Thực hiện chính sách giải quyết việc làm cho thanh niên từ thực tiễn quận ba đình, thành phố hà nội - Pdf 51

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

ĐOÀN KIM THANH

THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM
CHO THANH NIÊN TỪ THỰC TIỄN QUẬN BA ĐÌNH,
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Ngành: Chính sách công
Mã số: 834 04 02

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS BÙI NHẬT QUANG

HÀ NỘI, 2018
1


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Giải quyết việc làm luôn là chủ để nóng không những chỉ riêng ở Việt
Nam mà còn là vấn đề chung của nhiều quốc gia trên thế giới, trong đó có cả
những nước phát triển. Theo Báo cáo của Cơ quan thống kê Hàn Quốc trong
tháng 9 năm 2017 cho thấy tỉ lệ thất nghiệp của nhóm thanh niên tăng cao
nhất trong 18 năm qua.Tỉ lệ thất nghiệp của thanh niên Hàn Quốc độ tuổi từ
15 đến 29 hiện ở mức 8%, gấp đôi tỉ lệ thất nghiệp trung bình của cả nước. Ở
xứ sở kim chi, một việc làm ổn định không chỉ là "cần câu cơm" mà còn là
yếu tố quyết định sự thành bại và chỗ đứng trong xã hội của mỗi cá nhân [15].
Năm 2018, tại Italy, thanh niên phải thức đậy từ nửa đêm để đi xin việc làm là

thành thị là 2%; khu vực nông thôn là 4,9%.
Tình trạng thất nghiệp cũng có xu hướng tăng mạnh, tập trung chủ yếu
ở nhóm thanh niên đô thị. Tỷ lệ thanh niên thất nghiệp chiếm 4,2% (năm
2008); 4,1% (năm 2009) và tăng lên 5,2% (năm 2010), trong đó ở khu vực đô
thị là 7,8%, cao gần gấp hai lần nông thôn (4,3%).
Số đối tượng hưởng trợ cấp thất nghiệp ở nhóm thanh niên cũng chiếm
tỷ lệ khá cao. Trong số những người hưởng trợ cấp thất nghiệp hằng tháng thì
số người ở độ tuổi dưới 24 là 12.275 người (chiếm 24,5%); từ 25 - 40 tuổi là
31.366 người (chiếm 62,7%); trên 40 tuổi là 6.416 người (chiếm 12,8%)[2].
Trước tình hình đó, Đảng và Nhà nước ta đã chú trọng, đẩy mạnh giải
quyết việc làm, trong đó có giải quyết việc làm cho thanh niên.Cụ thể tại Nghị
quyết số 25-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa X) về tăng
cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác thanh niên thời kỳ đẩy mạnh
công nghiệp hóa, hiện đại hóa, việc triển khai các hoạt động nhằm nâng cao
chất lượng lao động trẻ, giải quyết việc làm, tăng thu nhập và cải thiện đời
sống cho thanh niên đã được các cấp ủy đảng, chính quyền, đoàn thể địa
phương quan tâm thực hiện với nhiều hình thức khác nhau. Tuy nhiên trên

3


thực tế, sự nhìn nhận, đánh giá của cán bộ đảng, chính quyền, đoàn thể và
thanh niên địa phương về hiệu quả đạt được của các hoạt động này còn nhiều
hạn chế, chưa đáp ứng được những đòi hỏi của thanh niên.
Nhận thấy tính cấp thiết của vấn đề nêu trên, là học viên cao học
chuyên ngành Chính sách công và hiện đang công tác tại Ủy ban nhân dân
Quận Ba Đình, học viên chọn đề tài “Thực hiện Chính sách giải quyết việc
làm cho thanh niên từ thực tiễn Quận Ba Đình, thành phố Hà Nội” làm luận
văn thạc sĩ để nghiên cứu các vấn đề lý luận cũng như giải quyết vấn đề trong
thực tiễn.

