VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
TRẦN THỊ NHÂM
KIỂM SÁT KHÁM NGHIỆM HIỆN TRƯỜNG VỤ ÁN VỀ
VI PHẠM QUY ĐỊNH VỀ THAM GIA GIAO THÔNG
ĐƯỜNG BỘ TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Ngành: Luật hình sự và tố tụng hình sự Mã
số: 60.38.01.04
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HÌNH SỰ VÀ TỐ TỤNG HÌNH SỰ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. TRẦN NGỌC HƯƠNG
HÀ NỘI - 2018
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BLHS
BCA
:
BLTTHS
:
:
Thực hành quyền công tố
Vụ án hình sự
VKS
:
Viện kiểm sát
VKSND
: Viện kiểm sát nhân dân
VKSNDTC
:
Bộ luật hình sự
: Bộ công an
Viện kiểm sát nhân dân tối cao
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm gần đây, tình hình tai nạn giao thông đường bộ diễn biến
phức tạp theo chiều hướng gia tăng, trong đó có nhiều vụ vi phạm nghiêm trọng Luật
không thể khắc phục được, thực tế nhiều vụ án phải sửa, huỷ không xử lý được.
Trong điều kiện cải cách tư pháp hiện nay, các Nghị quyết của Đảng nhấn
mạnh đến vai trò, trách nhiệm của Viện kiểm sát đối với hoạt động điều tra trong đó
có hoạt động khám nghiệm hiện trường. Nghị quyết số 08 ngày 02/01/2002 của Bộ
Chính trị về: “Một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới” đã
chỉ rõ: Viện kiểm sát phải thực hành quyền công tố ngay từ khi khởi tố vụ án và trong
suốt quá trình điều tra nhằm không bỏ lọt người, lọt tội phạm, không làm oan người
vô tội [5]/Nghị quyết số 49 ngày 02/06/2005 của Bộ chính trị về: “Chiến lược cải
cách tư pháp đến năm 2020” đã nêu: Tăng cường trách nhiệm công tố trong hoạt
động điều tra [3]; Văn kiện Đại hội X của Đảng đã khẳng định: Phải xây dựng cơ
chế công tố gắn với hoạt động điều tra. Hoạt động kiểm sát khám nghiệm hiện
trường nói chung và kiểm sát khám nghiệm hiện trường các vụ tai nạn giao thông
đường bộ nói riêng là một trong những nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của Viện
kiểm sát. Do vậy, cần nghiên cứu, đổi mới nhằm nâng cao chất lượng hiệu quả của
công tác này.
Để làm tốt công tác kiểm sát khám nghiệm hiện trường nói chung và kiểm sát
khám nghiệm hiện trường các vụ tai nạn giao thông nói riêng, Kiểm sát viên phải
nhận thức đúng vai trò, nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của mình trong hoạt
động kiểm sát việc khám nghiệm hiện trường cũng như nắm vững các quy định của
pháp luật về trình tự, thủ tục, quy trình khi tiến hành khám nghiệm hiện trường, có
những hiểu biết cơ bản, nâng cao về các biện pháp nghiệp vụ sẽ được sử dụng trong
quá trình khám nghiệm đáp ứng các yêu cầu nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động
khám nghiệm hiện trường.
4
Vì các lý do trên, tôi đã lựa chọn đề tài “Kiểm sát khám nghiệm hiện
trường vụ án về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ từ thực tiễn
thành phố Hà Nội" làm luận văn thạc sỹ của mình nhằm làm rõ hơn về lý luận cũng
Mục đích của đề tài là nghiên cứu một cách có hệ thống những quy định của
pháp luật về công tác kiểm sát việc khám nghiệm hiện trường trong giải quyết các vụ
án về vi phạm quy định tham gia giao thông đường bộ từ thực tiễn trên địa bàn thành
phố Hà Nội.
Trên cơ sở đó đưa ra những giải pháp, kiến nghị nhằm bổ sung, hoàn thiện
các quy định của pháp luật về công tác kiểm sát việc khám nghiệm hiện trường trong
giải quyết các vụ án về vi phạm quy định tham gia giao thông đường bộ từ thực tiễn
trên địa bàn thành phố Hà Nội.
