BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƢ PHÁP
TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
------------------
VŨ THỊ THANH HƢƠNG
ĐĂNG KÝ DOANH NGHIỆP QUA MẠNG ĐIỆN TỬ THEO
PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN
TẠI SỞ KẾ HOẠCH VÀ ĐẦU TƢ THÀNH PHỐ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI – NĂM 2017
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƢ PHÁP
TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
------------------
VŨ THỊ THANH HƢƠNG
ĐĂNG KÝ DOANH NGHIỆP QUA MẠNG ĐIỆN TỬ THEO
PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN
TẠI SỞ KẾ HOẠCH VÀ ĐẦU TƢ THÀNH PHỐ HÀ NỘI
GCNĐKDN
Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp
KH&ĐT
Kế hoạch và Đầu tƣ
TP
Thành phố
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ............................................................................................................... 1
Chƣơng 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ ĐĂNG KÝ DOANH NGHIỆP
QUA MẠNG ĐIỆN TỬ VÀ PHÁP LUẬT VỀ ĐĂNG KÝ DOANH NGHIỆP
QUA MẠNG ĐIỆN TỬ ..................................................................................... 7
1.1. Những vấn đề chung về đăng ký doanh nghiệp qua mạng điện tử ........... 7
1.1.1. Khái niệm và ý nghĩa của đăng ký doanh nghiệp............................... 7
1.1.2. Khái niệm và đặc điểm của đăng ký doanh nghiệp qua mạng điện tử13
1.1.2.1. Khái niệm đăng ký doanh nghiệp qua mạng điện tử ........................ 13
1.2. Pháp luật Việt Nam về đăng ký doanh nghiệp qua mạng điện tử ........... 16
1.2.1. Khái quát quá trình hình thành, phát triển của pháp luật Việt Nam về
đăng ký doanh nghiệp qua mạng điện tử ....................................................... 16
1.2.2. Quy định pháp luật hiện hành về đăng ký doanh nghiệp qua mạng
điện tử............. ............................................................................................... 21
1.2.2.1. Loại thủ tục đăng ký doanh nghiệp đƣợc áp dụng phƣơng thức
đăng ký doanh nghiệp qua mạng điện tử.................................................... 21
2.3.4. Sở Kế hoạch và Đầu tƣ thành phố Hà Nội tích cực thực hiện giải
pháp nâng cao nhận thức của ngƣời dân, doanh nghiệp về ƣu điểm của
phƣơng thức đăng ký doanh nghiệp qua mạng điện tử ................................. 51
2.4. Những hạn chế trong thực tiễn thi hành pháp luật về đăng ký doanh
nghiệp qua mạng điện tử tại Sở Kế hoạch và Đầu tƣ thành phố Hà Nội.......... 52
2.4.1. Thủ tục đăng ký doanh nghiệp qua mạng điện tử vẫn còn tƣơng đối
phức tạp.......................................................................................................... 52
2.4.2. Cổng thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp hoạt động không
ổn định, thƣờng xuyên quá tải ....................................................................... 54
2.4.2. Ngƣời dùng chƣa thành thạo các thao tác kỹ thuật khi sử dụng Hệ
thống đăng ký doanh nghiệp qua mạng điện tử ............................................. 55
2.4.3. Thời gian giải quyết Hồ sơ đăng ký doanh nghiệp qua mạng điện tử
còn kéo dài ..................................................................................................... 56
KẾT LUẬN CHƢƠNG 2 ................................................................................. 58