từ thị trường sức lao động và việc làm ở Hà Nội để đánh giá về vấn đề giải
quyết việc làm cho người lao động ở Hà Nội, bởi lẽ thủ đô Hà Nội là trung tâm
văn hóa - kinh tế - chính trị của cả nước, nơi tập trung nhiều lao động từ các
tỉnh, thành phố khác nên thị trường sức lao động ở Hà Nội có diễn biến khá
phức tạp về số lượng, chất lượng, cơ cấu, thành phần.
2.2.2 Các công trình nghiên cứu về chính sách hỗ trợ doanh nghiệp, khuyến
khích đầu tư nhằm tạo việc làm
Phạm Thị Kim Thư với luận văn thạc sỹ “Quản lý nhà nước đối với
doanh nghiệp vừa và nhỏ trên địa bàn thành phố Hà Nội”. (2014) [14], Luận
văn đã phân tích và đánh giá thực trạng công tác quản lý nhà nước đối với
doanh nghiệp trên địa bàn thành phố Hà Nội, từ đó đưa ra những giải pháp
hoàn thiện công tác này.Đây là công trình khá toàn diện không chỉ nghiên
cứu, đánh giá và đưa ra giải pháp về việc thực thi chính sách, mà còn các hoạt
động khác của QLNN như xây dựng các văn bản pháp quy, kiểm tra, giám sát
hoạt động của doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Hà Nội; điều này góp phần phát
triển doanh nghiệp một cách bền vững.
2.2.3 Các công trình nghiên cứu về chính sách tín dụng
Ngô Quỳnh An với luận án tiến sĩ “Tăng cường khả năng tự tạo việc làm
cho thanh niên Việt Nam” bảo vệ năm 2012 tại trường đại học KTQD, [1], đã

5


phân tích và đánh giá thực trạng tự tạo việc làm của thanh niên Việt Nam
trong bối cảnh nền kinh tế thị trường đang hội nhập quôc tế. Bên cạnh đó,
luận án cũng đề cập những giải pháp, bao gồm giải pháp về tín dụng nhằm hỗ
trợ thanh niên tự tạo việc làm.
2.2.4 Các công trình nghiên cứu về đào tạo nghề
Ngô Thùy Hương với luận văn thạc sĩ “Các giải pháp đào tạo nghề cho
thanh niên dân tộc trên địa bàn tỉnh Đăklăk” bảo vệ năm 2015[6], đã phân

- Đưa ra phương hướng, giải pháp hoàn thiện việc thực hiện chính sách
giải quyết việc làm cho thanh niên của Quận Ba Đình, thành phố Hà Nội
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu: Việc thực hiện chính sách giải quyết việc
làm cho thanh niên
4.2 Phạm vi nghiên cứu:
- Phạm vi không gian: Quận Ba Đình, thành phố Hà Nội
- Phạm vi thời gian: 2015-2018
- Phạm vi về nội dung: luận văn không tập trung nghiên cứu về thất
nghiệp và các nghiên cứu định lượng nhằm đo lường mức độ giảm tỷ lệ thất
nghiệp hay giải quyết được bao nhiêu việc làm cho người lao động. Luận văn
tập trung nghiên cứu, đánh giá hoạt động của chính quyền Quận Ba Đình
trong việc thực hiện chính sách giải quyết việc làm từ khi thực hiện chức
năng, nhiệm vụ, quyền hạn theo Luật Tổ chức chính quyền địa phương có
hiệu lực từ năm 2015.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp luận: Chủ nghĩa duy vật biện chứng
- Phương pháp nghiên cứu: Phương pháp thu thập thông tin thứ cấp qua
các số liệu thống kê, báo cáo của Quận Ba Đình và các báo, tạp chí.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
- Ý nghĩa khoa học: luận văn góp phần cung cấp một cách có hệ thống

7


những vấn đề lý luận và thực tiễn về thực hiện chính sách giải quyết việc làm
cho thanh niên.
- Ý nghĩa thực tiễn: thông qua nghiên cứu, luận văn đánh giá một cách
khách quan việc thực hiện những chính sách giải quyết việc làm cho thanh
niên từ thực tiễn Quận Ba Đình, từ đó là cơ sở tham khảo cho Quận hoàn