3.2. Nhiệm vụ
Để đạt được mục đích nêu trên, luận văn có nhiệm vụ sau đây:
- Nghiên cứu những vấn đề lý luận về công tác khám nghiệm hiện trường và
công tác kiểm sát việc khám nghiệm hiện trường trong giải quyết các vụ án về vi
phạm quy định tham gia giao thông đường bộ từ thực tiễn trên địa bàn thành phố Hà
Nội.
- Đánh giá đúng thực trạng của công tác kiểm sát việc khám nghiệm hiện
trường từ đó chỉ ra được những ưu điểm, hạn chế, tồn tại, tìm ra nguyên nhân của
những hạn chế, tồn tại để đề xuất một số giải pháp, kiến nghị nhằm nâng cao hiệu
quả công tác kiểm sát việc khám nghiệm hiện trường trong giải quyết các vụ án về vi
phạm quy định tham gia giao thông đường bộ từ thực tiễn trên địa bàn thành phố Hà
Nội.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Thực trạng và giải pháp nâng cao chất lượng công tác kiểm sát việc khám
nghiệm hiện trường trong giải quyết các vụ án về vi phạm quy định tham gia giao
thông đường bộ từ thực tiễn trên địa bàn thành phố Hà Nội.
7
4.2. Phạm vi nghiên cứu
tại các Viện kiểm sát nhân dân.
7. Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung
của luận văn gồm 03 chương:
Chương 1. Lý luận chung về công tác khám nghiệm hiện trường và công tác
kiểm sát việc khám nghiệm hiện trường vụ án về vi phạm quy định về tham gia giao
thông đường bộ.
Chương 2. Thực trạng công tác kiểm sát việc khám nghiệm hiện trường vụ án
về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ từ thực tiễn thành phố Hà
Nội.
Chương 3.Các giải pháp nâng cao chất lượng công tác kiểm sát việc
khám nghiệm hiện trường vụ án về vi phạm quy định về tham gia giao
thông đường bộ từ thực tiễn thành phố Hà Nội trong thời gian tới
9
Chương 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ CÔNG TÁC KHÁM NGHIỆM HIỆN TRƯỜNG VÀ
CÔNG TÁC KIỂM SÁT VIỆC KHÁM NGHIỆM HIỆN TRƯỜNG
1.1. Lý luận chung về công tác khám nghiệm hiện trường
1.1.1.
Khái niệm hiện trường, khái niệm khám nghiệm hiện trường và
phân loại hiện trường
1.1.1.1.
Khái niệm hiện trường, khái niệm khám nghiệm hiện trường
điện tử khác liên quan và làm sáng tỏ những tình tiết có ý nghĩa đối với việc giải
quyết vụ án”. [11]
Với quy định trên có thể hiểu hiện trường là nơi xảy ra hành vi tội phạm hoặc
là nơi phát hiện tội phạm. Khái niệm này chỉ ra rằng: Hiện trường là “nơi” tức là
phải có một địa điểm nhất định trong một không gian và thời gian nhất định. Tại
“nơi” đó có chứa đựng các dấu vết, vật chứng của tội phạm hoặc liên quan đến tội
phạm. Khái niệm này đã rơi vào nhận định chủ quan rằng: vụ việc xảy ra ở hiện
trường phải là tội phạm, tức là phải thỏa mãn các quy định về tội phạm của Bộ luật
Hình sự.Trong thực tiễn, nhiều vụ việc xảy ra Điều tra viên chưa có đủ thông tin ban
đầu để xác định được tính chất, mức độ của vụ việc nên chưa thể khẳng định được
đâu là hiện trường xảy ra tội phạm hoặc đó có phải là nơi phát hiện ra tội phạm hay
không.Việc xác định vụ việc xảy ra có phải là tội phạm hay không chủ yếu dựa vào
kết quả của quá trình khám nghiệm hiện trường. Ví dụ: Tại một hiện trường có tử thi
phải trải qua công tác khám nghiệm hiện trường mới xác định được nguyên nhân ban
đầu về cái chết và chỉ khi xác định được nguyên nhân của cái chết là do hành vi giết
người gây nên thì mới có căn cứ để khởi tố vụ án hình sự.
Khái niệm hiệm trường trong Khoa học hình sự có nội dung rộng hơn trong
BLTTHS, cụ thể là: “Hiện trường là nơi xảy ra, nơi phát hiện sự việc mang tính
hình sụ”[12]. Khái niệm này mang tính khái quát cao và đảm bảo tính khách quan.
