VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
Nguyễn Công Dũng
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ VIỆC LÀM CHO THANH NIÊN
TỪ THỰC TIỄN TỈNH PHÚ YÊN
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI, năm 2018
VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
Nguyễn Công Dũng
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ VIỆC LÀM CHO THANH NIÊN
TỪ THỰC TIỄN TỈNH PHÚ YÊN
Chuyên ngành: Luật Hiến pháp và Luật Hành chính
Mã số: 8.38.01.02
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. BÙI THỊ ĐÀO
HÀ NỘI, năm 2018
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 4
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC
VỀ VIỆC LÀM CHO THANH NIÊN ........................................................... 6
1.1. Quan niệm quản lý nhà nước về việc làm cho thanh niên ......................... 6
1.2. Nội dung quản lý nhà nước về việc làm cho thanh niên .......................... 11
1.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến quản lý nhà nước về việc làm cho thanh niên ở
nước ta hiện nay ............................................................................................... 19
Chương 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ VIỆC LÀM.... 26
CHO THANH NIÊN TẠI TỈNH PHÚ YÊN............................................... 26
2.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của tỉnh Phú Yên ảnh hưởng đến quản
lý Nhà nước đến về việc làm thanh niên ở tỉnh Phú Yên ............................... 26
2.2. Thực trạng quản lý Nhà nước về việc làm cho thanh niên tại tỉnh Phú Yên
......................................................................................................................... 31
2.3. Đánh giá thực trạng quản lý nhà nước về việc làm cho thanh niên ở tỉnh
Phú Yên ........................................................................................................... 41
Chương 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ NHÀ
NƯỚC VỀ VIỆC LÀM CHO THANH NIÊN Ở TỈNH PHÚ YÊN GIAI
ĐOẠN 2017 - 2022 ......................................................................................... 53
3.1 Những giải pháp chung cho việc nâng cao quản lý Nhà nước về việc làm
cho thanh niên trong phạm vi cả nước ............................................................ 53
3.2. Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý về việc làm cho thanh niên ở tỉnh
Phú Yên ........................................................................................................... 59
KẾT LUẬN .................................................................................................... 70
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1: Tình hình phát triển kinh tế - xã hội……………………………...….35
Bảng 2.2: Kết quả tuyển sinh đào tạo nghề .................................................... 35
đó, có vấn đề việc làm cho nguời lao động nói chung, thanh niên nói riêng.
Tuy nhiên, vấn đề việc làm cho thanh niên ở tỉnh Phú Yên hiện nay
đang đặt ra nhiều vấn đề bất cập: Trình độ học vấn, tay nghề chuyên môn,
một bộ phận thanh niên nông thôn chưa thực sự thay đổi suy nghĩ, tập quán
sống để thích ứng với yêu cầu của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và
hội nhập kinh tế đang diễn ra rất nhanh ở Việt Nam nói chung và tỉnh Phú
Yên nói riêng.
Vấn đề việc làm của thanh niên ở nhiều địa phương trên địa bàn tỉnh Phú
Yên chưa thực sự được các cấp và các chủ thể xã hội chú trọng, đầu tư, quan
tâm và tiến hành đồng bộ có tính chiến lược trong công tác thanh niên.
Tỷ lệ thiếu việc làm thất nghiệp của thanh niên có xu hướng ngày càng
tăng, mức thu nhập thấp đã dẫn tới con đường thanh niên phải tự tìm kiếm việc
làm ở các tỉnh phía Nam (Bình Dương, thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai,…)
với mục đích chỉ vì cuộc sống sinh tồn do thiếu việc làm và thất nghiệp, mức
thu nhập thấp gây ra.