Chƣơng 3.GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC THI PHÁP LUẬT
VỀ ĐĂNG KÝ DOANH NGHIỆP QUA MẠNG ĐIỆN TỬ .......................... 59
3.1. Sự cần thiết nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về đăng ký doanh
nghiệp qua mạng điện tử ................................................................................... 59
3.2. Những giải pháp cụ thể nhằm nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về
đăng ký doanh nghiệp qua mạng điện tử .......................................................... 61
3.2.1. Những giải pháp áp dụng chung cho cả nƣớc .................................. 61
3.2.1.1. Nâng cấp Cổng thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp ... 61
3.2.1.2. Đơn giản hóa quy trình đăng ký doanh nghiệp qua mạng điện tử64
3.2.1.3. Tăng cƣờng các hình thức hỗ trợ, hƣớng dẫn, tuyên truyền về
đăng ký doanh nghiệp qua mạng điện tử.................................................... 65
3.2.1.4. Cải tiến phƣơng thức thanh toán phí, lệ phí khi đăng ký doanh
nghiệp qua mạng điện tử ............................................................................ 66
3.2.2. Giải pháp áp dụng cho Thành phố Hà Nội ....................................... 67
đó là đẩy mạnh triển khai đăng ký doanh nghiệp qua mạng điện tử - xu hƣớng tất
yếu của đăng ký doanh nghiệp. Tại Việt Nam, đăng ký doanh nghiệp qua mạng điện
tử đã đƣợc triển khai từ năm 2013, tuy nhiên kết quả áp dụng chƣa đạt đƣợc nhƣ kỳ
vọng bởi nhiều nguyên nhân khác nhau. Sự ra đời của Luật Doanh nghiệp năm 2014
(có hiệu lực từ 1/7/2015) cùng những văn bản thi hành với những quy định mới về
đăng ký doanh nghiệp đã, đang và sẽ tạo cơ sở pháp lý vững chắc thúc đẩy hoạt
động đăng ký doanh nghiệp qua mạng điện tử. Bởi vậy, thực hiện nghiên cứu, tìm
hiểu và đánh giá công tác thực thi quy định pháp luật hiện hành về đăng ký doanh
nghiệp qua mạng điện tử tại Việt Nam là hết sức cần thiết trong thời điểm hiện tại
và tƣơng lai.
Hà Nội là một trong những thành phố lớn của Việt Nam. Với lợi thế vƣợt trội
về vị thế Thủ đô, cơ sở hạ tầng kỹ thuật khá đồng bộ và hiện đại, nhiều cơ quan đầu
mối và cơ sở giao thông quốc tế, đƣợc Nhà nƣớc đặc biệt quan tâm hỗ trợ toàn diện,
với nhiều không gian chính sách và cơ chế đặc thù về kinh tế, tài chính, nên hoạt
động đăng ký doanh nghiệp luôn diễn ra sôi động hơn so với các địa phƣơng khác
trong cả nƣớc. Trong thời gian gần đây, cải cách công tác đăng ký doanh nghiệp nói
chung và đẩy mạnh đăng ký doanh nghiệp qua mạng điện tử nói riêng đƣợc xem là
những mục tiêu then chốt của thành phố Hà Nội, mà cụ thể là Sở Kế hoạch và Đầu
2
tƣ thành phố Hà Nội. Để thực hiện các mục tiêu đó, song song với việc triển khai
hiệu quả pháp luật doanh nghiệp, chính quyền Thủ đô đã ban hành nhiều giải pháp,
chính sách đồng bộ, quyết liệt nằm mục đích tăng tỷ lệ doanh nghiệp đăng ký qua
mạng điện tử tại thành phố Hà Nội trong thời gian tới. Thực tế cho thấy, trong quá
trình thực hiện công tác đẩy mạnh đăng ký doanh nghiệp qua mạng điện tử, Sở Kế
hoạch và Đầu tƣ thành phố Hà Nội đã gặp không ít khó khăn, vƣớng mắc, ảnh
hƣởng tới tiến độ thực hiện mục tiêu sớm đạt tỷ lệ 100% hồ sơ đăng ký doanh
nghiệp qua mạng điện tử của Thủ đô. Bởi vậy, tìm hiểu về thực tiễn áp dụng quy
học nghiên cứu chuyên sâu về vấn đề “Đăng ký doanh nghiệp qua mạng điện tử”.