Ở Việt Nam, khái niệm việc làm đã được quy định tại Điều 13 của Bộ
luật lao động: “Mọi hoạt động lao động tạo ra nguồn thu nhập không bị pháp
luật cấm đều được thừa nhận là việc làm”. [10]
Khái niệm trên nói chung khá bao quát, nhưng chúng ta cũng thấy rõ
hai hạn chế cơ bản. Thứ nhất, hoạt động nội trợ không được coi là việc làm,
trong khi đó hoạt động nội trợ tạo ra các lợi ích phi vật chất và gián tiếp tạo ra
lợi ích vật chất không hề nhỏ.Thứ hai, khó có thể so sánh tỷ lệ người có việc
làm giữa các quốc gia với nhau vì quan niệm về việc làm giữa các quốc gia có
thể khác nhau, phụ thuộc vào luật pháp, phong tục tập quán. Có những nghề ở
quốc gia này thì được cho phép và được coi là việc làm, nhưng ở quốc gia

9


khác, ví dụ đánh bạc ở Việt Nam bị cấm, nhưng ở Thái Lan và Mỹ lại được
coi là một nghề. Thậm chí nghề này rất phát triển, vì nó thu hút khá đông tầng
lớp thượng lưu.Trong thời kỳ hội nhập và toàn cầu hóa hiện nay, Tổ chức lao
động quốc tế (ILO) còn khuyến cáo và đề cập tới việc làm nhân văn hay việc
làm bền vững.
1.1.1.2 Khái niệm giải quyết việc làm
Theo khái niệm việc làm nêu ở phần trên, việc làm là phạm trù để chỉ
trạng thái phù hợp giữa sức lao động và những điều kiện cần thiết (vốn, tư
liệu sản xuất, công nghệ...) để sử dụng sức lao động đó. Rõ ràng tạo được việc
làm cho người lao động hoặc tạo nhiều việc làm luôn gắn với quá trình phát
triển kinh tế xã hội, phát huy sức mạnh tiềm năng của con người, phát huy trí
tuệ người lao động để tạo ra nhiều của cải cho xã hội. Chính vì vậy, Văn kiện
Đại hội X của Đảng đã nêu rõ “Giải quyết việc làm là yếu tố quyết định để
phát huy nhân tố con người, ổn định và phát triển kinh tế, làm lành mạnh xã
hội, đáp ứng nguyện vọng chính đáng và yêu cầu bức xúc của nhân dân”. Vấn
đề giải quyết việc làm cho người lao động là cần thiết, không những mang

phục vụ cho các công trình sản xuất... Chính sách chính sách nhà nước tác
động toàn diện đến vấn đề giải quyết việc làm. Bên cạnh đó, các chương
trình, chiến lược phát triển, các hoạt động cụ thể của các doanh nghiệp tác
động trực tiếp đến giải quyết việc làm cho người lao động như đào tạo nguồn
lao động, tuyển dụng, bố trí sắp xếp lao động phù hợp năng lực và yêu cầu...
1.1.1.4 Khái niệm chính sách giải quyết việc làm cho thanh niên
- Khái niệm thanh niên
Thanh niên là một khái niệm có thể được hiểu và định nghĩa theo nhiều
cách. Tùy thuộc vào nội dung tiếp cận, góc độ nhìn nhận hoặc cấp độ đánh giá
mà người ta đưa ra các định nghĩa khác nhau về thanh niên.
Về mặt sinh học, các nhà nghiên cứu coi thanh niên là một giai đoạn

11


xác định trong quá trình “tiến hóa” của cơ thể. Các nhà tâm lý học thường
nhìn nhận thanh niên là một giai đoạn chuyển tiếp từ tuổi thơ phụ thuộc sang
hoạt động độc lập với tư cách là một công dân có trách nhiệm.
Còn theo Luật thanh niên do Quốc Hội ban hành ngày 29/11/2005 qui
định “Thanh niên quy định trong Luật này là công dân Việt Nam từ đủ mười
sáu tuổi đến ba mươi tuổi”, góc tiếp cận xác định độ tuổi để xác định một
người được gọi là thanh có quyền và nghĩa vụ sống và làm việc theo pháp luật
của NN Việt Nam qui định
- Khái niệm chính sách giải quyết việc làm cho thanh niên
Chính sách giải quyết việc làm cho thanh niên là một bộ phận của
chính sách giải quyết việc làm cho người lao động nói chung. Đặc biệt ở chỗ,
đối tượng của các chính sách này là dành cho thanh niên. Ở nước ta, căn cứ
Luật Thanh Niên số 53/2005/QH11, thanh niên là những người trong độ tuổi
từ đủ 16 tuổi đến 30 tuổi. Do đó, chính sách giải quyết việc làm cho thanh
niên là các biện pháp của Nhà nước tác động tới xã hội nhằm giải quyết các