Trước hết, phải xác định hiện trường là “nơi” xảy ra, “nơi” phát hiện sự việc mang
tính chất hình sự tức là nó phải gắn với một địa điểm với một khoảng không gian
nhất định. Với quan điểm này, khái niệm hiện trường vừa mang tính khái quát của
hiện trường nói chung là “nơi xảy ra sự việc”, vừa thể hiện được đặc điểm đặc trưng
riêng của hiện trường trong khoa học điều tra hình sự là “sự việc mang tính hình sự”.
Khái niệm này cũng khắc phục được hạn chế của khái niệm hiện trường được nêu
trong Bộ luật Tố tụng hình sự.
Nếu đứng trên góc độ triết học để nghiên cứu, xem xét về bản chất của khái
niệm hiện trường, thì tự trong bản thân của khái niệm hiện trường, nó đã chỉ ra hình
theo trình tự thủ tục đã quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự.
Vậy có thể nêu khái niệm khám nghiệm hiện trường như sau: Khám
nghiệm hiện trường là biện pháp điều tra được tiến hành tại hiện trường nhằm
phát hiện, ghi nhận, thu lượm, bảo quản, nghiên cứu, đánh giá dấu vết, vật
chứng và những tin tức, tài liệu có liên quan trực tiếp tại hiện trường của các vụ
phạm tội hoặc vụ việc có tính hình sự đã xảy ra phục vụ cho điều tra, xử lý tội
phạm.
Phân loại hiện trường
Trong qua trình điều tra một vụ án hình sự, việc phân loại hiện trường có ý
nghĩa quan trọng giúp hoạt động điều tra tại hiện trường được tiến hành một cách
nhanh chóng và chính xác. Có thể phân loại hiện trường dựa vào những căn cứ sau
đây:
- Căn cứ vào nội dung, tính chất vụ việc mang tính hình sự có thể phân thành
những loại hiện trường sau:
+ Hiện trường có người chết;
+ Hiện trường trộm cắp tài sản;
+ Hiện trường cháy nổ;
+ Hiện trường cướp tài sản;
+ Hiện trường sự cố kỹ thuật;
+ Hiện trường hiếp dâm;
+ Hiện trường tai nạn (giao thông, lao đ ộ n g . . .
Phân loại hiện trường theo cách này giúp CQĐT xác định được nơi và loại
dấu vết tồn tại trên hiện trường cũng như xác định được những loại dấu vết nào cần
được phát hiện và thu luợm, đồng thời giúp cho công việc thống kê tội phạm được
nhanh chóng. Dấu vết bao giờ cũng được hình thành theo quy luật nhất định phù hợp
với tính chất của sự việc xảy ra, chẳng hạn khi CQĐT xác định hiện trường một vụ
án mạng mà nạn nhân bị tử vong do bị trúng đạn thì dấu vết cần phải tìm kiếm là vỏ
đạn rơi lại tại hiện trường... hay hiện trường của các vụ trộm thường có các dấu vết
+ Hiện trường trên các phương tiện giao thông.
Các vụ việc hình sự thường xảy ra hết sức phong phú, đa dạng nên việc phân
loại hiện trường chỉ mang tính tương đối.Việc phân loại hiện trường có ý nghĩa trong
việc chủ động lực lượng, phương tiện bảo vệ và khám nghiệm.Đồng thời, giúp cho
quá trình khám nghiệm hiện trường được nhanh chóng, chính xác, kịp thời và cũng
là cơ sở để các cơ quan nghiên cứu tiến hành thống kê hình sự tìm ra quy luật vận
động của các loại vụ việc hình sự trong các thời gian khác nhau.
1.1.2.
Cơ sởpháp lý và nhiệm vụ của công tác khám nghiệm hiện trường
1.1.2.1.Cơ sở pháp lý của công tác khám nhiệm hiện trường
Công tác khám nghiệm hiện trường được hiểu là việc cơ quan điều tra tổ
chức, lực lượng phương tiện tiếp cận hiện trường, tiến hành hoạt động khám nghiệm
theo trình tự thủ tục đã quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự.