Những bài viết về vấn đề này chủ yếu đề cập tới nội dung: Hƣớng dẫn thủ tục đăng
ký thành lập/thay đổi đăng ký kinh doanh qua mạng điện tử. Qua quá trình tìm hiểu,
độc giả có thể tìm thấy một số bài viết về một trong số những nội dung liên quan
đến đăng ký doanh nghiệp qua mạng điện tử nhƣ: Lê Thu Hƣơng (2016), “Tình
hình triển khai đăng ký doanh nghiệp qua mạng điện tử trên toàn quốc”, Cổng thông
tin
quốc
gia
về
đăng
ký
doanh
/>
nghiệp,
tại
địa
chỉ:
2715/Tình-hình-triển-khai-
tử. Trong khuôn khổ của luận văn thạc sĩ, tác giả tập trung nghiên cứu quy định
4
pháp luật hiện hành về đăng ký doanh nghiệp qua mạng điện tử, bao gồm: Đăng ký
thành lập doanh nghiệp qua mạng điện tử, đăng ký thay đổi nội dung đăng ký doanh
nghiệp qua mạng điện tử và các nghĩa vụ đăng ký, thông báo khác theo quy định
của pháp luật qua mạng điện tử. Bên cạnh đó, luận văn tập trung nghiên cứu thực
tiễn áp dụng các quy định pháp luật trên tại Sở Kế hoạch và Đầu tƣ thành phố Hà
Nội, đánh giá thành tựu, những hạn chế trong thực trạng thi hành và đề xuất giải
pháp khắc phục những hạn chế đó.
4.
Mục tiêu nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
Luận văn hƣớng tới làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về đăng ký doanh
nghiệp qua mạng điện tử theo quy định pháp luật hiện hành và thực tiễn thi hành tại
Sở Kế hoạch và Đầu tƣ thành phố Hà Nội, qua đó đƣa đến cho độc giả cái nhìn rõ
nét về vấn đề này.
Để đạt đƣợc mục tiêu trên, luận văn tập trung giải quyết các nhiệm vụ sau:
- Làm rõ các khái niệm cơ bản về đăng ký kinh doanh, đăng ký doanh
nghiệp, đăng ký doanh nghiệp qua mạng điện tử;
- Nghiên cứu, làm rõ và hệ thống hóa quy định pháp luật hiện hành điều
chỉnh hoạt động đăng ký doanh nghiệp qua mạng điện tử tại Việt Nam;
- Đánh giá ƣu điểm, nhƣợc điểm của hoạt động đăng ký doanh nghiệp qua
mạng điện tử so với hoạt động ĐKDN trực tiếp;
- Trình bày, phân tích những thành tựu, những hạn chế trong thực tiễn thi
hành quy định pháp luật về ĐKDN qua mạng điện tử tại Sở Kế hoạch và Đầu tƣ
thành phố Hà Nội;
Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn
Luận văn là công trình nghiên cứu chuyên sâu đầu tiên tại Việt Nam về vấn
đề đăng ký doanh nghiệp qua mạng điện tử. Những nội dung về chủ thể, hồ sơ, thủ
tục đăng ký doanh nghiệp qua mạng điện tử sẽ đƣợc tác giả đi sâu phân tích cụ thể,
qua đó giúp độc giả có cái nhìn toàn diện về vấn đề này.
Bên cạnh đó, đề tài đƣợc nghiên cứu trong bối cảnh hoạt động đăng ký
doanh nghiệp qua mạng điện tử đang đƣợc đẩy mạnh trên cả nƣớc. Với quyết tâm
nâng cao tỷ lệ doanh nghiệp thực hiện đăng ký doanh nghiệp qua mạng điện tử theo
nhiệm vụ mà Chính phủ đã giao tại Nghị quyết số 36a/NQ-CP ngày 14/10/2015 về
Chính phủ điện tử, trong thời gian qua, Bộ Kế hoạch và Đầu tƣ đã ban hành các
Công văn hƣớng dẫn cũng nhƣ phối hợp với các cơ quan có liên quan để triển khai
nhiều giải pháp tích cực nhằm đẩy mạnh áp dụng phƣơng thức đăng ký qua mạng
điện tử. Đặc biệt, tại Sở Kế hoạch và Đầu tƣ thành phố Hà Nội, công tác thực hiện
đăng ký doanh nghiệp qua mạng điện tử luôn nhận đƣợc sự quan tâm của cơ quan
đăng ký kinh doanh và toàn thể chính quyền Thủ đô, hƣớng tới mục tiêu thực hiện
100% đăng ký doanh nghiệp qua mạng điện tử. Xuất phát từ thực tiễn đó, luận văn
đã phân tích hoạt động đăng ký doanh nghiệp qua mạng điện tử tại Sở Kế hoạch và
6
Đầu tƣ thành phố Hà Nội, tìm ra những hạn chế trong quá trình áp dụng quy định
pháp luật và thực hiện chính sách của Nhà nƣớc, từ đó đề xuất các giải pháp mang
tính khả thi nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động đăng ký doanh nghiệp qua mạng
điện tử tại Sở Kế hoạch và Đầu tƣ thành phố Hà Nội nói riêng và ở Việt Nam nói
chung.