quản lý nhà nước từ trung ương tới địa phương. Đặc biệt là một trong những
trung tâm chính trị, văn hóa, kinh tế hàng đầu của cả nước như quận Ba Đình ,
thì những mục tiêu nêu trên càng được Đảng, Nhà nước và nhân dân ta kỳ
vọng. Do đó trách nhiệm của chính quyền địa phương trong thực hiện chính
sách GQVL nhằm đáp ứng hai lý do chính như sau:
- Một là, GQVL là nội dung quan trong góp phần ổn định trật tự, an
toàn xã hội. Thật vậy, nhiều công trình khoa học đã chứng minh, những nơi
tội phạm gia tăng, tình hình mất trật tự xã hội xảy ra thường là những nơi
nghèo đói, tình trạng thất nghiệp tràn lan; hay nói theo cách dân gian ta ngày
xưa là: “nhàn cư, vi bất thiện”. Bên cạnh đó, trách nhiệm của chính quyền địa
phương là giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn, do
vậy, GQVL cho thanh niên là góp phần quan trọng để đạt mục tiêu trật tự, an
toàn xã hội.

13


- Hai là, GQVL là góp phần quan trọng trong phát triển kinh tế địa
phương, đây vừa là trách nhiệm vừa là mong muốn của mọi nhà nước nói
chung hay của chính quyền địa phương nói riêng. Trên cơ sở người dân nói
chung, hay thanh niên trong độ tuổi lao động được tạo công ăn việc làm, có
thu nhập ổn định thì mới tạo ra của cải, vật chất đóng góp cho xã hội nói
chung và ngân sách địa phương nói riêng. Cũng từ đó, nguồn ngân sách lại
được đầu tư cho cơ sở hạ tầng và các dịch vụ an sinh xã hội của chính địa
phương đó, qua đó góp phần nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của người
dân địa phương.
1.1.3 Nội dung chính sách giải quyết việc làm cho thanh niên
Giải quyết việc làm cho thanh niên là những nỗ lực của chính quyền địa
phương, các tổ chức chính trị xã hội, hiệp hội nghề nghiệp, các doanh nghiệp,
các chủ thể sử dụng lao động cùng chính nỗ lực của thanh niên nhằm tạo ra

hội, xóa đói giảm nghèo, giải quyết vấn đề thất nghiệp. Chất lượng nguồn lao
động là yếu tố then chốt quyết định sực phát triền kinh tế - xã hội của mỗi địa
phương. Một trong những minh chứng rõ nét nhất là đất nước Nhật Bản - một
quốc gia nghèo nàn về tài nguyên và gắn liền với nhiều thiên tai nhưng con
người nơi đây đã chăm chỉ và không ngừng sáng tạo để vượt qua những cản
trở của thiên nhiên để trở thành cường quốc kinh tế trên thế giới; là tấm
gương sáng cho các nước khác trên thế giới trong đó có Việt Nam. Một trong
những phương pháp giúp nâng cao chất lượng nguồn lao động là hệ thống
giáo dục của quốc gia nói chung và địa phương nói riêng phải hiện đại, phù
hợp với nhu cầu của nền kinh tế và phù hợp với đối tượng người học. Trong
hệ thống giáo dục của một quốc gia sẽ gồm nhiều cấp bậc khác nhau trong đó
đào tạo nghề là một khâu quan trọng và tác động rõ rệt đến chất lượng đội ngũ
lao động. Đào tạo nghề được xem như là giải pháp gắn với phát triển kinh tế xã hội, xóa đói giảm nghèo, giải quyết vấn đề thất nghiệp, thiếu việc làm cho
người lao động, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, nâng cao trình độ dân trí.