Để công tác khám nghiệm hiện trường đạt kết quả, đáp ứng yêu cầu hoạt
động điều tra và yêu cầu pháp lý, công tác khám nghiệm hiện trường phải dựa trên
những cơ sở pháp lý nhất định. Cơ sở pháp lý của công tác khám nghiệm hiện trường
là các điều khoản được quy định trong BLTTHS; Luật tổ chức Cơ quan điều tra hình
sự; Chỉ thị số 02/CT-BCA ngày 6/2/2001 của Bộ trưởng Bộ Công an về việc tăng
cường công tác khám nghiệm hiện trường. Quyết định số 57/QĐ-BCA ngày 6/2/2001
của Bộ trưởng Bộ Công an kèm theo Quy chế phân công trách nhiệm giữa các lực
lượng Công an nhân dân trong công tác khám nghiệm hiện trường. Ngoài những quy
định chung, khi khám nghiệm hiện trường tai nạn giao thông đường bộ còn phải căn
cứ vào Quy trình điều tra, giải quyết tai nạn giao thông đường bộ - ban hành kèm
theo Quyết định số 18/2007/QĐ-BCA (C11) ngày 05/01/2007. Từ những cơ sở pháp
lý nêu trên có thể khái quát những quy định về công tác khám nghiệm hiện trường
như sau:
Hai là, điều tra thu thập, phân tích các thông tin có liên quan đến hiện trường
có giá trị giúp cho việc đánh giá hiện trường và đề ra chiến thuật điều tra.
Ba là, sử dụng các phương pháp, phương tiện kỹ thuật hình sự để phát hiện và
thu lượm, bảo quản các dấu vết, vật chứng có tại hiện trường.
Bốn là, nghiên cứu, đánh giá toàn bộ các vật chứng, dấu vết thu lượm được để
đề ra phương hướng điều tra tiếp theo.
Năm là, lập và hoàn chỉnh hồ sơ khám nghiệm hiện trường.
Sáu là, phát hiện những sơ hở, thiếu sót, từ đó nghiên cứu, phát hiện những
phương thức thủ đoạn gây án mới của bọn tội phạm, đề xuất các biện pháp phòng
ngừa, ngăn chặn một cách tích cực và đấu tranh có hiệu quả với tội phạm.
1.1.3. Phương pháp khám nghiệm hiện trường
Trong quá trình khám nghiệm hiện trường, việc sử dụng hợp lý các phương
pháp khám nghiệm hiện trường có ý nghĩa rất quan trọng, nó giúp cho việc phát hiện
thu thập dấu vết, vật chứng được nhanh chóng, chính xác và triệt để hơn. Không
những thế việc lựa chọn phương pháp khám nghiệm hiện trường một cách hợp lý
giúp cho việc tổ chức lực lượng và áp dụng trình tự thực hiện các công việc khám
nghiệm được khoa học hơn, triệt để hơn.
Chính vì vậy khi tiến hành khám nghiệm hiện trường cần phải nắm được các
đặc điểm của từng hiện trường cụ thể, loại hiện trường cần khám nghiệm, mục đích,
yêu cầu và nhiệm vụ của quá trình khám nghiệm, lực lượng và phương tiện để lựa
chọn phương pháp khám nghiệm phù hợp. Quá trình khám nghiệm hiện trường
thường được tiến hành theo các phương pháp phổ biến sau đây:
1.1.31. Phương pháp khám nghiệm hiện trường theo khu vực (Phương pháp
chia ô)
Phương pháp này được tiến hành bằng cách chia hiện trường ra thành nhiều
khu vực, nhiều ô khác nhau và khám nghiệm từng khu vực, từng ô đó. Có thể tiến
hành khám nghiệm lần lượt từng khu vực một hoặc tiến hành đồng loạt cùng lúc
nhiều khu vực tùy vào điều kiện lực lượng tham gia khám nghiệm.
được áp dụng đối với hiện trường trộm cắp tài sản, cháy, có tử thi.. .Ưu điểm của
phương pháp khám nghiệm hiện trường này là sử dụng hợp lý lực lượng, phương
pháp và phương tiện khám nghiệm; giúp cho quá trình phát hiện và thu thập dấu vết,
vật chứng được dễ dàng nhất là các dấu vết ẩn, dấu vết nhỏ và xác định giá trị của
những dấu vết, vật chứng đã thu thập được. Tuy nhiên, phương pháp khám nghiệm
này cũng có hạn chế là quá trình khám nghiệm thiếu tỉ mỉ, dễ bỏ sót dấu vết, vật
chứng ở những khu vực khác được nhận định không phải là nơi tội phạm thực hiện
hành vi phạm tội.
