, ngoài việc làm gia tăng
tổng vốn của một quốc gia, FDI còn có tác động ngoại vi tích cực là làm tăng năng
suất của nền kinh tế thông qua việc chuyển giao công nghệ cũng như kinh nghiệm
và kĩ năng quản lý (De Mello, 1997). Cũng như lập luận của Kose và cộng sự
(2006): "... nó không chỉ đơn thuần là dòng vốn, mà cùng những gì đi cùng với nó,
sẽ mang lại lợi ích của toàn cầu hóa tài chính cho các nước đang phát triển". Thêm
nữa, cũng có ý kiến cho rằng vốn FDI có xu hướng ổn định hơn các loại vốn đầu tư


4

khác, đồng nghĩa với việc quốc gia tiếp nhận sẽ ít bị tổn thương hơn trước rủi ro
dòng vốn đầu tư đột ngột ngừng lại.
Tuy nhiên về mặt lý thuyết cũng như thực tiễn vẫn tồn tại nhiều quan điểm khác
nhau về vai trò của FDI trong tăng trưởng kinh tế tại các quốc gia tiếp nhận nguồn
vốn đầu tư. Ở một số nghiên cứu, vốn FDI đã được chứng minh là vừa có những tác
động có lợi cũng như bất lợi đến tăng trưởng kinh tế, trong khi đó, một vài nghiên
cứu khác lại cho rằng FDI không ảnh hưởng đến tăng trưởng. Những nghiên cứu ở
mức độ doanh nghiệp thường cho rằng FDI không làm cải thiện tăng trưởng kinh tế
(Görg & Greenaway, 2004). Ngược lại, nhiều nghiên cứu vĩ mô lại cho rằng FDI
đóng một vai trò tích cực đối với hiệu suất hoạt động của nền kinh tế, mặc dù có
một số nghiên cứu ngoại lệ như Akinlo (2004); Herzer, Klasen & Nowak-Lehmann
(2008); Carkovic & Levine (2005) đã chỉ ra rằng các dòng vốn nước ngoài không
thực sự có ảnh hưởng đáng kể lên tăng trưởng kinh tế.
Những kết quả không thống nhất và còn bỏ ngỏ này khiến nhiều nhà nghiên cứu
thận trọng hơn khi đưa ra kết luận tổng quát về tác động của vốn FDI và mối quan
hệ giữa FDI và tăng trưởng, cụ thể là phải xem xét đến sự tồn tại của các yếu tố bên
ngoài liên quan đến FDI. Và đây cũng chính là ý tưởng cho nghiên cứu với đề tài
“Vai trò của các nhân tố địa phương trong mối quan hệ giữa FDI và tăng trưởng

4/ Những chính sách cần hoàn thiện và phát triển nhằm tăng cường khả năng hấp
thụ và thu hút nguồn vốn FDI trên địa bàn nghiên cứu trong thời gian tới.
1.3. Phạm vi nghiên cứu