Đây là vấn đề rất bức xúc, gay gắt và có tính cấp thiết không chỉ đối với
thanh niên, gia đình và toàn xã hội phải chú trọng quan tâm giải quyết trong giai
đoạn hiện nay. Xuất phát từ những vấn đề trên, tác giả chọn vấn đề "Quản lý
nhà nước về việc làm cho thanh niên từ thực tiễn tỉnh Phú Yên" làm đề tài
luận văn tốt nghiệp cao học chuyên ngành Luật Hiến pháp và Luật Hành chính.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Trong những năm gần đây, vấn đề việc làm, giải quyết việc làm nói
chung được nhiều người quan tâm nghiên cứu, cụ thể như:
- Nolwen.Hennaff.Jean-Yves.Martin (biên tập khoa học): Lao động,
việc làm và nguồn nhân lực ở Việt Nam 15 năm đổi mới - Nxb Thế giới, Hà
Nội 2001.
- GS.TS. Phạm Đức Thành: Vấn đề giải quyết việc làm ở Việt Nam,
2
nhiệm vụ:
- Nêu ra những cơ sở khoa học của việc giải quyết việc làm cho thanh
niên giai đoạn hiện nay.
- Khảo sát, phân tích, đánh giá thực trạng giải quyết việc làm cho thanh
niên ở tỉnh Phú Yên thời gian qua.
Từ đó, luận văn nêu ra một số giải pháp chủ yếu để giải quyết việc làm
cho thanh niên tỉnh Phú Yên giai đoạn đến năm 2022.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Nghiên cứu việc làm cho thanh niên tỉnh Phú
Yên
Phạm vi nghiên cứu: Đề tài việc làm cho thanh niên là vấn đề rất rộng,
nó bao hàm cả vấn đề tạo việc làm, tìm việc làm, giải quyết việc làm... Vì vậy,
trên phương diện quản lý nhà nước, luận văn tập trung nghiên cứu vấn đề giải
quyết việc làm cho thanh niên tỉnh Phú Yên giai đoạn 2017 - 2022.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
Cơ sở lý luận
Luận văn được nghiên cứu dựa trên nguyên lý của chủ nghĩa Mác Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng Cộng Sản Việt
Nam, lý thuyết việc làm hiện đại.
Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của
chủ nghĩa Mác-Lênin, luận văn sử dụng những phương pháp đặc trưng của
kinh tế chính trị như: Phương pháp phân tích, tổng hợp, phương pháp trừu
tượng hoá khoa học...
Ngoài ra, trong quá trình thực hiện, tác giả cũng tham khảo ý
kiến của các chuyên gia, cán bộ, đồng nghiệp để có những kiến giải, đánh giá
sát với thực tế tình hình việc làm cho thanh niên ở tỉnh Phú Yên.
4
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
còn chìm đắm trong chiến tranh, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thức tỉnh, giác ngộ
thanh niên đi theo Đảng, theo nhân dân để làm nên cuộc Cách mạng Tháng
tám năm 1945 khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, khởi đầu một
thời kỳ lịch sử huy hoàng, đưa dân tộc Việt Nam sống trong hòa bình, ấm no,
hạnh phúc.
Thanh niên Việt Nam hiện nay, có trình độ học vấn cao, luôn sẵn sàng
giữ vị trí tiên phong trong việc bảo vệ và xây dựng Tổ quốc ngày càng tươi
đẹp hơn, phát triển hơn không chỉ về mặt kinh tế mà còn về mặt xã hội, giữ
vững ổn định chính trị.
Thanh niên là một nhóm nhân khẩu xã hội đặc thù, ở một độ tuổi nhất
định, có mặt trong tất cả các giai cấp, tầng lớp xã hội, dân tộc, tôn giáo, các
lĩnh vực đời sống xã hội, có những đặc điểm chung về tâm lý, sinh lý, nhận
6
thức xã hội, có vai trò quan trọng trong sự phát triển của xã hội ở mỗi quốc
gia trong hiện tại và tương lai.
Chính vì thế, có thể nói thanh niên Việt Nam là những người còn trẻ,
đang ở độ tuổi trưởng thành và luôn giữ vị trí tiên phong trong việc xây dựng
và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam.