7.
Bố cục của luận văn
lập và vận hành doanh nghiệp hoặc không thành lập và vận hành doanh nghiệp. Tuy
nhiên dù hoạt động kinh doanh dƣới hình thức nào, hoạt động kinh doanh luôn cần
đặt trong khuôn khổ kiểm soát của pháp luật và sự quản lý của cơ quan nhà nƣớc.
Đó cũng chính là nguyên nhân xuất hiện khái niệm đăng ký doanh nghiệp.
Theo định nghĩa tại Từ điển Tiếng Việt, “đăng ký” đƣợc hiểu là “ghi vào sổ
của cơ quan quản lý để chính thức đƣợc công nhận cho hƣởng quyền lợi hay làm
nghĩa vụ”2; “doanh nghiệp” đƣợc hiểu là “đơn vị hoạt động kinh doanh, cơ sở sản
xuất”3. Theo đó “đăng ký doanh nghiệp” đƣợc hiểu là hoạt động “ghi vào sổ của cơ
quan quản lý để đơn vị hoạt động kinh doanh, cơ sở sản xuất chính thức đƣợc công
nhận cho hƣởng quyền lợi hay làm nghĩa vụ”. Phân tích nghĩa các từ cấu thành theo
từ điển nhƣ trên đã phần nào giúp ngƣời đọc hiểu về khái niệm “đăng ký doanh
nghiệp”. Tuy nhiên, cách hiểu đó chỉ là về mặt hình thức ngôn từ mà chƣa chứa
đựng những nội dung hàm chứa trong khái niệm này.
Về mặt pháp lý, quy định pháp luật Việt Nam chƣa đề cập đến khái niệm
“đăng ký”, nhƣng khái niệm “doanh nghiệp” đã đƣợc quy định cụ thể ngay từ Luật
Công ty năm 1990 nhƣ sau: “Doanh nghiệp” là đơn vị kinh doanh được thành lập
1
Điều 33 Hiến pháp năm 2013
Giáo sƣ Hoàng Phê (chủ biên, 2003), Từ điển Tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng.
3
Từ điển điện tử Cồ Việt, tại: ngày truy cập:
22/5/2017
2
8
nhằm mục đích chủ yếu là thực hiện các hoạt động kinh doanh”4. Theo đó, bản chất
“kinh doanh” của doanh nghiệp đã đƣợc thể hiện qua khái niệm trên. Tuy nhiên,
Khoản 7, Điều 4 Luật Doanh nghiệp năm 2014.
7
Khoản 1, Điều 3 Nghị định 43/2010/NĐ-CP về Đăng ký doanh nghiệp
5
9
Xuất phát từ mục đích khắc phục những hạn chế trên, Nghị định
78/2015/NĐ-CP ngày 14/09/2015 của Chính phủ về Đăng ký doanh nghiệp đã quy
định về khái niệm “đăng ký doanh nghiệp” tại Khoản 1, Điều 3 nhƣ sau:
Đăng ký doanh nghiệp là việc ngƣời thành lập doanh nghiệp đăng ký
thông tin về doanh nghiệp dự kiến thành lập, doanh nghiệp đăng ký những
thay đổi hoặc dự kiến thay đổi trong thông tin về đăng ký doanh nghiệp với
cơ quan đăng ký kinh doanh và đƣợc lƣu giữ tại Cơ sở dữ liệu quốc gia về
đăng ký doanh nghiệp. Đăng ký doanh nghiệp bao gồm đăng ký thành lập
doanh nghiệp, đăng ký thay đổi nội dung đăng ký doanh nghiệp và các nghĩa
vụ đăng ký, thông báo khác theo quy định của Nghị định này.