11.3.3. Phương pháp khám nghiệm hiện trường theo hình xoáy ốc
Đây là phương pháp được tiến hành khám nghiệm từ ngoài vào trung tâm
hoặc từ trung tâm ra ngoài theo hình xoáy ốc, có thể tiến hành theo chiều kim đồng
hồ hoặc chiều ngược lại. Phương pháp này thường được sử dụng để khám nghiệm
những hiện trường rộng ở ngoài trời và những hiện trường đã xác định được vùng
trung tâm.Ví dụ: Đối với hiện trường tai nạn giao thông bao giờ cũng tiến hành khám
nghiệm dấu vết bắt đầu từ tử thi sau đó đến các nơi khác.
Ưu điểm của phương pháp này là toàn bộ hiện trường được khám nghiệm có
hệ thống, có thể phát hiện được hầu hết các dấu vết, vật chứng ở hiện trường.
1.1.3.4. Phương pháp khám nghiệm hiện trường theo đường thẳng song song
Phương pháp này còn được gọi là phương pháp khám nghiệm cuốn chiếu,
khám nghiệm theo hình bừa ruộng, phương pháp khám nghiệm hình răng lược.
Phương pháp này được thực hiện theo một trình tự lần lượt từ đầu đến cuối hiện
trường theo một trình tự thống nhất. Trên tực tế thường áp dụng phương pháp này để
khám nghiệm hiện trường có chiều ngang không rộng, có thể bố trí được các cán bộ
khám nghiệm dàn hết mặt bằng từ đầu này đến đầu kia của hiện trường.
Phương pháp này có ưu điểm là toàn bộ diện tích của hiện trường được khám
nghiệm có hệ thống, tỷ mỉ, có thể tiến hành từ ngoài vào trong hoặc từ trong ra ngoài
tùy thuộc vào từng loại hiện trường cụ thể trong từng tình huống cụ thể. Hạn chế của
phương pháp này cũng như các phương pháp khám nghiệm hiện trường theo hình
không có hành vi phạm tội xảy ra, ai là người thực hiện hành vi đó.
* Cơ sở pháp lý
Theo quy định của Luật Tổ chức VKSND năm 2014; Điều 166 BLTTHS năm
2015 thì Viện kiểm sát có nhiệm vụ và quyền hạn kiểm sát các hoạt động điều tra của
CQĐT. Theo quy định tại Điều 201 và Điều 202 BLTTHS thì trong mọi trường hợp
việc khám nghiệm hiện trường, Điều tra viên phải thông báo cho Viện kiểm sát cùng
cấp biết, Kiểm sát viên phải có mặt để kiểm sát việc khám nghiệm.
Theo quy định tại Quy chế THQCT và KSĐT, Viện trưởng, Phó Viện trưởng
hoặc Lãnh đạo đơn vị kiểm sát điều tra phân công Kiểm sát viên kiểm sát việc khám
nghiệm hiện trường đối với tất cả các vụ việc mà Cơ quan điều tra tiến hành khám
nghiệm. Đối với những vụ án gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng, những vụ án giết
người không quả tang hoặc những vụ án phức tạp thì Viện trưởng, Phó Viện trưởng
trực tiếp hoặc cùng Kiểm sát viên kiểm sát việc khám nghiệm hiện trường.
1.2.2.
Đối tượng, phạm vi của công tác kiểm sát việc khám nghiệm hiện
trường
* Đối tượng của công tác kiểm sát việc khám nghiệm hiện trường
Đối tượng của kiểm sát việc khám nghiệm hiện trường là việc tuân theo pháp
luật của các thành viên trong Hội đồng khám nghiệm và những người có liên quan
đến việc khám nghiệm hiện trường bao gồm: Hoạt động khám nghiệm của Điều tra
viên, giám định viên, kỹ thuật viên và những người có liên quan đến việc khám
nghiệm hiện trường như người làm chứng, người chứng kiến, người bị hại, bị can,
lực lượng bảo vệ hiện trường, lực lượng sơ vấn về các thông tin liên quan đến hiện
trường.
* Phạm vi của công tác kiểm sát việc khám nghiệm hiện trường.