Quan niệm về việc làm cho thanh niên:
Quan niệm về việc làm không cố định mà nó được xét trên nền tảng của
một chế độ chính trị, gắn với trình độ phát triển kinh tế, chính trị, văn hoá, xã
hội của mỗi quốc gia, mỗi thời đại. Khi trình độ phát triển mọi mặt, đặc biệt là
định hướng chính trị của một quốc gia thay đổi, quan niệm về việc làm cũng
biến đổi. Trong lịch sử cho thấy việc thay đổi những quan điểm về tương lai
trực tiếp ảnh hưởng tới số lượng việc làm chứ không chỉ định hướng việc làm.
Có quan niệm cho rằng, tất cả các hoạt động, hành vi mang lại thu nhập
để đảm bảo cuộc sống cho mọi người đều được gọi là việc làm. Quan điểm
này đã không tính đến tính pháp lý của việc làm, đã đồng nhất việc làm hợp
kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia trong các giai đoạn phát triển khác nhau.
Việc mở rộng hay thu hẹp việc làm, phát huy hay kìm hãm năng lực tạo việc
làm phụ thuộc vào yếu tố kinh tế - chính trị - xã hội của quốc gia, địa phương
hay doanh nghiệp.
Qua sự phân tích trên cho thấy thanh niên là lực lượng lao động đông
đảo, có vai trò quan trọng đối với sự phát triển của xã hội. Lực lượng lao động
thanh niên từ 15 tuổi trở lên của cả nước khá lớn. Chính vì thế, tạo việc làm
cho thanh niên để đáp ứng được những đòi hỏi ngày càng cao của công cuộc
công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Vấn đề đặt ra là phải định hướng phát
triển nghề nghiệp mới trong thanh niên, phù hợp với những yêu cầu mới của
sự phát triển. Kết hợp giữa nhu cầu thực tế của sự phát triển thị trường lao
động mới với xu hướng lựa chọn nghề nghiệp của thanh niên.
8
Thực tế cho thấy, giữa những đòi hỏi về việc làm với định hướng nghề
nghiệp của thanh niên, giữa mục tiêu đào tạo nghề và sử dụng lao động có
nhiều mâu thuẫn. Hiện tượng “thừa thầy, thiếu thợ” tồn tại nhiều năm qua vẫn
chưa được giải quyết một cách thấu đáo. Việc làm cho thanh niên trong giai
đoạn hiện nay là một công việc cần được giải quyết cấp bách cho Việt Nam
nói chung và tỉnh Phú Yên nói riêng.
1.1.2. Quan niệm quản lý nhà nước về việc làm cho thanh niên
Quản lý nhà nước xuất hiện cùng với sự xuất hiện của Nhà nước, là
công cụ của Nhà nước quản lý xã hội mà ở đây cụ thể là việc làm cho thanh
niên. Nó là một dạng quản lý xã hội mang tính quyền lực của các cơ quan
Nhà nước, được sử dụng quyền lực Nhà nước để điều chỉnh các quan hệ xã
hội và các hành vi hoạt động của công dân để đảm bảo trật tự xã hội và sự
phát triển của xã hội theo đúng ý đồ của Nhà nước.
Khoản 1, Điều 8, Hiến pháp 2013 ghi rõ: “Nhà nước được tổ chức và
hoạt động theo Hiến pháp và pháp luật, quản lý xã hội bằng Hiến pháp và
trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Chính sách và luật pháp về việc làm cho thanh niên không có những
quy định tách biệt, cụ thể mà nói được nhắc đến chung với những chính sách
quy định về công tác thanh niên. Điều 4 Nghị định số 120/2007/NĐ-CP ngày
23 tháng 7 năm 2007 của Chính phủ hướng dẫn thi hành một số điều của Luật
Thanh niên quy định: “Công tác thanh niên là những hoạt động của Đảng,
Nhà nước và xã hội nhằm giáo dục, bồi dưỡng, tạo điều kiện thuận lợi cho
thanh niên phấn đấu và trưởng thành, đồng thời phát huy vai trò xung kích,
sức sáng tạo và tiềm năng to lớn của thanh niên trong sự nghiệp xây dựng và
bảo vệ Tổ Quốc”.