Mặc dù khái niệm “đăng ký doanh nghiệp” theo quy định trên vẫn đƣợc đề
cập dƣới hình thức liệt kê nhƣng đã giúp ngƣời đọc hình dung cụ thể, chính xác
những vấn đề pháp lý đƣợc bao hàm trong khái niệm, qua đó xác định đƣợc phạm vi
và các thủ tục pháp lý cần thực hiện nhằm đảm bảo tuân thủ quy định pháp luật.
Khi nghiên cứu về khái niệm “đăng ký doanh nghiệp”, tác giả nhận thấy cần
thiết phân biệt khái niệm trên với khái niệm “đăng ký kinh doanh”, nhằm đem đến
cho ngƣời đọc cái nhìn rõ nét về vấn đề này. Tại Việt Nam, cụm từ “đăng ký kinh
doanh” đƣợc đề cập đến từ những văn bản pháp luật đầu tiên về hoạt động kinh
doanh, đó là Luật Công ty năm 1990 và Luật Doanh nghiệp tƣ nhân năm 1990, Luật
Doanh nghiệp năm 1999. Tuy nhiên trong tất cả các văn bản pháp luật từ thời điểm
năm 1990 đến nay không có quy định về khái niệm “đăng ký kinh doanh”. Qua quá
trình nghiên cứu các quy định pháp luật Việt Nam và thực tiễn áp dụng pháp luật về
Ngày 15/4/2010, Nghị định 43/2010/NĐ-CP về Đăng ký doanh nghiệp đƣợc
ban hành và bắt đầu có hiệu lực từ ngày 1/6/2010 đã đề cập tới cụm từ “đăng ký
kinh doanh” trong nội dung khái niệm “đăng ký doanh nghiệp” nhƣ sau: “Đăng ký
doanh nghiệp quy định tại Nghị định này bao gồm nội dung về đăng ký kinh doanh
và đăng ký thuế đối với các loại hình doanh nghiệp thành lập theo quy định của
Luật Doanh nghiệp. Đăng ký doanh nghiệp bao gồm đăng ký thành lập mới doanh
nghiệp và đăng ký thay đổi nội dung đăng ký doanh nghiệp”12. Quy định tại Nghị
định 43/2010/NĐ-CP nhƣ trên sẽ dẫn đến cách hiểu: “đăng ký kinh doanh” là một
9
Theo quy định tại Điều 17 Luật Công ty 1990, Điều 11 Luật Doanh nghiệp tƣ nhân 1990, mục I Thông tƣ 07TT/ĐKKD ngày 29/07/1991 hƣớng dẫn thực hiện đăng ký kinh doanh do Trọng tài Kinh tế Nhà nƣớc ban hành: Doanh
nghiệp (bao gồm doanh nghiệp tƣ nhân, công ty TNHH và CTCP) phải đăng ký kinh doanh sau khi đƣợc cấp giấy phép
thành lập để đƣợc cấp GCNĐKKD, đƣợc thừa nhận về tƣ cách pháp lý và thiết lập các quan hệ kinh tế.
10
Chƣơng 5 Nghị định 109/2004/NĐ-CP ngày 2/4/2004 về Đăng ký kinh doanh, Chƣơng IV Nghị định 88/2006/NĐ-CP
ngày 29/8/2006 về Đăng ký kinh doanh
11
Chƣơng V Nghị định 88/2006/NĐ-CP ngày 29/8/2006 về Đăng ký kinh doanh
12
Khoản 1 Điều 3 Nghị định 43/2010/NĐ-CP ngày 15/4/2010 về Đăng ký doanh nghiệp
11
nội dung của “đăng ký doanh nghiệp”. Trong khi đó, Nghị định 43/2010/NĐ-CP
cũng quy định về thủ tục đăng ký kinh doanh đối với Hộ kinh doanh.