15


Hiện nay, đào tạo nghề không chỉ còn là trách nhiệm cá nhân của người
lao động mà còn là trách nhiệm chính của Nhà nước nói chung và địa phương
nói riêng. Bởi lẽ việc đào tạo nghề có phù hợp với nhu cầu sử dụng lao động
của xã hội hay không? Chất lượng đào tạo có đáp ứng với yêu cầu công việc
mà xã hội cần hay không? Đấy là trách nhiệm trong tổ chức, quản lý của Nhà
nước. Cụ thể hơn, việc đào tạo nghề đáp ứng đúng chất lượng, đúng số lượng
mà xã hội cần thì địa phương thực hiện tốt chính sách này sẽ gặp nhiều thuận
lợi trong ổn định an ninh xã hội và phát triển kinh tế của chính địa phương đó.
1.1.3.3 Thực hiện chính sách khuyến khích phát triển doanh nghiệp và thu hút
đầu tư trên địa bàn để tạo việc làm
Trong thời gian gần đây, Đảng và Nhà nước ta đã xác định cần chú
trọng phát triển “kinh tế tư nhân” xem kinh tế tư nhân là động lực quan trọng

trọng là chính quyền địa phương phải nghiêm túc thực hiện các chính sách
nêu trên, để tránh tình trạng “trên dải thảm, dưới dải đinh” như Thủ tướng
Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc đã từng đề cập.
1.1.3.4. Thực hiện chính sách xuất khẩu lao động
Trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay, có một thuật ngữ mới được đưa
ra đó là “công dân toàn cầu”, có thể hiểu theo nghĩa là khi một người có kiến
thức, kỹ năng, am hiểu các nền văn hóa thì có thể sinh sống và lao động ở các
quốc gia khác nhau mà mình mong muốn. Bên cạnh đó, nguồn việc làm trong
nước chưa đáp ứng kì vọng về số lượng của người lao động thì xuất khẩu lao
động là một trong những giải pháp tốt để giảm tỷ lệ thất nghiệp ở các quốc
gia. Trong những năm qua, số lượng người đi xuất khẩu lao động của nước ta
ngày càng gia tăng.Theo số liệu thống kê của Cục Quản lý Lao động Ngoài
nước, Bộ LĐTB & XH có khoảng 500.000 LĐVN đang làm việc tại hơn 40
quốc gia và vùng lãnh thổ, trong đó có những nước nhận số lượng lớn LĐVN
như: Đài Loan, Nhật Bản, Hàn Quốc.[16] Tuy nhiên, không chỉ cần tăng về số
lượng lao động được xuất khẩu đi nước ngoài làm việc, mà chất lượng tay

17


nghề cần gia tăng, bên cạnh đó các vấn đề về quyền lợi của người lao động ở
nước ngoài, việc tuân thủ, chấp hành pháp luật của nước ngoài và ý thức văn
hóa của người lao động Việt Nam tại nước ngoài là những vấn đề cần hoàn
thiện hơn nữa. Do đó, ngay từ khâu đào tạo, bồi dưỡng và quản lí nguồn lao
động trong nước là trách nhiệm của chính quyền địa phương nhằm hướng tới
mục tiêu tạo ra một nguồn lao động đảm bảo chất lượng, có văn hóa tốt để
đưa đi ra nước ngoài làm việc, từ đó đảm bảo cuộc sống ổn định cho người
lao động và cũng thu về các nguồn lợi từ người lao động đóng góp về cho đất
nước. Để thực hiện tốt chính sách xuất khẩu lao động, chính quyền địa
phương cần làm tốt hơn nữa từ công tác lập qui hoạch, kế hoạch, đào tạo

quản lý, tổ chức sản xuất của chủ thể sử dụng lao động và nâng cao trình độ
chuyên môn kỹ thuật của lao động trẻ là nhân tố quyết định sức sống vững
bền của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường.
- Số lượng, chất lượng lao động thanh niên
Số lượng lao động thanh niên là yếu tố đầu tiên để chính quyền địa
phương và doanh nghiệp dự báo có thể giải quyết được bao nhiêu việc làm
trong tổng lực lượng thanh niên đến độ tuổi lao động. Số lượng lao động
thanh niên chi phối đến giải quyết việc làm còn phải tính đến tỷ lệ thất nghiệp
ở thành phố và nông thôn. Theo tính toán của Bộ Lao động, Thương binh và
xã hội thì tình trạng thất nghiệp của thanh niên ở khu vực thành thị trong
những năm gần đây dao động từ 5-8%; trong đó, một số tỉnh, thành phố
thường có tỉ lệ thất nghiệp cao là Hà Nội, Hải Phòng, TP. Hồ Chí Minh, Cần
Thơ… Tình trạng thất nghiệp phụ thuộc rất nhiều vào cấp độ đào tạo và nhóm
ngành nghề đào tạo.Tại Hà Nội và TP.Hồ Chí Minh, số lượng sinh viên qua
đào tạo được tuyển dụng rất ít, trong khi số lượng đã tốt nghiệp ngày càng gia
tăng. Nhiều ngành đào tạo khó kiếm việc làm như nông, lâm, thuỷ sản …Điều
đó, cho thấy chất lượng lao động thanh niên là yếu tố chi phối mạnh nhất đến
khả năng giải quyết việc làm của xã hội.