Như vậy, có thề nói rằng, quản lý nhà nước về việc làm cho thanh niên
là đề ra, hoạch định những đường lối, chính sách, pháp luật để mang lại việc
10
giải quyết việc làm cho thanh niên một cách hiệu quả nhất.
1.2. Nội dung quản lý nhà nước về việc làm cho thanh niên
1.2.1. Ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về việc làm cho
thanh niên
Ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật, chiến
lược, chính sách, chương trình việc làm cho thanh niên. Trên cơ sở tư tưởng
Hồ Chí Minh, các quan điểm của Đảng đối với thanh niên và các mục tiêu của
Đảng đề ra trong Nghị quyết của các kỳ Đại hội Đảng toàn quốc đã đưa ra
những chính sách sách hỗ trợ tạo việc làm cho lao động thanh niên như:
Trong giai đoạn 2011-2016, nhằm đẩy mạnh đào tạo nghề, giải quyết
việc làm cho người lao động nói chung (đặc biệt là lao động thanh niên, thanh
niên nông thôn) và bộ đội, công an xuất ngũ nói riêng, Chính phủ đã ban hành
rất nhiều văn bản qui phạm pháp luật quan trọng nhằm hỗ trợ, tạo điều kiện
việc làm cho thanh niên. Cụ thể là:
- Nghị định số 61/2015/NĐ-CP ngày 09/7/2015 của Chính phủ quy
kinh tế quốc phòng giai đoạn 2011 - 2020 (Bộ Quốc phòng);
- Dự án Đảo thanh niên Bạch Long Vĩ và Đảo thanh niên Cồn Cỏ;
- Dự án Làng thanh niên lập nghiệp (Trung ương Đoàn thanh niên
Cộng sản Hồ Chí Minh)...
Tháng 3/2017, Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội và Trung ương
Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh đã ký chương trình phối hợp giai
đoạn 2017-2020, trong đó tập trung nội dung tư vấn hướng nghiệp, giáo dục
nghề nghiệp và giải quyết việc làm cho thanh niên.
Việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật, chiến lược, chính sách,
chương trình việc làm cho thanh niên là quá trình thể chế hoá các quan điểm,
chủ trương, đường lối của Đảng đã đề ra. Qua đó, Nhà nước đã quy định trách
12
nhiệm, nhiệm vụ của các cấp, các ngành trong hoạt động quản lý nhà nước về
việc làm cho thanh niên. Cụ thể, như: Quốc hội ban hành các văn bản luật liên
quan đến thanh niên và công tác thanh niên trong đó có nhắc đến việc tạo việc
làm cho thanh niên.
Đất nước ta đã đổi mới hơn 30 năm và hội nhập sâu rộng vào nền kinh
tế của thế giới. Qua đó có rất nhiều tập đoàn, doanh nghiệp ở nước ngoài,
trong nước đang tạo ra rất nhiều việc làm cho thanh niên. Tuy nhiên, tỉ lệ thất
nghiệp trong thanh niên hiện còn cao và việc khởi nghiệp của thanh niên hiện
nay còn rất nhiều khó khăn. Trung ương Đoàn cũng rất trăn trở về vấn đề này
và luôn xác định các hoạt động hỗ trợ, khởi nghiệp cho thanh niên là một
trong những nhiệm vụ trọng tâm. Chính vì thế, vừa qua Trung ương Đoàn đã
ban hành Kế hoạch tổ chức chương trình thanh niên khởi nghiệp giai đoạn
2016-2021 và đã tham mưu cho Thủ tướng Chính phủ đồng ý cho Trung ương
Đoàn thành lập Quỹ Hỗ trợ thanh niên khởi nghiệp.