Nhằm khắc phục hạn chế trên, Luật doanh nghiệp 2014 và Nghị định
78/2015/NĐ-CP đƣợc ban hành quy định rõ khái niệm “đăng ký doanh nghiệp” bao
gồm đăng ký thành lập doanh nghiệp và đăng ký thay đổi nội dung đăng ký doanh
12
Đăng ký doanh nghiệp là thủ tục pháp lý bắt buộc và có ý nghĩa quan trọng
đối với các chủ thể hoạt động kinh doanh. Bên cạnh đó, thông qua ĐKDN, cơ quan
quản lý nhà nƣớc cũng đạt đƣợc những mục đích nhất định. Tại Việt Nam, ý nghĩa
của ĐKDN thể hiện nhƣ sau:
Đối với doanh nghiệp: ĐKDN có ý nghĩa xác nhận hoặc xác nhận lại địa vị
pháp lý của doanh nghiệp trong các hoạt động kinh doanh. Khi đã đƣợc cơ quan
ĐKKD có thẩm quyền cấp GCNĐKDN (mới hoặc thay đổi), doanh nghiệp đƣợc
tiến hành các hoạt động kinh doanh theo nội dung GCNĐKDN; đƣợc thừa nhận về
tƣ cách doanh nghiệp để thiết lập các quan hệ kinh tế; đƣợc bảo vệ các quyền và lợi
ích theo quy định của pháp luật.
Đối với nhà nƣớc: Một là, thông qua ĐKDN, Nhà nƣớc thực hiện việc quản
lý quá trình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp từ khi thành lập đến giải thể
hoặc phá sản, nhằm ngăn ngừa các hoạt động kinh doanh trái pháp luật, cũng nhƣ để
bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp cho ngƣời lao động và các chủ nợ hoặc con nợ
của họ trong trƣờng hợp doanh nghiệp giải thể hoặc phá sản. Hai là, thông qua
ĐKDN, Nhà nƣớc nắm bắt đƣợc xu hƣớng của thị trƣờng, nắm bắt đƣợc các yếu tố
trong kinh doanh cũng nhƣ hiệu ứng của việc áp dụng các quy định của pháp luật
trong thực tế, để từ đó làm căn cứ đƣa ra các chủ trƣơng, chính sách, biện pháp
khuyến khích hoặc hạn chế phù hợp và kịp thời hơn.
Đối với “bên thứ ba” (khách hàng, đối tác của doanh nghiệp,…) và đối với
xã hội nói chung: ĐKDN không chỉ có ý nghĩa khai sinh doanh nghiệp hay xác
nhận thay đổi nội dung doanh nghiệp đã đăng ký tại cơ quan đăng ký kinh doanh,
mà còn có ý nghĩa cập nhật, lƣu trữ và cung cấp thông tin doanh nghiệp để hỗ trợ
nhu cầu thông tin của các chủ thể trong xã hội. Ví dụ: những đối tác, khách hàng
muốn tìm hiểu thông tin của doanh nghiệp mà họ dự định hợp tác; nhà đầu tƣ muốn
tìm kiếm thông tin doanh nghiệp để xác định năng lực của đơn vị dự thầu; những tổ
chức cung cấp giao dịch bảo đảm, dịch vụ tín dụng cần xác thực thông tin của
doanh nghiệp qua mạng điện tử” là việc người thành lập doanh nghiệp thực hiện
việc đăng ký doanh nghiệp thông qua Cổng thông tin đăng ký doanh nghiệp quốc
gia”. Theo định nghĩa trên, hoạt động đăng ký doanh nghiệp chỉ áp dụng đối với
chủ thể là ngƣời thành lập doanh nghiệp, không áp dụng đối với các trƣờng hợp
thay đổi đăng ký doanh nghiệp.
14
Báo cáo xếp hạng mức độ phát triển internet của 75 quốc gia trên thế giới của Economist, tại:
truy cập ngày
9/3/2017
15
Phát biểu của Cục trƣởng Cục An toàn thông tin (Bộ Thông tin và Truyền thông) Nguyễn Thanh Hải tại Tọa đàm về
công dân số và hƣởng ứng ngày sử dụng an toàn Internet 2017, truy cập ngày 22/2/2017
14
Theo quy định tại Khoản 5, Điều 3 Nghị định 78/2015/NĐ-CP, đăng ký
doanh nghiệp qua mạng điện tử đƣợc định nghĩa là: “việc người thành lập doanh
nghiệp hoặc doanh nghiệp thực hiện việc đăng ký doanh nghiệp thông qua Cổng
thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp”. Nhƣ vậy, chủ thể thực hiện đăng ký
doanh nghiệp qua mạng điện tử không chỉ là ngƣời thành lập doanh nghiệp mà mở
rộng đối với các doanh nghiệp đã đăng ký thành lập, đang trong quá trình hoạt
động. Nói cách khác, đăng ký doanh nghiệp qua mạng điện tử bao gồm: đăng ký
thành lập doanh nghiệp qua mạng điện tử và đăng ký thay đổi nội dung đăng ký
doanh nghiệp qua mạng điện tử. Đây cũng chính là điểm khác biệt và chính xác hơn
về định nghĩa “đăng ký doanh nghiệp qua mạng điện tử” đƣợc quy định tại Nghị
định 78/2015/NĐ-CP so với quy định tại Nghị định 43/2010/NĐ-CP và Thông tƣ
01/2013/TT-BKHĐT đã nêu ở trên.