19


Chất lượng lao động thanh niên là yếu tố then chốt mà người sử dụng lao
động dựa vào đó để tuyển dụng lao động. Do đó, phải nâng cao chất lượng giáo
dục hướng nghiệp, bồi dưỡng, đào tạo và đào tạo lại lực lượng lao động thanh
niên để nâng cao trình độ học vấn, chuyên môn kỹ thuật của lao động than
niên, đáp ứng tốt hơn cầu về lao động của các cơ sở sản xuất kinh doanh ở địa
phương. Ngoài các yếu tố trên, còn các yếu tố khác ảnh hưởng đến vấn đề giải
quyết việc làm như: trình độ kỹ năng, phẩm chất, tính kỷ luật lao động, sức
khoẻ, thể chất... của lao động thanh niên. Phong tục, tập quán, thói quen, trình

tục phân bổ lại dân cư và lao động trên địa bàn cả nước, tăng dân cư các địa
bàn có tính chiến lược về kinh tế, an ninh quốc phòng. Mở rộng kinh tế đối
ngoại, đẩy mạnh xuất khẩu.Giảm đáng kể tỷ lệ thất nghiệp ở thành thị và thiếu
việc làm ở nông thôn”.
- Sự nỗ lực của các chủ thể trong giải quyết việc làm
Đối với lực lượng lao động thanh niên: Cơ hội lựa chọn việc làm ngày
càng được mở rộng. Người lao động đã chủ động tự tìm việc trong bối cảnh
các thành phần kinh tế đa dạng như hiện nay và giảm bớt sự thụ động chờ vào
sắp xếp việc làm của Nhà nước. Người lao động có xu hướng tìm việc phù
hợp với năng lực cũng như theo các mong muốn khác về việc làm (ví dụ như
muốn làm việc trong môi trường năng động, sáng tạo hay trong môi trường ít
áp lực, hay trong môi trường có điều kiện làm việc tốt v.v...).
Đối với người sử dụng lao động trong các thành phần kinh tế: Họ được
khuyến khích làm giàu hợp pháp cho nên một khi các thành phần kinh tế được
quan tâm phát triển, nghĩa là các doanh nghiệp, tổ chức kinh tế có điều kiện
đẩy mạnh đầu tư sản xuất kinh doanh sẽ tạo nhiều việc làm cho người lao động.
Các chủ thể của thành phần kinh tế ngoài kinh tế nhà nước và kinh tế tập thể,
được tự do tổ chức sản xuất kinh doanh những ngành nghề mà pháp luật không
cấm, mở ra khả năng to lớn giải quyết việc làm cho lao động thanh niên.
Đối với Nhà nước: Vai trò, trách nhiệm của Nhà nước chi phối mạnh mẽ

21


đến giải quyết việc làm, nhất là trong điều kiện cơ chế thị trường. Hiện nay,
thay vì bao cấp trong giải quyết việc làm, nhà nước tập trung vào việc tạo ra cơ
chế, chính sách thông thoáng, tạo hành lang pháp luật, xóa bỏ hàng rào về hành
chính tạo điều kiện môi trường kinh tế, pháp luật đảm bảo cho mọi người được
tự do đầu tư phát triển sản xuất, tạo thêm việc làm, tự do hành nghề, hợp tác và
thuê mướn lao động, cơ hội việc làm được tăng lên và ít bị ràng buộc bởi các

