VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
ĐOÀN KIM THANH
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM
CHO THANH NIÊN TỪ THỰC TIỄN QUẬN BA ĐÌNH,
THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Ngành: Chính sách công
Mã số: 834 04 02
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS BÙI NHẬT QUANG
HÀ NỘI, 2018
1
1. Tính cấp thiết của đề tài
MỞ ĐẦU
Giải quyết việc làm luôn là chủ để nóng không những chỉ riêng ở Việt
Nam mà còn là vấn đề chung của nhiều quốc gia trên thế giới, trong đó có cả
những nước phát triển. Theo Báo cáo của Cơ quan thống kê Hàn Quốc trong
tháng 9 năm 2017 cho thấy tỉ lệ thất nghiệp của nhóm thanh niên tăng cao
nhất trong 18 năm qua.Tỉ lệ thất nghiệp của thanh niên Hàn Quốc độ tuổi từ
15 đến 29 hiện ở mức 8%, gấp đôi tỉ lệ thất nghiệp trung bình của cả nước. Ở
xứ sở kim chi, một việc làm ổn định không chỉ là "cần câu cơm" mà còn là
trong thanh niên vẫn gia tăng. Theo thống kê của Bộ Lao động - Thương binh
và Xã hội, tỷ lệ thanh niên trong độ tuổi lao động thiếu việc làm tăng từ 3%
(năm 2008) lên 5,6% (năm 2009) và 4,1% (năm 2010), trong đó khu vực
thành thị là 2%; khu vực nông thôn là 4,9%.
Tình trạng thất nghiệp cũng có xu hướng tăng mạnh, tập trung chủ yếu
ở nhóm thanh niên đô thị. Tỷ lệ thanh niên thất nghiệp chiếm 4,2% (năm
2008); 4,1% (năm 2009) và tăng lên 5,2% (năm 2010), trong đó ở khu vực đô
thị là 7,8%, cao gần gấp hai lần nông thôn (4,3%).
Số đối tượng hưởng trợ cấp thất nghiệp ở nhóm thanh niên cũng chiếm
tỷ lệ khá cao. Trong số những người hưởng trợ cấp thất nghiệp hằng tháng thì
số người ở độ tuổi dưới 24 là 12.275 người (chiếm 24,5%); từ 25 - 40 tuổi là
31.366 người (chiếm 62,7%); trên 40 tuổi là 6.416 người (chiếm 12,8%) [2].
Trước tình hình đó, Đảng và Nhà nước ta đã chú trọng, đẩy mạnh giải
quyết việc làm, trong đó có giải quyết việc làm ch o thanh niên.Cụ thể tại Nghị
quyết số 25-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa X) về tăng
cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác thanh niên thời kỳ đẩy mạnh
công nghiệp hóa, hiện đại hóa, việc triển khai các hoạt động nhằm nâng cao
chất lượng lao động trẻ, giải quyết việc làm, tăng thu nhập và cải thiện đời
sống cho thanh niên đã được các cấp ủy đảng, chính quyền, đoàn thể địa
phương quan tâm thực hiện với nhiều hình thức khác nhau. Tuy nhiên trên
3
thực tế, sự nhìn nhận, đánh giá của cán bộ đảng, chính quyền, đoàn thể và
thanh niên địa phương về hiệu quả đạt được của các hoạt động này còn nhiều
hạn chế, chưa đáp ứng được những đòi hỏi của thanh niên.
Nhận thấy tính cấp thiết của vấn đề nêu trên, là học viên cao học
chuyên ngành Chính sách công và hiện đang công tác tại Ủy ban nhân dân
thanh niên.
2.2 Các công trình nghiên cứu trong nước
2.2.1 Các công trình nghiên cứu tổng quan về chính sách giải quyết việc làm
Tác giả Đỗ Thị Xuân Phượng với đề tài: “Phát triển thị trường sức lao
động, giải quyết việc làm qua thực tế ở Hà Nội” (2005), [9], luận án tiến sĩ
kinh tế đã đi từ thực trạng việc làm của lao động ở Hà Nội, các vấn đề nảy sinh
để khái quát thành giải pháp, biện pháp khắc phục. Tác giả đã khái quát thực tế
từ thị trường sức lao động và việc làm ở Hà Nội để đánh giá về vấn đề giải
quyết việc làm cho người lao động ở Hà Nội, bởi lẽ thủ đô Hà Nội là trung tâm
văn hóa - kinh tế - chính trị của cả nước, nơi tập trung nhiều lao động từ các
tỉnh, thành phố khác nên thị trường sức lao động ở Hà Nội có diễn biến khá
phức tạp về số lượng, chất lượng, cơ cấu, thành phần.