Đăng ký doanh nghiệp qua mạng điện tử là việc ngƣời thành lập
doanh nghiệp đăng ký thông tin về doanh nghiệp dự kiến thành lập, doanh
nghiệp đăng ký thay đổi nội dung đăng ký doanh nghiệp và các nghĩa vụ
đăng ký, thông báo khác theo quy định pháp luật thông qua Cổng thông tin
điện tử đăng ký doanh nghiệp quốc gia.
Cổng thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp hiện tại của Việt Nam là
.
1.1.2.2.
Đặc điểm của đăng ký doanh nghiệp qua mạng điện tử
Đăng ký doanh nghiệp qua mạng điện tử là xu thế tất yếu của hoạt động đăng
ký doanh nghiệp trên thế giới nói chung và tại Việt Nam nói riêng. Khác với đăng
ký doanh nghiệp trực tiếp, ĐKDN qua mạng điện tử có những đặc điểm nổi bật sau:
Một là, phƣơng thức thực hiện qua mạng điện tử. Đây là đặc điểm nổi bật
nhất, giúp các chủ thể phân biệt ĐKDN qua mạng điện tử và ĐKDN trực tiếp. Cụ
thể, qua Cổng thông tin quốc gia về ĐKDN, ngƣời thành lập doanh nghiệp và các
doanh nghiệp có thể chuẩn bị hồ sơ, nộp hồ sơ ĐKDN mà không cần phải trực tiếp
đến nộp hồ sơ tại bộ phận một cửa của cơ quan ĐKKD. Đồng thời, thông qua mạng
điện tử, cơ quan ĐKKD sẽ tiếp nhận, xem xét xử lý hồ sơ và thông báo kết quả giải
quyết hồ sơ ĐKDN. Hiện nay Cổng thông tin quốc gia về ĐKDN đã hỗ trợ cung
cấp dịch vụ công trực tuyến đến cấp 418. Theo đó, các chủ thể có thể hoàn thành thủ
tục ĐKDN qua mạng điện tử và nhận kết quả tại nhà mà không bắt buộc liên hệ trực
tiếp với cơ quan ĐKKD. Nói cách khác, chủ thể nộp hồ sơ ĐKDN và cán bộ thuộc
cơ quan ĐKKD không tiếp xúc trực tiếp với nhau trong bất kỳ giai đoạn nào của thủ
tục ĐKDN.
18
Dịch vụ công trực tuyến mức độ 4: là dịch vụ công trực tuyến mức độ 3 và cho phép người sử dụng thanh toán lệ phí
nghiệp có hiệu lực thi hành (trƣớc ngày 1/6/2010): Khung pháp lý về ĐKDN qua
mạng điện tử chƣa đƣợc hình thành. Giai đoạn này đƣợc chia thành hai khoảng thời
gian nhƣ sau:
Từ năm 1990 đến trƣớc năm 2007: Nhằm quản lý hoạt động kinh doanh ngày
càng phát triển, văn bản luật đầu tiên về doanh nghiệp đã đƣợc ban hành vào năm
1990, đó là Luật Công ty (hiệu lực từ 15/4/1991) và Luật Doanh nghiệp tƣ nhân
(hiệu lực từ 15/4/1991). Tiếp đó, các văn bản hƣớng dẫn thi hành hai văn bản luật
trên đã ra đời nhằm quy định cụ thể, chi tiết hơn về hoạt động của các doanh nghiệp
nói chung và hoạt động ĐKKD nói riêng. Sau tám năm thi hành, Luật Công ty và
Luật Doanh nghiệp tƣ nhân đã bộc lộ nhiều hạn chế cần đƣợc hoàn thiện. Trƣớc yêu
17
cầu đó, ngày 12/6/1998, Luật Doanh nghiệp đã đƣợc Quốc hội ban hành nhằm khắc
phục những hạn chế của các văn bản pháp luật doanh nghiệp trƣớc đó. Luật Doanh
nghiệp năm 1999 cùng các văn bản hƣớng dẫn thi hành là cơ sở pháp lý vững chắc,
có ý nghĩa quan trọng trong quá trình tạo lập môi trƣờng kinh doanh thông thoáng,
các thành phần kinh tế tƣ nhân phát triển mạnh tại Việt Nam. Tuy nhiên, trƣớc sự
thay đổi và phát triển của kinh tế - xã hội, Quốc hội nhận thấy cần ban hành một
văn bản luật mới thay thế Luật Doanh nghiệp 1999. Đây chính là lý do ra đời của
Luật Doanh nghiệp năm 2005 (bắt đầu có hiệu lực từ 1/7/2006) - đƣợc coi là bƣớc
đột phá về pháp luật doanh nghiệp và khẳng định doanh nghiệp đƣợc kinh doanh
trong những ngành nghề pháp luật không cấm.