6

Để đạt được khoảng thời gian dài cho phân tích, chúng tôi chọn giai đoạn từ
năm 1993-2016 và nhóm các quốc gia đang phát triển được chọn trong bài nghiên
cứu là những quốc gia tiếp nhận nhiều FDI nhất trong giai đoạn phân tích. Các quốc
gia này có điểm chung thâm hụt tương đối nhỏ, tỉ lệ tiết kiệm cao, tự do hóa thị
trường tài chính, tăng trưởng tương đối cao và đã thực thi những chính sách với
trọng tâm là thu hút vốn FDI xuyên suốt hai thập kỷ qua. Hơn nữa, mặc dù phần lớn
các quốc gia này đã có những bước tiến trong việc bình ổn kinh tế vĩ mô và chất
lượng thể chế, nhưng thành quả tăng trưởng kinh tế thu được lại không giống nhau.
Điều này khiến chúng đặc biệt thích hợp với mục tiêu nghiên cứu.
1.4. Phương pháp nghiên cứu
Để trả lời các câu hỏi nêu trên, nghiên cứu sử dụng các lý thuyết nghiên cứu
trước đây để xem xét những ảnh hưởng kỳ vọng của FDI và các nhân tố điều kiện
lên tăng trưởng kinh tế. Sau đó, nghiên cứu đi vào thu thập một số nghiên cứu thực
nghiệm về vấn đề này, cách thức, phạm vi và kết quả tìm được của các nghiên cứu
đó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu tiến hành so sánh và chọn phương pháp định lượng
các biến phù hợp trong khả năng thu thập số liệu thực tế, cơ sở dữ liệu của các quốc
gia đang phát triển. Các biến được sử dụng bao gồm biến phụ thuộc là tốc độ tăng
trưởng GDP thực và biến độc lập gồm tốc độ gia tăng dân số, FDI và gross fixed
capital (đại diện cho tổng vốn trong nền kinh tế) cùng các nhân tố khả năng hấp thụ
(absorptive capacities). Các nhân tố mà chúng tôi xét đến bao gồm chất lượng thể
chế, độ bất ổn kinh tế vĩ mô, mức thu nhập quốc gia, chất lượng cơ sở hạ tầng, tốc
độ đô thị hóa. Chúng tôi còn thêm vào các nhân tử tương tác giữa FDI và độ bất ổn
kinh tế vĩ mô, chất lượng thể chế. Hệ số của các nhân tử tương tác này sẽ giúp ta kết

triển nói chung và Việt Nam nói nêng. Bên cạnh đó, bằng chứng thu được trong
nghiên cứu giúp chứng minh rằng sự khác biệt về nhiều khía cạnh giữa các quốc gia
nhận đầu tư (vốn bị những nghiên cứu trước đây xem như đồng nhất) chính là
nguyên nhân khiến những nghiên cứu thực nghiệm trước đây cho ra kết quả mâu
thuẫn nhau.
1.6. Kết cấu của luận án:
Bố cục đề tài bao gồm 05 chương:
- Chương 1: giới thiệu chung về đề tài nghiên cứu cũng như lý do thực hiện
nghiên cứu, mục tiêu, phương pháp.
- Chương 2: trình bày tổng quan lý thuyết, xem xét những cách biệt giữa lý
thuyết về lợi ích của dòng vốn FDI và các bẳng chứng thực nghiệm mâu thuẫn với
vấn đề này. Đồng thời, chương này cũng trình bày những nghiên cứu thực nghiệm
trước đây về mối quan hệ giữa FDI và tăng trưởng, các nhân tố tác động đến mối
quan hệ đó.
- Chương 3: mô tả dữ liệu, các biến được sử dụng và các phương pháp tính toán
được sử dụng trong phân tích thực nghiệm.
- Chương 4: trình bày các kết quả chính.


9

- Chương 5: nhấn mạnh những kết luận quan trọng từ đề tài nghiên cứu, đồng
thời nêu lên những hạn chế và gợi ý đề tài nghiên cứu mở rộng chuyên sâu hơn.


10

Tóm tắt chương 1
Chương 1 trình bày những nét sơ lược về nghiên cứu. Nhận thấy tầm quan trọng
và những tác động của dòng vốn FDI đến tăng trưởng, nghiên cứu đã được thực

tư vào danh mục đầu tư, trong đó nhà đầu tư chỉ mua cổ phiếu của các công ty có
vốn đầu tư nước ngoài. Đặc điểm chính của đầu tư trực tiếp nước ngoài là nó là một
khoản đầu tư tạo ra việc kiểm soát có hiệu quả, hoặc ít nhất là ảnh hưởng đáng kể
đến việc ra quyết định của một doanh nghiệp nước ngoài.
Đầu tư trực tiếp nước ngoài thường được thực hiện ở các nền kinh tế mở, trái
với các nền kinh tế được điều tiết chặt chẽ, cung cấp lực lượng lao động lành nghề
và triển vọng tăng trưởng trung bình cho nhà đầu tư. Đầu tư trực tiếp nước ngoài
thường đòi hỏi nhiều hơn là đầu tư vốn. Nó cũng có thể bao gồm cung cấp quản lý
hoặc công nghệ.
Đầu tư trực tiếp nước ngoài có thể được thực hiện bằng nhiều cách, bao gồm
việc mở công ty con hoặc công ty liên kết ở nước ngoài, mua lại quyền kiểm soát tại
một công ty nước ngoài hiện tại, hoặc bằng cách sáp nhập hoặc liên doanh với một
công ty nước ngoài.
Ngưỡng cho một đầu tư trực tiếp nước ngoài tạo ra lợi ích chi phối, theo hướng
dẫn của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế ( OECD ), là cổ phần sở hữu tối