2.2.2 Các công trình nghiên cứu về chính sách hỗ trợ doanh nghiệp, khuyến
khích đầu tư nhằm tạo việc làm
Phạm Thị Kim Thư với luận văn thạc sỹ “Quản lý nhà nước đối với
doanh nghiệp vừa và nhỏ trên địa bàn thành phố Hà Nội”. (2014) [14], Luận
văn đã phân tích và đánh giá thực trạng công tác quản lý nhà nước đối với
doanh nghiệp trên địa bàn thành phố Hà Nội, từ đó đưa ra những giải pháp
hoàn thiện công tác này.Đây là công trình khá toàn diện không chỉ nghiên
cứu, đánh giá và đưa ra giải pháp về việc thực thi chính sách, mà còn các hoạt
động khác của QLNN như xây dựng các văn bản pháp quy, kiểm tra, giám sát
hoạt động của doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Hà Nội; điều này góp phần phát
triển doanh nghiệp một cách bền vững.
2.2.3 Các công trình nghiên cứu về chính sách tín dụng
Ngô Quỳnh An với luận án tiến sĩ “Tăng cường khả năng tự tạo việc làm
cho thanh niên Việt Nam” bảo vệ năm 2012 tại trường đại học KTQD, [1], đã
5
làm cho thanh niên từ thực tiễn của Quận Ba Đình, để từ đó đưa ra phương
hướng, giải pháp hoàn thiện công tác quản lý nhà nước về lao động của Quận nói
6
chung và cụ thể là việc thực hiện chính sách giải quyết việc làm cho thanh niên.
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hóa cơ sở khoa học về chính sách giải quyết việc làm cho
thanh niên
- Nghiên cứu, đánh giá thực trạng việc thực hiện chính sách giải quyết
việc làm cho thanh niên của Quận Ba Đình, thành phố Hà Nội
- Đưa ra phương hướng, giải pháp hoàn thiện việc thực hiện chính sách
giải quyết việc làm cho thanh niên của Quận Ba Đình, thành phố Hà Nội
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu: Việc thực hiện chính sách giải quyết việc
làm cho thanh niên
4.2 Phạm vi nghiên cứu:
- Phạm vi không gian: Quận Ba Đình, thành phố Hà Nội
- Phạm vi thời gian: 2015-2018
- Phạm vi về nội dung: luận văn không tập trung nghiên cứu về thất
nghiệp và các nghiên cứu định lượng nhằm đo lường mức độ giảm tỷ lệ thất
nghiệp hay giải quyết được bao nhiêu việc làm cho người lao động. Luận văn
tập trung nghiên cứu, đánh giá hoạt động của chính quyền Quận Ba Đình
trong việc thực hiện chính sách giải quyết việc làm từ khi thực hiện chức
năng, nhiệm vụ, quyền hạn theo Luật Tổ chức chính quyền địa phương có
hiệu lực từ năm 2015.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Chương 1
CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA CHÍNH SÁCH GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM
CHO THANH NIÊN
1.1 Cơ sở lý luận về chính sách giải quyết việc làm cho thanh niên
1.1.1 Một số khái niệm
1.1.1.1 Khái niệm việc làm
Đứng trên các góc độ nghiên cứu khác nhau, người ta đã đưa ra rất
nhiều định nghĩa nhằm sáng tỏ khái niệm việc làm. Và ở các quốc gia khác
nhau, do ảnh hưởng của nhiều yếu tố như điều kiện kinh tế, chính trị, luật
pháp… người ta quan niệm về việc làm cũng khác nhau. Chính vì thế, không
có một định nghĩa chung và khái quát nhất về việc làm.
Có thể hiểu, việc làm là một phạm trù tồn tại khách quan trong nền sản
xuất xã hội, phụ thuộc vào các điều kiện hiện có của nền sản xuất. Người lao
động được coi là có việc làm khi chiếm giữ một vị trí nhất định trong hệ
thống sản xuất của xã hội. Nhờ có việc làm mà người lao động mới thực hiện
được quá trình lao động tạo ra sản phẩm cho xã hội, cho bản thân.
Ở Việt Nam, khái niệm việc làm đã được quy định tại Điều 13 của Bộ
luật lao động: “Mọi hoạt động lao động tạo ra nguồn thu nhập không bị pháp
luật cấm đều được thừa nhận là việc làm”. [10]
Khái niệm trên nói chung khá bao quát, nhưng chúng ta cũng thấy rõ
hai hạn chế cơ bản. Thứ nhất, hoạt động nội trợ không được coi là việc làm,
trong khi đó hoạt động nội trợ tạo ra các lợi ích phi vật chất và gián tiếp tạo ra
lợi ích vật chất không hề nhỏ.Thứ hai, khó có thể so sánh tỷ lệ người có việc
làm giữa các quốc gia với nhau vì quan niệm về việc làm giữa các quốc gia có
thể khác nhau, phụ thuộc vào luật pháp, phong tục tập quán. Có những nghề ở
quốc gia này thì được cho phép và được coi là việc làm, nhưng ở quốc gia
10
Luận văn đầy đủ ở file: Luận văn Full