Từ năm 2007 đến trƣớc ngày 1/6/2010: đây là khoảng thời gian chuẩn bị để
tiến tới hình thành khung pháp lý về ĐKDN qua mạng điện tử. Biểu hiện đầu tiên là
văn bản quy định về Chƣơng trình cải cách đăng ký kinh doanh quốc gia đƣợc ban
hành và triển khai thực hiện tại Việt Nam. Cụ thể, ngày 30/11/2007, Chính phủ đã
ban hành Nghị quyết số 59/2007/NQ-CP Về một số giải pháp xử lý những vƣớng
mắc trong hoạt động đầu tƣ xây dựng và cải cách một số thủ tục hành chính đối với
cũng chƣa đƣợc hình thành trong giai đoạn này.
Giai đoạn từ thời điểm Nghị định 43/2010/NĐ-CP có hiệu lực thi hành (ngày
1/6/2010) đến trƣớc ngày 1/7/2015 (ngày Luật doanh nghiệp 2014 có hiệu lực thi
hành): Khung pháp lý về ĐKDN qua mạng điện tử đƣợc hình thành và bƣớc đầu áp
dụng trong thực tiễn Việt Nam.
Kết quả của quá trình Dự án “Hỗ trợ kỹ thuật cải cách đăng ký kinh doanh ở
Việt Nam” là môi trƣờng pháp lý liên quan đến ĐKDN đã có nhiều chuyển biến,
điển hình là việc ban hành Nghị định số 43/2010/NĐ-CP ngày 15/4/2010 của Chính
phủ về đăng ký doanh nghiệp và tiếp sau đó là Thông tƣ số 14/2010/TT-BKH
hƣớng dẫn một số nội dung của Nghị định số 43/2010/NĐ-CP đƣợc ban hành vào
ngày 4/6/2010. Lần đầu tiên, định nghĩa về “Hệ thống thông tin đăng ký doanh
nghiệp quốc gia” và “Cổng thông tin đăng ký doanh nghiệp quốc gia” đƣợc pháp
điển hóa trong văn bản pháp luật20. Các nội dung liên quan đến ĐKDN qua mạng
điện tử nhƣ: phƣơng thức thực hiện, trình tự thực hiện,…đƣợc quy định tại Điều 27
Nghị định 43/2010/NĐ-CP và Chƣơng IV Thông tƣ số 14/2010/TT-BKH. Tuy
nhiên các quy định này còn khá khái quát, chƣa cụ thể.
Bên cạnh kết quả về phƣơng diện pháp lý, Dự án “Hỗ trợ kỹ thuật cải cách
đăng ký kinh doanh ở Việt Nam” còn mang lại kết quả trong việc thiết lập cơ sở dữ
liệu quốc gia về ĐKDN. Đến hết năm 2010, Cơ sở dữ liệu quốc gia về ĐKDN đã cơ
bản hoàn thiện, trở thành kho dữ liệu chứa đựng thông tin của hơn 800 nghìn doanh
20
Khoản 3, Khoản 4 Điều 3 Nghị định 43/2010/NĐ-CP