Bên cạnh đó, Trung ương Đoàn đang phụ trách Quỹ Hỗ trợ thanh niên
khởi nghiệp với khoảng 72 tỉ đồng và dư nợ vay vốn qua Ngân hàng Chính
có khả năng sáng tạo, thích ứng với môi trường làm việc trong bối cảnh hội
nhập quốc tế; bảo đảm nâng cao năng suất, chất lượng lao động; tạo điều kiện
cho người học sau khi hoàn thành khóa học có khả năng tìm việc làm, tự tạo
việc làm hoặc học lên trình độ cao hơn.
Đào tạo nghề góp phần chuyển dịch cơ cấu lao động. Trong quá trình
công nghiệp hóa - hiện đại hóa, đào tạo nghề trang bị kỹ năng, năng lực cho
người lao động khi dịch chuyển từ khu vực nông nghiệp sang khu vực công
nghiệp và dịch vụ. Đa số người lao động ở khu vực nông nghiệp chưa có trình
độ chuyên môn kỹ thuật hoặc trình độ thấp nên không đáp ứng được yêu cầu
về công việc của khu vực công nghiệp. Khi chuyển sang làm việc trong các
khu công nghiệp hoặc các làng nghề cần phải đào tạo nghề mới đáp ứng được
14
yêu cầu của công việc. Đào tạo nghề làm tăng cơ hội tìm kiếm việc làm và
tăng thu nhập cho các cá nhân, tạo khả năng thay đổi và dịch chuyển việc làm,
nhanh chóng thích nghi với các biến đổi về kinh tế và xã hội.
Hơn nữa, việc làm của lao động qua đào tạo nghề đóng vai trò quan
trọng trong tổng thể việc làm của lực lượng lao động và trong kết cấu lao
động có chuyên môn kỹ thuật. Biểu hiện thông qua mức độ tập trung việc
làm của lao động qua đào tạo nghề ở các khu vực công nghiệp, dịch vụ, khu
vực kinh tế hiện đại. Trong tương lai, khi khu vực nông nghiệp thu hẹp dần,
lao động qua đào tạo nghề sẽ là lực lượng lao động chính tạo ra của cải vật
chất cho nền kinh tế. Xét trên góc độ người tiêu dùng trong nền kinh tế thì
lực lượng lao động qua đào tạo nghề là những công dân tầng lớp trung lưu
đông đảo và là những người tiêu dùng chính trên thị trường hàng hóa, dịch vụ.
Lao động qua đào tạo nghề đang là nhóm được quan tâm nhiều trong
cạnh tranh nguồn nhân lực giữa các nước trong khu vực có nền kinh tế phát
triển tương đồng. Cạnh tranh có thể là gián tiếp thông qua hàng hóa xuất nhập
khẩu hoặc cạnh tranh trực tiếp thông qua cung cấp kỹ năng trên thị trường lao
Thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm trong
việc thực hiện chính sách, pháp luật về việc làm cho thanh niên là nội dung
nhằm bảo đảm các chính sách, pháp luật về việc làm cho thanh niên được
triển khai thực hiện đúng và đầy đủ. Tạo hành lang pháp lý cho người khiếu
nại, tố cáo thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo về lao động, đồng thời là căn cứ
pháp lý để các cá nhân, tổ chức có thẩm quyền giải quyết khiếu nại, tố cáo
trong các lĩnh vực nêu trên.
Công tác kiểm tra được thực hiện một cách có quy mộ, chặt chẽ để từ
đó có những biện pháp ngăn chặn, phòng ngừa những sai phạm có thể xảy ra.
Đặc biệt, là kiểm tra chức năng của các cơ quan có thẩm quyền trong việc giải
quyết việc làm cho thanh niên.