Phạm vi kiểm sát khám nghiệm hiện trường bắt đầu từ khi nhận được tin
Kiểm sát việc khám nghiệm hiện trường là để thu giữ đầy đủ những
dấu vết, vật chứng, những thông tin có được từ hiện trường; xác định nội dung, tính
chất của vụ việc xảy ra, phương thức, thủ đoạn thực hiện tội phạm, thời gian xảy ra,
số lượng người thực hiện tội phạm, nguyên nhân, điều kiện phạm tội...; giúp Kiểm
sát viên nắm được diễn biến, tính chất của vụ việc; xác định có hay không có hành vi
phạm tội xảy ra, ai là người thực hiện tội phạm, không để lọt tội phạm, không làm
oan, sai, nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm; kết quả của
hoạt động kiểm sát việc khám nghiệm hiện trường là căn cứ để Kiểm sát viên báo
cáo đề xuất với lãnh đạo
Viện xem xét phê chuẩn các quyết định của Cơ quan điều tra.
1.2.4.
Các hoạt động kiểm sát việc khám nghiệm hiện trường
Hoạt động kiểm sát việc khám nghiệm hiện trường chủ yếu được thể hiện qua
các hoạt động của Kiểm sát viên tại hiện trường, các hoạt động đó bao gồm: Hoạt
động của Kiểm sát viên trước khi kiểm sát việc khám nghiệm hiện trường; Hoạt
động của Kiểm sát viên khi đến hiện trường, trước khi Hội đồng tiến hành khám
nghiệm; Hoạt động của Kiểm sát viên trong quá trình kiểm sát việc khám nghiệm
hiện trường; Hoạt động của Kiểm sát viên sau khi kết thúc kiểm sát việc khám
nghiệm hiện trường. Việc phân hoạt động kiểm sát việc khám nghiệm hiện trường ra
thành nhiều giai đoạn như vậy nhằm mục đích đề ra yêu cầu cụ thể cho từng giai
đoạn mà Kiểm sát viên phải đảm bảo thực hiện để hoạt động kiểm sát việc khám
nghiệm hiện trường đạt hiệu quả. Nội dung của các hoạt động đó được thể như sau:
1.2.4.1. Hoạt động của Kiểm sát viên trước khi kiểm sát việc khám nghiệm
hiện trường
Trước khi khám nghiệm hiện trường, Kiểm sat viên phải chủ động nắm tình
CQĐT thông báo sơ bộ ban đầu về sự việc và kế hoạch khám nghiệm, sau đó kịp
thời báo với lãnh đạo Viện để phân công Kiểm sát viên kiểm sát việc khám nghiệm
hiện trường. Kiểm sát viên được phân công kiểm sát việc khám nghiệm hiện trường
phải kịp thời phối hợp với CQĐT xác định thành phần tham gia khám nghiệm, người
chủ trì khám nghiệm, công cụ, phương tiện phục vụ cho công tác khám nghiệm.
Chuẩn bị các phương tiện, dụng cụ kỹ thuật cần thiết như: Máy ảnh, máy ghi âm,
máy ghi hình, sổ tay, giấy bút... để trong trường hợp cần thiết, Kiểm sát viên có thể
chụp ảnh, vẽ sơ đồ, mô tả hiện trường, xem xét tại chỗ dấu vết, đồ vật, tài liệu có liên
quan đến vụ án, lấy lời khai và ghi âm lời khai của người làm chứng, người bị
hại,... Những tài liệu này được lưu trong hồ sơ kiểm sát.
I.2.4.2. Hoạt động của Kiểm sát viên khi đến hiện trường, trước khi Hội
đồng tiến hành khám nghiệm
Khi Hội đồng khám nghiệm đến hiện trường, trước khi khám nghiệm Kiểm
sát viên phải tiến hành các hoạt động sau đây:
- Kiểm sát thành phần tham gia khám nghiệm hiện trường theo qui định tại
các Điều 201, Điều 202 BLTTHS. Thành phần tham gia khám nghiệm hiện trường
phụ thuộc vào từng loại hiện trường cụ thể, tính chất của vụ việc xảy ra. Thông
thường, thành phần Hội đồng khám nghiệm hiện trường gồm có: Điều tra viên được
giao nhiệm vụ chủ trì khám nghiệm; Điều tra viên tiến hành khám nghiệm hiện
trường; lấy dấu vết, thu thập vật chứng; các cán bộ kỹ thuật hình sự (chụp ảnh hiện
trường; vẽ sơ đồ hiện trường; lập biên bản khám nghiệm hiện trường...); Kiểm sát
viên kiểm sát việc khám nghiệm hiện trường theo quy định của pháp luật; người
chứng kiến (cần chú ý lựa chọn, để tránh trường hợp họ là người đã thực hiện hành