12

thiểu 10% trong một công ty nước ngoài, thường đại diện cho nhà đầu tư mua lại
10% trở lên cổ phần phổ thông hoặc cổ phần có quyền biểu quyết của công ty nước
ngoài. Tuy nhiên, định nghĩa này rất linh hoạt, vì có những trường hợp mà quyền
kiểm soát hiệu quả trong một công ty có thể được thiết lập với ít hơn 10% cổ phần
có quyền biểu quyết của công ty.
Các khoản đầu tư trực tiếp nước ngoài thường được phân loại là ngang, dọc
hoặc tập đoàn. Đầu tư trực tiếp theo chiều ngang đề cập đến nhà đầu tư thành lập
cùng loại hình hoạt động kinh doanh ở nước ngoài khi hoạt động ở nước mình, ví
dụ một nhà cung cấp điện thoại di động có trụ sở tại Hoa Kỳ mở cửa hàng ở Trung
Quốc. Đầu tư theo chiều dọc là hoạt động kinh doanh chính của các nhà đầu tư
được thành lập hoặc mua lại ở nước ngoài, chẳng hạn như khi một công ty sản xuất

chế là những giới hạn được vạch ra trong phạm vi khả năng và hiểu biết của con
người hình thành nên mối quan hệ qua lại của con người”. Đầu thế kỷ XX, ở
phương Tây xuất hiện một khuynh hướng chính trị mới - khuynh hướng chủ nghĩa
thể chế - quan niệm thể chế là bất kỳ liên hiệp bền vững nào của con người nhằm
đạt được mục đích nhất định nào đó.
Quan niệm này tương đối giống với cách hiểu của Ngân hàng thế giới về thể
chế, cho rằng thể chế bao hàm ba nội dung quan trọng nhất, đó là luật chơi, cơ chế
thực thi và tổ chức. Vậy nên thể chế là tập hợp các quy tắc điều chỉnh xã hội và là
kết quả của những thỏa thuận xã hội. Thể chế mang tính bản chất và là một đối
tượng có tính sở hữu rõ ràng: nó thể hiện một cách sâu sắc khuynh hướng chính trị
mà đảng cầm quyền đã lựa chọn.
Thảo luận chính sách gần đây của FETP (“Khơi thông những nút thắt thể chế để
phục hồi tăng trưởng”. Bài thảo luận chính sách tại Chương trình Lãnh đạo Quản lý
Cao cấp (VELP) tại trường Quản lý Nhà nước Harvard Kennedy tháng 8/2013) cho
rằng thể chế yếu kém chính là nguyên nhân sâu xa đã dẫn tới nhừng bất ổn của nền
kinh tế và nguy cơ suy thoái kinh tế hiện nay. Các nguy cơ về kinh tế, chính trị và
xã hội ngày nay đều có thể lý giải được bởi những cuộc cải cách thể chế bị trì hoãn


14

hoặc chưa được tiến hành triệt để trong quá khứ. Để phục hồi tăng trưởng, cần tận
dụng những cơ hội cải cách thể chế trong các năm tới để tiếp tục trao quyền kinh tế
và chính trị mạnh mẽ hơn cho người dân.
2.1.4 Về môi trường kinh tế vĩ mô
Kinh tế vĩ mô là hệ thống kinh tế của cả một quốc gia, với các chỉ tiêu đo lường
“sức khỏe” của nền kinh tế như tốc độ tăng trưởng, thu nhập, thất nghiệp, lạm
phát,...
Kinh tế học vĩ mô là một bộ phận của khoa học kinh tế nghiên cứu sự vận động
và những mối liên hệ kinh tế chủ yếu của một đất nước trong phạm vi toàn bộ nền