16
Thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo, xử lý vi phạm pháp luật trong
quản lý nhà nước về việc làm cho thanh niên là những hoạt động thiết yếu,
kiểm tra và tất yếu sẽ phát sinh các vấn đề liên quan đến khiếu nại, tố cáo.
Tuy nhiên, thực tế hiện nay, một số nơi, một số cán bộ vẫn còn chưa nhận
thức đúng ý nghĩa, vai trò của công tác thanh tra, kiểm tra; chưa nhận thức
được hoặc nhận thức chưa đầy đủ ý nghĩa tích cực của công tác thanh tra,
kiểm tra, giải quyết khiếu nại tố cáo; một số cán bộ, chấp hành viên, thậm chí
có cả thủ trưởng cơ quan thi hành án còn lúng túng về thẩm quyền, nội dung
và việc thực hiện nghiệp vụ thanh tra, kiểm tra.
Khiếu nại, tố cáo là một trong các quyền chính trị cơ bản của công dân,
được ghi nhận trong văn bản pháp luật có giá trị pháp lý cao như Hiến pháp,
Luật. Điều 30 Hiến pháp 2013 quy định: “Mọi người có quyền khiếu nại, tố
cáo với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền về những việc làm trái pháp
luật của cơ quan, tổ chức, cá nhân”. Cùng với sự hoàn thiện của hệ thống
pháp luật, các quy định của pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo đã dần
được hoàn thiện. Đây là cơ sở pháp lý quan trọng của việc giải quyết khiếu
hài hòa tại các doanh nghiệp, tăng cường khả năng hội nhập quốc tế về lĩnh
vực lao động, xã hội trong thời kỳ mới.
Hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng và toàn diện đã tạo ra những cơ
hội để cho mọi công dân có thể mở rộng sự giao lưu và tìm kiếm cơ hội phát
triển. Đối với thanh niên thì điều này càng trở nên quan trọng hơn bởi tuổi trẻ
luôn năng động, sáng tạo, nhiệt huyết, nhanh nhạy nên có nhiều hơn các cơ
hội để giao lưu, học tập. Tạo ra nhiều cơ hội, song hội nhập quốc tế cũng đã
và đang đặt ra cho thanh niên Việt Nam nhiều thách thức lớn: đó là sự tương
thích giữa trình độ học vấn với các cơ hội tìm kiếm việc làm có thu nhập cao,
đó là sự tác động của lối sống thực dụng, chạy theo đồng tiền; đó là việc làm
thế nào để dung hoà được giữa truyền thống và hiện đại trong lối sống, nếp
18
sống…, sự tụt hậu về trình độ học vấn đã làm cho cơ hội tìm kiếm việc làm
của thanh niên trong bối cảnh hội nhập quốc tế trở nên bấp bênh hơn ngay ở
trong nước.
Quá trình hội nhập quốc tế có tác động đến thế hệ trẻ đặt ra những vấn
đề cho các nhà quản lý việc làm cho thanh niên phải có những hoạch định
đúng đắn đề ra chiến lược, sách lược, chương trình, dự án… liên quan đến
thanh niên một cách có hiệu quả nhất.
Trong việc hợp tác quốc tế về việc làm cho thanh niên tạo ra những cơ
hội không chỉ về việc làm mà nó còn là việc nâng cao kỹ năng làm việc ở
nước ngoài. Chính vì điều đó sẽ giúp thanh niên Việt Nam tích lũy được kinh
nghiệm trong quá trình làm việc, điều đó giúp họ rất nhiều khi về nước tham
gia vào các dự án lớn của Việt Nam, tạo môi trường làm việc quốc tế, đáp ứng
được quá trình hiện đại hóa, công nghiệp hóa của nước nhà trong hiện tại
cũng như trong tương lai.
1.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến quản lý nhà nước về việc làm cho
thanh niên ở nước ta hiện nay