doanh nghiệp này vào một khu vực riêng. Trong bối cảnh lúc đó của một nền
kinh tế thiếu công việc và thu nhập, tăng sức mua trong nông thôn và cung
cấp những mặt hàng cần thiết. Cụ thể số lao động trong các doanh nghiệp này
đã tăng từ 28 triệu năm 1978 đến 135 triệu của năm 1996.
Chính phủ Trung Quốc có chính sách hỗ trợ, phát triển hệ thống các
lớp, cơ sở dạy nghề nhằm đáp ứng cho phát triển doanh nghiệp hương
trấn.Đồng thời, khuyến khích các doanh nghiệp hương trấn mở các lớp dạy
nghề bên cạnh doanh nghiệp để đào tạo lao động. Doanh nghiệp hương trấn
đã sử dụng những người lao động ở nông thôn có chuyên môn, dám nghĩ, dám
làm, trưởng thành từ thực tiễn để đào tạo tay nghề cho những người vừa tốt
nghiệp các cấp.
Chính phủ Trung Quốc có chính sách khuyến khích các cơ sở đào tạo,
dạy nghề, tích cực đào tạo nhân lực chuyên môn kỹ thuật cho các khu vực đô
thị hóa nhanh như Thẩm Quyến, ngoại thành Bắc Kinh, Thượng Hải. để tạo
điều kiện cho lao động ở nông thôn chuyển sang làm việc tại các doanh
nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, khu công nghiệp tập trung, khu chế xuất,
các cụm kinh tế mở. Các thành phố mới phát triển của Trung Quốc có tốc độ
tăng trưởng kinh tế rất cao (30- 35%/năm) nên thu hút một lượng lao động
nông thôn rất lớn vào các ngành công nghiệp và dịch vụ. Trong khi đó, nguồn
lao động ở nông thôn dồi dào, có trình độ văn hóa khá cao, vì vậy, đào tạo lao
động ở nông thôn để đáp ứng nhu cầu sử dụng của các vùng đô thị hóa nhanh,
ngành mới phát triển mạnh như điện tử, công nghiệp lắp ráp, chế tạo, chế biến

23


thực phẩm, vật liệu xây dựng, ngành sắt thép. được chính phủ và chính quyền
các địa phương rất quan tâm.
1.2.1.2. Kinh nghiệm của Nhật Bản [18]
Nhật Bản coi nguồn nhân lực là yếu tố quyết định tương lai của đất

đào tạo toàn bộ tại trường hoặc hệ thống đào tạo nghề kép.Hiện nay, 2/3 học
sinh trong nhóm độ tuổi này đã chọn hình thức đào tạo nghề kép.Tiêu chuẩn
được lựa chọn vào hệ thống đào tạo nghề kép phụ thuộc vào chất lượng học
nghề của học sinh.
Các học sinh tham gia hệ thống này, được dậy các kỹ năng cơ bản cho
ngành nghề đã chọn và sau đó được đào tạo chuyên sâu. Học sinh có thể theo
học ngành của mình 3 ngày tại công ty, những ngày còn lại học tại trường
nghề hoặc học sinh có thể sử dụng nhiều thời gian hơn tại công ty, và cũng có
thể tham gia học ngoài giờ tại trường nghề. Hiện nay, trong chương trình học
của hệ thống đào tạo nghề kép thì các môn chuyên ngành chiếm 60% và các
môn phổ thông chiếm 40%.
Tên mô hình đào tạo nghề kép còn gắn liền với cơ chế quản lý hệ thống
đào tạo nghề ở Đức. Chẳng hạn, Chính quyền Bang chịu trách nhiệm quản lý
trường nghề và Chính phủ Liên bang chịu trách nhiệm quản lý đào tạo nghề
tại công ty. Việc dạy nghề tại công ty đều do các công ty trực tiếp tổ chức,
song việc kiểm soát lại do Công đoàn cùng với sự tham gia của các quan sát
viên và hội đồng công nhân tại công ty thực hiện. Trên thực tế, công đoàn
tham gia vào mọi công đoạn của hệ thống đào tạo kép trong công ty, từ quá
trình lựa chọn học sinh cho đến duy trì một chương trình học hiện đại, kiểm
soát chất lượng và bảo vệ công nhân khỏi nguy cơ như bị trả lương thấp hoặc
không được đào tạo đầy đủ.
Hệ thống đào tạo nghề kép được điều chỉnh bởi nhu cầu cung cấp vị trí
đào tạo của các công ty. Các công ty là người quyết định số lượng công nhân

25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status