toàn thế giới. Điều này giúp đẩy nhanh sự phát triển của các dịch vụ cung cấp có
chất lượng và cho phép sản xuất các sản phẩm đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế - là cơ
sở tạo nên sự bứt phá trong khả năng cạnh tranh và tăng trưởng kinh tế.
Ba là: Con đường ngắn nhất đưa nền kinh tế nước ta hội nhập vào nền kinh tế
thế giới và khu vực, cũng như bảo đảm các nghĩa vụ vay và trả nợ nhờ vào việc
tăng cường được năng lực xuất khẩu.
Bốn là: Có vai trò tích cực trong việc góp phần giải quyết việc làm và quan
trọng hơn cả là đào tạo nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và chuyển giao
công nghệ .
Vì vậy, vai trò của vốn đầu tư lên tăng trưởng kinh tế đã và đang được đề cập ở
rất nhiều lý thuyết, mô hình kinh tế cũng như trong các nghiên cứu thực nghiệm. Ở
phần này, chúng tôi sẽ trình bày các lý thuyết kinh tế mà trong đó, vai trò của vốn


16

đầu tư được nêu rõ và củng cố như là một nhân tố quan trọng đối với tăng trưởng.
Các lý thuyết này bao gồm mô hình tăng trưởng của Harrod và Domar, mô hình
tăng trưởng của Solow và lý thuyết tăng trưởng nội sinh1.
2.2.1 Mô hình tăng trưởng Harrod – Domar
Dựa vào tư tưởng của Keynes, vào những năm 40 của thế kỷ XX với sự nghiên
cứu một cách độc lập, hai nhà kinh tế học của học viện MIT (Hoa Kỳ) là Roy
Harrod ở Anh và Evsay Domar ở Mỹ đã cùng đưa ra mô hình giải thích mối quan
hệ giữa sự tăng trưởng kinh tế và thất nghiệp ở các nước phát triển. Mô hình này
cũng đề xuất những quan điểm về mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và các nhu
cầu về vốn tư bản, đặc biệt là vai trò của vốn đầu tư đổi với sự phát triển kinh tế của
một quốc gia.
Ngoài ra, mô hình Harrod-Domar còn được sử dụng rộng rãi ở các nước đang
phát triển nhằm xác định mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và các nhu cầu về
vốn.

đó là sản lượng được giả định là một hàm tuyến tính theo theo vốn (và chỉ theo vốn
mà thôi). Hàm sản xuất theo Harrod và Domar được biểu thị như sau:
1

𝑌 = × 𝐾 hay 𝑌 = 𝐾/𝑣
𝑣

(2.2)

Trong đó v là hằng số và tổng sản lượng Y được tính bằng tích giữa trữ lượng
vốn (K) và hệ số 1/v. Khi sắp xếp lại phương trình (2.2), ta sẽ có được hằng số v
chính tỷ số Vốn – Sản lượng:
𝑣 = 𝐾/𝑌
Tỷ số Vốn – Sản lượng (v) là một thông số rất quan trong trọng mô hình
Harrod–Domar, nó cung cấp cho chúng ta một chỉ báo về mức độ thâm dụng vốn
của quá trình sản xuất. Tỷ số này khác nhau giữa các quốc gia biểu thị sự khác biệt
về công nghệ mà các quốc gia này sử dụng để sản xuất cùng loại hàng hóa. Ví dụ
như Quốc gia A sử dụng máy gặt để thu hoạch lúa thay vì sử dụng người lao động
dùng các công cụ bằng tay để thu hoạch. Đồng thời, ở các quốc gia sản xuất một tỷ
trọng lớn các sản phẩm thâm dụng vốn (nghĩa là sản phẩm sản xuất ra đòi hỏi một
lượng tương đối các máy móc sản xuất), tỷ số Vốn – Sản lượng (v) sẽ cao hơn ở
quốc gia sản xuất nhiều sản phẩm thâm dụng lao động (hàng thủ công, nông sản cơ
bản…). Ngoài ra, sự khác nhau về tỷ số Vốn – Lao động giữa các quốc gia còn có
thể giải thích từ sự khác biệt trong hiệu quả sử dụng vốn. Một số đo y lớn có thể



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status